Hôm nay,  

Cuối năm đọc thơ, xem tranh với: Viết bên dòng Potomac 1975-2025

21/12/202507:00:00(Xem: 1494)
blank

Cuối năm đọc thơ, xem tranh với:

Viết bên dòng Potomac 1975-2025
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế.  Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi. Và nhiều nữa. Bây giờ California chớm lạnh rồi, hẳn là Miền Đông đang lạnh gay gắt.

Do vậy, mỗi lần mở ra xem tuyển tập các sáng tác thơ, văn, họa của các văn nghệ sĩ đang ở bên dòng sông Potomac, nơi giáp biên thủ đô và hai tiểu bang Virginia, Maryland, những trận mưa tuyết lại rơi rất nhẹ bao phủ bầu trời ký ức. Những hàng cây hoa anh đào đứng kiên nhẫn ở thù đô.  

"Viết bên dòng Potomac" là tên một tuyển tập văn học đặc biệt gồm 2 tập, tập hợp các tác phẩm của 86 tác giả người Việt định cư tại vùng lân cận và  thủ đô Washington D.C. (quanh dòng sông Potomac, Hoa Kỳ), kỷ niệm 50 năm người Việt hải ngoại (1975-2025), thể hiện sự đa dạng về hoàn cảnh và nghiệp văn của cộng đồng người Việt tại đây. Sách đang lưu hành ở mạng Lulu.
 
blank

Có một bài thơ trong tuyển tập mà tôi đã đọc nhiều thập niên, và bây giờ thỉnh thoảng vẫn mở ra đọc lại. Đó là bài "Trời Mưa Đi Phát Báo" của Giang Hữu Tuyên (1949-2004), người có thân hình không được khắc khổ gầy gò như chúng ta thường thấy ở nhiều nhà thơ ở quê nhà. Anh Giang Hữu Tuyên và nhà báo Ngô Vương Toại (1947-2014) có nhiều năm đi bên nhau sát cánh, để giúp Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trong nhiều sinh hoạt văn nghệ, cộng đồng, và dĩ nhiên, đòi hỏi nhân quyền cho đồng bào quê nhà. Bây giờ tôi đã vào tuổi cổ lai hy được vài năm, với mắt đã lòa và tai đã lãng, vẫn luôn luôn kinh ngạc khi nhớ rằng những người cực kỳ thơ mộng như hai anh Tuyên và Toại lại không ở lâu trong cõi đời này. Giang Hữu Tuyên ra đi năm 55 tuổi, anh Toại ra đi năm 67 tuổi.

Anh Giang Hữu Tuyên ưa đọc thơ cho "hậu bối" (là tôi) khi có dịp. Anh Tuyên thường có những cao hứng như thế. Tôi còn nhớ mấy dòng trong bài thơ “Về giòng sông Trẹm” anh Giang Hữu Tuyên ưa đọc:
 

Chinh chiến người đi như lá mục

Giòng sông kia nước đỏ thêm hoài

Máu ai chảy từ bao năm trước

Mà nối không liền được đất đai.

Thơ anh rất buồn. Khi nhắc tới hai anh Tuyên và Toại, tôi luôn luôn nhớ tới GS Nguyễn Ngọc Bích, người có nhiều năm giữ chức Giám Đốc Đải RFA và từ trần trên một chuyến bay sang nước Úc. Ra đi ngay trên bầu trời, giữa các vầng mây. Có phải các cõi trời chờ sẵn trên mây để đón giáo sư Bích? Những buổi sinh hoạt dù văn nghệ hay cộng đồng của các anh Bích-Tuyên-Toại gần như luôn luôn có mặt nhà giáo Nguyễn Văn Khanh (về sau, là nhà truyền thông của Đài RFA và bây giờ là bình luận gia của báo Người Việt), nhà khoa học Trương Hồng Sơn (người nhiều năm sau nổi tiếng như một nhà văn và họa sĩ Trương Vũ), nhà thơ Trương Anh Thụy (người có văn phong thơ rất mực cổ kính), đôi khi có mặt nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình.
 blank

Ký ức những trận mưa tuyết Virginia trong tôi cũng hiện ra họa sĩ Ngọc Dũng, người không có mặt nhiều với cộng đồng vì bận công việc trong tòa soạn báo Mỹ; rồi mơ hồ nhớ tới nhà báo Lê Thiệp khi anh tới Miền Đông mở tiệm phở... Tuyệt vời thơ mộng ở Miền Đông cũng là nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhạc sĩ Hoàng Xuân Giang, nhà văn Hồ Đình Nghiêm... khi tôi lái xe qua thăm bạn học là nhà thơ Lưu Nguyễn. Và những buổi lang thang hiếm hoi ở New York với họa sĩ Nguyễn Quỳnh, người khi sang Mỹ đi học lại và lấy 2 bằng Tiến sĩ (mà một chuyên ngành rất phức tạp, hình như là triết học về mỹ thuật, buộc phải học thêm tiếng Đức...) và bây giờ anh Quỳnh đã về dạy ở một đại học San Antonio (Texas) từ lâu. Tôi còn nhớ một lần bị cảnh sát ghi giấy phạt vì đậu xe ẩu dưới khu chung cư anh Quỳnh.
blank
 

Nơi đây, nhân dịp cuối năm, xin trích đăng một số bài thơ trong tuyển tập "Viết bên dòng Potomac" để cho tròn 50 năm Miền Nam sụp đổ. Lựa chọn phần lớn sẽ là tình cờ. Sẽ xen kẽ với vài tranh chụp lại từ Tuyển Tập.

