Hôm nay,  

Khi sân khấu trở thành chiến địa

16/01/202600:00:00(Xem: 659)

Kennedy Center
Melania Trump và Donald Trump dự đêm khai diễn vở nhạc kịch Les Misérables tại Kennedy Center, Washington, D.C., ngày 11 tháng 6 năm 2025. Nguồn ảnh: whitehouse.gov.

Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt.

Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe.

Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”

Khi ấy, chánh tà rõ rệt. Cuộc tẩy chay trở thành tiếng nói cho công lý.

Còn bây giờ, sân khấu đặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, và câu hỏi mù mờ hơn: người nghệ sĩ có nên từ chối trình diễn tại một cơ sở mang tên vị tổng thống đang chia đôi quốc gia?

Donald Trump vốn không có tình cảm với nghệ thuật. Cái đẹp ông biết là ánh vàng son lòe loẹt, sân khấu truyền hình tạm bợ, và thứ kịch tính nhanh gọn của phim trường. Thế mà năm ngoái, ông tuyên bố mình là “chủ tịch” Trung tâm Kennedy, chê bai chương trình ở đó “đáng hổ thẹn”, rồi thay cả hội đồng quản trị bằng những người trung thành. Nền biểu diễn cũ bị gạt ra, những tiết mục nói về tự do, đồng cảm, bị dẹp, nhường chỗ cho quốc kỳ, cho bài ca tín ngưỡng.

Từng người nghệ sĩ nối nhau bỏ đi. Lin-Manuel Miranda, tác giả Hamilton, chỉ nói ngắn: “Chúng tôi không muốn dự phần.” Các ban nhạc jazz thôi diễn Giáng sinh, những đoàn vũ cũng rút. Gần đây nhất, Washington National Opera — đơn vị cư trú lâu năm — tuyên bố rời bỏ trung tâm hoàn toàn, với lời lẽ kín đáo: “để đảm bảo ngân sách cân bằng và tránh rủi ro tài chính”, song ai cũng hiểu đây là phản ứng trước sự thay đổi chính trị. Ông Richard Grenell, tân giám đốc trung tâm, liền mắng họ là “kẻ hèn vì chính trị” và bảo rằng nghệ thuật phải “vô chính trị”. Nhưng nghệ thuật, từ thuở hồng hoang, đã mang trong mình nỗi băn khoăn của kiếp người, mà ở đó, chính trị chỉ là chiếc bóng kéo dài của tâm tính, làm sao gạt bỏ.

Những ai tẩy chay, hẳn nhiên, có quyền làm theo tiếng nói lương tri. Với họ, bước lên sân khấu ấy chẳng khác gì cúi đầu trước quyền lực. Đặc biệt nay khi tên ông Trump đã treo trên cửa chính, nhiều người cảm thấy rằng bước lên sân khấu ấy ngầm hiểu là hỗ trợ ông và chính sách của ông. Sự ghê tởm trước cách chính quyền đối xử với một số nhóm thiểu số — từ di trú đến những sắc tộc bị nhắm đến — hay việc chọn lọc tự do ngôn luận theo ý mình, đều là lẽ dễ hiểu. Chưa kể đến việc ban quản lý đã tìm cách can thiệp vào nội dung vở diễn của họ, đó là lý do sắt đá để bất cứ người nghệ sĩ chính đáng nào cũng phải rút lui.
 
Mặt khác, lịch sử vẫn có cách nhắc ta nên dè dặt: cuộc tẩy chay ở Nam Phi năm xưa là nhắm vào một thể chế tàn bạo; còn đây, chỉ là một chính quyền hợp hiến, tuy lạnh lùng và bất nhẫn. Dán hay gỡ tên ông Trump khỏi mặt tiền cũng chẳng vá lại được khoảng cách trong lòng người Mỹ khi tranh chấp ngày càng leo thang.

Trung tâm đã dọa kiện nghệ sĩ jazz Chuck Redd 1 triệu đô-la vì hủy buổi hòa nhạc Noel hàng năm, với thư của ông Grenell gọi hành động ấy là “trò chính trị ích kỷ, thiếu khoan dung”. Phe chống đối đáp lại gay gắt: “Nghệ sĩ không phải nô lệ của hợp đồng, chúng tôi từ chối diễn ở nơi bị chính trị hóa để bảo vệ tự do sáng tạo”, như lời đại diện Washington National Opera.

Câu chuyện này gợi nhớ chuyện Việt Nam sau năm 1975: nhiều nghệ sĩ miền Nam chọn im lặng, không hát không viết— chấp nhận ở tù, nghèo khó, lưu vong để giữ phẩm cách; họ giữ được danh dự nhưng mất hết hào quang của những “fan” hâm mộ. Ngược lại, một số người chọn hợp tác, chọn “Nối vòng tay lớn”, họ sống sót và sáng tác trong hệ thống mới nhưng mang tiếng “văn nô”, bị người đời mãi nghi ngờ linh hồn nghệ thuật chân thực.

