Khi Donald Trump tái đăng cử, ông đem lại cho cử tri Hoa Kỳ một câu hứa làm yên lòng quần chúng mỏi mệt: chấm dứt những cuộc chiến tranh vô tận, đã kéo dài qua nhiều thập niên, vắt kiệt ngân khố và làm khô khan niềm tin. Song lời hứa ấy, tự bản chất, không xây trên lý tưởng mà chỉ phản chiếu tâm lý mệt mỏi của một quốc gia đã can dự quá lâu vào những cuộc phiêu lưu quân sự ngoại biên.
Nhưng khi quyền lực quay lại tay ông, điều thế giới cần theo dõi không còn là khẩu hiệu “chấm dứt chiến tranh” mà ông lập lại trong các cuộc mít-tinh, mà là cách Hoa Kỳ thực sự sử dụng sức mạnh của mình trong những tình thế cụ thể.
Các cuộc oanh kích tại Syria sau vụ phục kích khiến hai binh sĩ Mỹ tử trận ở Palmyra không phải là sự kiện đơn lẻ. Chúng nằm trong một chuỗi hành động nối tiếp: tấn công các nhóm Hồi giáo vũ trang tại Nigeria để “trả đũa” các vụ bạo hành nhắm vào người Thiên Chúa giáo; chỉ đạo bắt giữ nguyên thủ Venezuela Nicolás Maduro; cho đến những lời đe dọa nhắm về phía Đan Mạch và Greenland.
Từng hành động, nếu tách riêng, đều có thể biện minh. Nhưng đặt chung trong một chuỗi, người ta nhận thấy một khuynh hướng: sức mạnh quân sự của Mỹ đang được vận dụng như phản xạ tức thời, thay vì là công cụ của một đường lối quốc sách rõ rệt. Chính trị Hoa Kỳ, qua đó, dường như trượt vào thế vô định trong lĩnh vực đối ngoại.
Thay vì chấm dứt các “cuộc chiến không hồi kết” như đã hứa, ông không khép lại chiến tranh, mà cũng không dựng lên một trật tự mới sau khi rút lui. Thay vào đó, Washington hành động bằng những đòn quân sự rời rạc, thiếu một tầm nhìn chính trị dài hạn.
Từ nhiệm kỳ đầu, dấu hiệu ấy đã hiện rõ. Quyết định hạ sát tướng Iran Soleimani năm 2020 là một hành động gây tiếng vang, nhưng không kèm theo bất kỳ viễn kiến mới nào cho Trung Đông. Những cuộc rút quân khỏi Afghanistan và Syria cũng chẳng đem lại một kế hoạch ổn định hay một trật tự chuyển tiếp.
Hệ quả đã rõ với Afghanistan, nơi Trump khởi sự cuộc tháo lui bằng một thỏa ước ký trực tiếp với Taliban tại Doha, cố định lịch trình Hoa Kỳ rút quân mà hoàn toàn gạt chính quyền Kabul ra ngoài bàn hội nghị, không một điều khoản khả tín nào bảo đảm cho tương lai thể chế Cộng hòa Afghanistan cũng như quyền lợi phụ nữ và các cộng đồng từng cộng tác với Mỹ. Song song với đó, vào tháng 11 năm 2020, chỉ ít ngày sau khi thất cử, ông còn ký một lệnh rút toàn bộ quân Mỹ khỏi Afghanistan và Somalia trước ngày 15 tháng 1 năm 2021 – một mệnh lệnh bị chính các tướng lãnh thượng cấp đánh giá là “nguy hiểm”, “không khả thi về mặt quân sự” và sau đó phải vội vã thu hồi. Chuỗi quyết định vội vã ấy đã đặt nền tảng cho cuộc triệt thoái hỗn loạn mùa hè 2021: ông Biden kế thừa thỏa ước Doha phải rút quân không thể đảo ngược, thực thi theo lịch trình đã định, dẫn đến chính quyền Kabul sụp đổ chớp nhoáng, hàng trăm ngàn đồng minh tuyệt vọng chen chúc tại phi trường trong cảnh bom rơi đạn lạc, và 13 binh sĩ Mỹ hy sinh trong vụ đánh bom khủng bố cuối cùng – một di sản thảm khốc mà người kế nhiệm buộc phải gánh chịu hậu quả tất yếu.