.

.... o ....

Bài dưới đây là của Giang Hữu Tuyên.

 

TRỜI MƯA ĐI PHÁT BÁO

Chiều ngã năm đường năm bẩy ngã

Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi

Bao mùa mưa đã im giông bão

Sao nước trường giang vẫn khứ hồi

 

Mười mấy năm làm tên phát báo

Lòng buồn theo thành quách xa xưa

Những trang tin dội từ quá khứ

Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa

 

Mưa lót ngót, đời loi ngoi mãi

Sáng chưa đi, chiều lại mưa về

Mưa ngã năm từ năm bẩy ngã

Ngã nào cũng mưa và mưa thôi

 

Xấp báo trên tay vừa ướt hết

Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay

Hình như những mùa mưa thuở trước

Đang về làm ướt trái tim ai.

-- GIANG HỮU TUYÊN (Viết Bên Dòng Potomac I, trang 146)

 

.... o ....
 

Bài thơ dưới đây của Hoàng Hải Thủy.

 

ĐỌC THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay.

Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.

Anh vẫn Hoàng Chương, vàng với ngọc,

Trần ai nào lấm được trời mây.

Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc,

Tàn lửa hồng hoang, khói mái tây.

Chín ngục A Tỳ ma sửa mũ,

Mười tầng địa phủ quỉ cung tay.

Cười vang một tiếng tan tinh đẩu,

Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay.

-- HOÀNG HẢI THỦY (1933-2020) (VBDP 1, tr. 167)

 

.... o ....

 blank

Bài thơ dưới đây của Phạm Cao Hoàng.

 

KHI DỪNG LẠI BÊN DÒNG POTOMAC

khi dừng lại bên dòng Potomac

em bên tôi vẫn rất dịu dàng

gió lồng lộng cả một trời Đông Bắc

tóc em bay trong nắng thu vàng

  

và như thế mình đi và đã đến

mình đã tìm và gặp được dòng sông

tôi ngồi xuống để nghe sông hát

và đứng lên ôm lấy mặt trời hồng

  

và như thế mình đi và đã đến

đã bên nhau thủy tận sơn cùng

tôi nằm xuống để nghe đất thở

tạ ơn đời độ lượng bao dung

  

khi dừng lại bên dòng Potomac

tôi và em nhìn lại quê nhà

buồn hiu hắt thương về chốn cũ

phía chân trời đã mịt mù xa

-- PHẠM CAO HOÀNG (VBDP II, tr. 106-107)

 

.... o ....
 

Bài thơ dưới đây của Trần Hoài Thư.

 

ĐÊM TỪ BIỆT VIỆT NAM

Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn

Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam

Việt Nam. Đêm ấy đêm trừ tịch

Có những con người lại cách ngăn

  

Chào những đường thân, những lối quen

Những hàng cây rũ lá bên thềm

Chào cây cầu đá qua thành phố

Chào những bờ hiên, những cột đèn

  

Chào ai, lầm lũi trong đêm lạnh

Cơn gió giao mùa chớm lá xuân

Người về cho kịp đêm đoàn tụ

Ai lại lên đường. Ai lặng câm

  

Vẫn biết lần đi là bỏ hết

Là phủi tay. Cháy túi. Sạch trơn

Quay nhìn lại: Em còn bóng nhỏ

Ngọn đèn vàng lạnh một dòng sông

  

Về đi. Em nhớ đừng ôm mặt

Rồi thắp giùm anh một nén nhang

Con có hỏi anh. Em hãy chỉ

Mây dịu dàng trôi giữa mênh mông

  

Về đi để tiếp đời cô phụ

Tiếp mảnh hồn khô héo nhớ nhung

Mai mồng Một, cắn răng đừng nấc

May cuộc đời tươi đẹp mùa xuân

  

Về đi để trả bài ma quỉ

Những đau thương câm nín chất chồng

Em hãy lấy ngày này giỗ kỵ

Một ngày nào chim đã bặt tăm

 

Về đi, kẻo máy tàu đã nổ

Như những người ôm ngực con tim

Trong khoang chật, nghe chừng nín thở

Anh hùng đâu. Một nỗi lặng thinh

  

Gió trừ tịch hú dài Bãi Giá

Đập mạn thuyền, sóng vỗ buồn tênh

Đêm vượt thoát ai ngồi nín thở

Cả quê nhà, mờ nhạt hai bên

  

Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn

Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam

Việt Nam. Một vệt mờ xa thẳm

Một chút rưng rưng bật xé lòng

  

Việt Nam. Tối quá, không đèn lửa

Ta ở trên thuyền ngực vỡ toang

Một nỗi buồn như đông đặc lại

Một nỗi vui oà vỡ cả hồn

  

Là lúc biết mình như thoát nạn

Sáng chân trời, hồng rực vầng dương

Là lúc, thấy mình như bất hạnh

Sắp làm người không có quê hương

 

Là lúc lòng dửng dưng chờ đợi

Nỗi dửng dưng buồn bã lạ lùng

Như thể trong một trời chuyển động

Một giọt sương cô độc tận cùng.