Tẩy chay giữ nhân cách tuy đánh mất dịp lay động lòng người; hay tiếp tục phục vụ hòng sống còn song đánh mất bản thân — người làm nghệ thuật ngày nay sẽ phải chọn một con đường cho chính mình.

Có người chọn thỏa hiệp ở lại, xem nghệ thuật như nhịp cầu nối những bờ vực thẳm, cất tiếng hát giữa bầy lang sói hòng cứu rỗi những linh hồn lạc lối nơi ngã ba đường.

Có người nhất quyết không nhân nhượng, giữ vững phẩm giá không cuối đầu làm công cụ cho một chính quyền phá vỡ nền tảng và sứ mệnh nghệ thuật.
Ai đúng, ai sai, chỉ thời gian mới có thể phân giải — còn bây giờ, nghệ thuật -- luôn có cách riêng của nó, phản ánh đúng lương tâm và giá trị của người nghệ sĩ, dẫu họ đang ca bài ca chính nghĩa nào.
 
Cung Đô biên tập
Nguồn: dựa theo phân tích của bài “Are artists right to boycott the Trump Kennedy Centre” của The Economist đăng ngày 9 tháng 1.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Mùa xuân năm nay, trên công viên trên không High Line của thành phố New York sẽ xuất hiện một tác phẩm điêu khắc quy mô lớn: pho tượng Phật bằng sa thạch cao 27 bộ Anh, mang tựa The Light That Shines Through the Universe (Ánh Sáng Soi Thấu Vũ Trụ), do nghệ sĩ Việt–Mỹ Tuan Andrew Nguyen thực hiện. Tác phẩm sẽ được đặt tại Plinth, không gian dành cho các dự án điêu khắc luân phiên của High Line, thay thế cho pho tượng chim bồ câu khổng lồ Dinosaur của nghệ sĩ Iván Argote, đang trưng bày từ tháng 10 năm 2024.
Trên trang mạng Psychology Today có bài viết về lợi ích của việc bắt đầu học nhạc ở tuổi già. Người cao niên thường phải đối diện với nhiều thách thức như suy giảm nhận thức, cô lập xã hội, trầm cảm. Suy giảm trí nhớ, đặc biệt là suy giảm trí nhớ theo từng giai đoạn và trí nhớ làm việc, là một dấu hiệu của tiến trình lão hóa bình thường, những cũng có thể là dấu hiệu sớm của lão hóa bệnh lý. Tập thể dục, các hoạt động kích thích não bộ có thể giúp duy trì trí nhớ của người lớn tuổi.
Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.
Nhạc sến và nhạc vàng đều hay. Mỗi bên có chất hay riêng, có vẻ đẹp khác nhau, như những thiếu nữ hoa hậu của các trường trên tỉnh so với những cô thôn nữ dưới quê trong hội trăng rằm. Một điểm thường thấy nhất là gái quê thành thật hơn gái tỉnh. Nhạc sến gây xúc động hơn nhạc vàng. Tháng Sáu ấy, ở trong trại Fort Chaffee chờ người bảo trợ, đêm đêm nằm trong căn phòng san sát nhau, cách một vách mỏng. Nghe đủ thứ chuyện trên đời. Nghe cả đủ thứ loại nhạc bởi những giọng ca cảm hứng. Nhạc vàng thường làm tôi lâng lâng lắng nghe rồi băn khoăn buồn buồn, dù người hát thường không đủ tiêu chuẩn. Rồi một lần, giữa đêm hè nóng nực, một anh lính Biệt Động Quân, người trấn đồn biên giới, cất giọng ca sai cả nốt cao lẫn nốt thấp. Anh hát, “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / khi thấy mai đào nở vàng bên nương…”(1) tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, rồi chảy thành dòng, không thể nào ngưng được. Đó là chất sôi nổi của nhạc sến.
Sức hút của phim nghe qua tưởng hiển nhiên: ba cô gái ngầu trong y phục cầu kỳ, hát những bản tuyên ngôn tự khẳng định dễ thuộc, đi kèm hình ảnh rực rỡ, dàn dựng sáng tạo. Tất cả lại trôi đi trên làn sóng Hàn lưu đang bành trướng khắp thế giới, từ BTS, Blackpink đến Parasite hay Squid Game. Vậy nhưng, thành công đó không hề “đương nhiên”: đây là câu chuyện hoàn toàn mới trong thời buổi hãng phim chỉ thích bấu víu vào thương hiệu quen thuộc; là phim hoạt hình không dựa vào loạt phim sẵn có, lại mang nặng chi tiết văn hóa Hàn và không có siêu sao phòng vé, trong khi kinh phí ở khoảng một trăm triệu đô-la.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.