Hậu quả là Afghanistan sụp đổ trong hỗn loạn; Syria vẫn lâm cảnh bỏ dở; người Kurd – đồng minh từng gánh chịu tổn thất nặng nề trong cuộc chống Isis – bị đẩy ra ngoài lề. Và khi khoảng trống quyền lực mở ra, Hoa Kỳ lại buộc phải quay trở lại, lần này bằng bom đạn, để đối phó với những hiểm họa chưa bao giờ được giải quyết đến nơi.
Không ai phủ nhận cần trấn áp Isis, một mối hiểm họa vẫn còn gieo rắc kinh hoàng tại Trung Đông. Nhưng việc Hoa Kỳ tiếp tục nại vào lý cớ “trả đũa” cho thấy một căn bệnh sâu hơn: chính sách đối ngoại đã mất phương hướng, chỉ còn hành động tùy thời, thiếu viễn kiến.
Trường hợp Venezuela minh chứng rõ hơn. Việc bắt giữ ông Maduro đi kèm những lời tuyên bố về lợi ích dầu hỏa, song không có một lộ trình chính trị khả tín nào được vạch ra. Cơ cấu quyền lực tại Caracas vẫn nguyên trạng, trong khi giới tư bản Hoa Kỳ lặng lẽ lánh xa. Đáng lưu ý, nhân vật đối lập María Corina Machado – người được quốc tế nhìn nhận – lại bị Washington gạt bỏ, như thể sự can thiệp chỉ nhằm khuấy động mà không định kiến tạo
Ở một tầng khác, tham vọng thâu nhận Greenland đưa chính sách Trump sang hẳn một bình diện khác. Nếu hành động ấy khiến liên minh Âu – Mỹ rạn nứt, hậu quả sẽ không riêng Bắc Đại Tây Dương, mà lan khắp Tây phương. Một biến cố khủng hoảng giữa Âu châu và Nga – nếu xảy ra – hẳn sẽ thắt họng kinh tế toàn cầu, trong đó có chính Hoa Kỳ.
Các đồng minh của Washington lo ngại không chỉ vì từng quyết định đơn lẻ, mà vì cách những quyết định ấy được hình thành: quá nhiều tùy hứng cá nhân, quá ít cơ chế kiểm soát. Trong một siêu cường mà bản thân thể chế lẽ ra phải là điểm tựa cho thế giới, sự riêng tư hóa quyền lực là dấu hiệu đáng báo động. Ngay cả khi Trump mất ưu thế tại Quốc hội, quyền chỉ huy quân đội vẫn nằm trong tay ông. Điều đó khiến những điều chỉnh từ bên trong hệ thống Mỹ, nếu có, cũng khó diễn ra nhanh chóng.
Âu châu, đứng trước tình thế đó không có chọn lựa dễ dàng. Đối đầu thẳng thừng với Washington là mạo hiểm. Cam chịu và trông chờ thiện chí cũng là một canh bạc. Thế nên, ý hướng “tự cường chiến lược” xuất hiện – từ kế hoạch hợp tác hạt nhân Anh–Pháp, đến việc Đức tính chuyện bảo trợ tài chánh – không phải biểu hiện của hiếu chiến, mà là phản ứng tự vệ trong một trật tự thế giới đang rạn nứt.
Khi lời hứa chấm dứt chiến tranh chỉ để kiếm phiếu, không hướng tới hòa bình hay ổn định, vấn đề của thế giới ngày nay không nằm ở lời nói của Washington, mà ở cách các quốc gia khác phải tự điều chỉnh để tồn tại bên cạnh một siêu cường càng lúc càng mất kiểm soát.
Nguyên Hòa
Nguồn: dựa theo phân tích của Michael Day, đăng ngày 11 tháng 1 năm 2026.
Gửi ý kiến của bạn



