Hôm nay,  

Greenland: ‘Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt’

24/01/202609:24:00(Xem: 979)

 

 

Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”).

Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế. Và trong sự vòng vo, quyết liệt rồi lại thoái lui của ông Trump, như đã diễn ra tại Diễn đàn Kinh tế ở Davos, Thụy sĩ, hôm vừa qua, người viết không khỏi nhớ đến câu hát của Trịnh Công Sơn – “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” – như một ẩn dụ cho hành trình chính trị đầy nghịch lý này.

Greenland – từ ‘vùng đất băng giá’ đến tâm điểm chiến lược toàn cầu

TD1
Vị trí chiến lược trên địa cầu của Greenland. (freepik.com)


Greenland, với 80% diện tích phủ băng, là hòn đảo lớn nhất thế giới. Nhưng điều khiến nó trở thành mục tiêu của các cường quốc không phải là dân số ít ỏi (khoảng 56.000 người), mà là:

  • Vị trí chiến lược: án ngữ giữa Bắc Mỹ và châu Âu.
  • Tài nguyên tiềm ẩn: đất hiếm, uranium, dầu khí, khoáng sản.
  • Vai trò quân sự: là nơi đặt căn cứ Thule – một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh báo sớm tên lửa của Hoa Kỳ từ thời Chiến tranh Lạnh.

Theo phân tích của The Conversation, Hoa Kỳ và Đức đã bắt đầu cạnh tranh chiến lược tại Greenland từ Thế chiến II, khi cả hai bên xây dựng các trạm thời tiết quân sự để theo dõi khí tượng Bắc Đại Tây Dương – yếu tố sống còn trong chiến tranh.

Sau chiến tranh, trước sự kiện thế giới bước vào Chiến tranh Lạnh giữa hai khối tự do và cộng sản, Hoa Kỳ tiếp tục mở rộng hiện diện quân sự tại Greenland. Năm 1951, Washington và Copenhagen ký thỏa thuận cho phép Mỹ duy trì căn cứ Thule. Không chỉ vậy, Mỹ còn khai triển Project Iceworm tại căn cứ Camp Century, một kế hoạch tuyệt mật nhằm xây dựng một “thành phố nguyên tử” dưới lớp băng Greenland để bố trí hàng trăm tên lửa hạt nhân.

 

Việc xây cất Project Iceworm ​​bắt đầu vào tháng 6 năm 1959. Mặc dù nhiệt độ xuống thấp tới -70°F, gió mạnh tới 125 dặm/giờ và lượng tuyết rơi hàng năm hơn bốn feet, dự án táo bạo này đã được hoàn thành vào tháng 10 năm sau, theo Atomic Heritage Foundation.

“Lực lượng tên lửa được giấu kín và khó phát hiện,” một tài liệu kế hoạch năm 1960 ghi nhận. “Chúng được khai triển trong một mạng lưới đường hầm ngầm rộng lớn, nơi con người và tên lửa được bảo vệ khỏi thời tiết và, ở một mức độ nào đó, khỏi các cuộc tấn công của kẻ thù. Việc khai triển này bất khả xâm phạm trước mọi cuộc tấn công ngoại trừ các cuộc tấn công quy mô lớn, và ngay cả khi đó, hầu hết lực lượng vẫn có thể được phóng đi. Việc che giấu và sự đa dạng của mô hình triển khai được tận dụng để ngăn chặn kẻ thù nhắm mục tiêu vào các yếu tố quan trọng của lực lượng.”

Tuy nhiên, kế hoạch táo bạo trị giá 2,71 tỷ đô la này lại không tính đến một yếu tố: Mẹ Thiên nhiên. Chẳng bao lâu sau, người ta nhận ra rằng việc xây dựng một thành phố nguyên tử dưới lớp băng luôn chuyển động là một ý tưởng vô cùng mạo hiểm. Công trình Iceworm đã bị hủy bỏ hoàn toàn vào năm 1967, và cấu trúc ngầm khổng lồ này đã sụp đổ ngay sau đó.

TD2
Bản đồ Greenland, trái, với căn cứ quân sự Mỹ ở tây bắc và thủ đô Nuuk ở tây nam. (Bản đồ polarkreisportal.de). Phải, công trình Iceworm, một thành phố nguyên tử trong băng nhằm đối phó với Liên bang Xô viết trong thời Chiến tranh Lạnh. (Minh hoạ monavista.ru)

 

Công trình tốn kém hàng tỉ đô la này cuối cùng bị hủy bỏ vì điều kiện thiên nhiên quá khắc nghiệt, nhưng nó cho thấy mức độ quan tâm của Washington từ dạo đó đối với hòn đảo chiến lược này.

Khi Trump muốn ‘mua’ Greenland

Trump nhiều lần khẳng định rằng việc Hoa Kỳ cần kiểm soát Greenland là “cần thiết cho an ninh quốc gia”. Trên mạng xã hội Truth Social, ông viết rằng “U.S. control over Greenland is a necessity” (Hoa Kỳ phải kiểm soát Greenland bằng mọi giá) vào cuối năm 2024, và tiếp tục nhấn mạnh lập luận này sang năm 2026.