-- TRẦN HOÀI THƯ (1942-2024) (VBDP II, tr. 393-394)

 

.... o ....
 blank

blank
Bài thơ dưới đây của Đinh Cường.
 

ĐOẠN GHI SAU NGÀY TUYẾT BẤT NGỜ

đường trơn

tuyết đọng chưa tan

đi qua con suối

đóng băng mấy tầng

rừng như đứng

chịu tang chung

giải khăn trắng tuyết

phủ choàng nhánh khô

   

còi tàu hụ

nhớ giang hồ

lên ga khuya lạnh

gió mờ mịt xa

Sông Mao qua

đến ga Truồi

than bay đốm sáng

tàu xuôi mấy chiều

  

người đi

bóng đổ liêu xiêu

đường trơn

tuyết đọng

đìu hiu

Tết rồi ...

-- ĐINH CƯỜNG (1939-2016). Virginia, Jan. 9, 2012 (VBDP I, tr. 66)

 

Tuyển tập Viết Bên Dòng Potomac Tập I & Tập II hiện đã lưu hành trên mạng. Tìm mua sách, xin vào:

https://www.lulu.com/shop   

gõ chữ "viet ben dong potomac"

blank

blank
Hoặc liên lạc mua sách qua Email: [email protected]

Điện thoại: (703) 608-8001.

Địa chỉ:

7217 Belinger Ct., Springfield, VA 22150.

ẤN PHÍ: 70 USD

Cho 1 bộ (gồm 2 cuốn có hộp cover + cước phí)

.

 

 





Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ca khúc “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến là một hiệu quả đồng cảm với bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu. Cả hai là sự đồng cảm với câu chuyện Bến Tầm Dương của nhà thơ Bạch Cư Dị. Chuyện Bến Tầm Dương nơi Bạch Cư Dị gặp gỡ một kỹ nữ cao niên. Ông nghe bà đàn hát kể lại thân phận trong cuộc sống nổi trôi. Đồng cảm “Cùng một lứa bên trời lận đận / Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,” (1) qua lời kể với tiếng đàn dưới trăng, Bạch Cư Dị đã viết tác phẩm “Tỳ Bà Hành.” Một tuyệt tác của thi ca cổ điển Trung Quốc.
Năm nay 31 tuổi, Bad Bunny sinh ra tại Puerto Rico, lãnh thổ nói tiếng Tây Ban Nha của Mỹ và cũng là sanh quán của không ít ca sĩ tên tuổi của Mỹ. Gia đình Bunny là những người Công giáo, với cha Bunny là một tài xế xe tải và mẹ anh là một cô giáo tiếng Anh ngoan đạo. Bunny hát trong ca đoàn của nhà thờ từ nhỏ và sáng tác nhạc từ năm 14 tuổi với giấc mơ trở thành một nghệ sĩ, dù anh theo học đại học về truyền thông thu thanh truyền hình để trở thành một người dẫn chương trình radio hay truyền hình.
“Chúng ta sẽ đứng lại trên mảnh đất này, Và không bỏ rơi người xa lạ giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhớ những tên người đã chết Trên đường phố Minneapolis.”
ashington bước vào mùa đông năm nay với âm thanh đứt quãng của một khúc giao hưởng chưa thành. Sau sáu năm thai nghén, bản Giao hưởng số 15 của Philip Glass — nhà soạn nhạc Hoa Kỳ được xem là người có công đưa ngôn ngữ tối giản vào đời sống âm nhạc đương đại — đáng lẽ phải vang lên tại Kennedy Center, như lời chào mừng kỷ niệm bán thế kỷ của trung tâm nghệ thuật danh tiếng này. Nhưng chỉ ít tháng trước buổi công diễn, nhạc sĩ 88 tuổi ấy tuyên bố rút tác phẩm. “Những giá trị mà Kennedy Center hôm nay biểu trưng không còn phù hợp với tinh thần của Abraham Lincoln,” ông viết, như hồi chuông cảnh tỉnh giữa một bầu không khí vốn đã nhiều sấm sét. Sự rút lui của Glass không chỉ là một “biến cố âm nhạc”; nó là một tín hiệu thời đại. Từ khi Tổng thống Trump trở lại quyền lực và đặt tên mình bên cạnh John F. Kennedy trên mặt tiền trung tâm — giới nghệ thuật thủ đô Hoa Thịnh đã không khỏi phân tâm. Một bên là danh dự nghề nghiệp, một bên là cảm thức công dân.
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.