Ông Trump có thói quen viện dẫn lý do an ninh quốc gia cho bất cứ quyết định hay hàng động gì dù lớn hay nhỏ, có nghĩa hay vô nghĩa, thật hay giả. Nhưng trong trường hợp này thì lập luận an ninh quốc gia là xác đáng. Nó dựa trên ba yếu tố có thực chất. Thứ nhất, Nga đang tăng cường quân sự hóa Bắc Cực; thứ hai, Trung Quốc tự nhận là “quốc gia cận Bắc Cực” và đầu tư mạnh vào nghiên cứu, khai thác và hạ tầng tại khu vực; và thứ ba là tuyến hàng hải Bắc Cực đang mở ra do băng tan gây ra bởi hiện tượng nhiệt hóa toàn cầu.

Về nhu cầu cần kiềm chế Trung Quốc, theo phân tích của giáo sư Steven Lamy (USC Dornsife), các lý do mà Trump đưa ra “không hoàn toàn chính xác”, nhưng chiến thuật của ông phù hợp với kế hoạch rộng lớn hơn nhằm hạn chế ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại Bắc Cực.

Trung Quốc chỉ mới từng đề nghị đầu tư vào sân bay, khai khoáng sản và xây dựng hạ tầng cơ sở tại Greenland. Điều này khiến Washington lo ngại rằng Bắc Kinh có thể giành ảnh hưởng chiến lược tại một vùng đất vốn nằm trong phạm vi an ninh của NATO.

Về kinh tế, Greenland sở hữu trữ lượng đất hiếm (rare earth) lớn – yếu tố quan trọng trong sản xuất công nghệ cao. Một podcast điều tra của The Rest Is Classified mô tả Greenland là “kho báu khoáng sản” mà Trump “rất thèm muốn” vì giá trị chiến lược của đất hiếm trong thế kỷ 21.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cảnh báo rằng việc khai thác tài nguyên tại Greenland sẽ khó khăn và tốn kém không kém gì Venezuela – nơi địa hình, khí hậu và hạ tầng đều gây trở ngại lớn, và riêng tại Venezuela còn là tình hình chính trị.

Đan Mạch, Greenland và châu Âu phản ứng

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen phản ứng mạnh mẽ, gọi đề nghị của Trump là “phi lý”, và khẳng định Greenland “không phải để bán”. Đây là phản ứng được trích dẫn rộng rãi trên truyền thông quốc tế.

Trong khi đó, chính quyền Greenland, nằm trong vương quốc Đan Mạch đã 300 năm nhưng vốn đã có quyền tự trị rộng rãi từ năm 2009, tuyên bố rằng họ không phải là “một món hàng” để trao đổi. Người dân Greenland đã rầm rộ xuống đường biểu tình, mang theo biểu ngữ “Hands off Greenland” – hình ảnh được ghi lại trong nhiều bài báo quốc tế trong mấy tuần qua. Nhiều người đội cái mũ lưỡi trai mầu đỏ với hàng chữ Make America Go Away, viết tắt là MAGA, nhái khẩu hiệu trên mũ của băng đảng của ông Trump.

  

VB  (7)
Dân Greenland biểu tình phản đối việc ông Donald Trump đòi sở hữu hòn đảo của họ.


Châu Âu và NATO: Lo ngại về sự ổn định của liên minh


Đối với các thành viên trong Liên minh Âu châu (EU) và Tổ chức Bắc Đại Tây Dương (NATO) mà Hoa Kỳ là một thành viên nồng cốt, thì việc ông Trump nói nếu cần có thể dùng tới quân sự để giành lấy Greenland là một đe dọa có tầm ảnh hưởng quyết định tới sự tồn vong của liên minh quân sự gồm 32 quốc gia này.

NATO, hay Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, được thành lập năm 1949 như một liên minh quân sự nhằm cung cấp an ninh tập thể chống lại Liên Xô. Những thành tựu chính của NATO bao gồm duy trì hòa bình ở châu Âu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tiến hành các hoạt động quân sự trong nhiều cuộc xung đột khác nhau và thích ứng với những thách thức an ninh mới, chẳng hạn như cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022, điều đã củng cố cam kết của NATO đối với phòng thủ tập thể.

Trong Hiến chương NATO có Điều 5 quy định rằng một cuộc tấn công vũ trang chống lại một hoặc nhiều thành viên NATO sẽ được coi là cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên, buộc mỗi thành viên phải hỗ trợ bên bị tấn công bằng cách thực hiện các hành động cần thiết, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực. Nguyên tắc này là nền tảng cho chiến lược phòng thủ tập thể của NATO.

Lần dầu tiên và duy nhất Điều 5 có dịp ứng dụng là sau vụ 9/11/2001 khi Hoa Kỳ bị không tặc khủng bố tấn công làm thiệt mạng trên 3000 người, các quốc gia trong liên minh NATO, trong đó có Đan Mạch, đã gửi quân tới Afghanistan trong cuộc truy lùng đầu sỏ Bin Laden đang được chính quyền Taliban che chở. Tổng cộng 43 lính Đan Mạch đã bị thiệt mạng tại Afghanistan. Do dấy, khi ông Trump dọa có thể sử dụng quân lực để chiếm Greenland, dân Đan Mạch đặc biệt cảm thấy mình bị phản bội bởi chính đồng minh. Cậu cháu chồng (đã quá vãng) của tôi gửi điện thư từ Đan Mạch bảo người Đan Mạch hiện ghét người Mỹ lắm.

Các thành viên NATO lo ngại rằng khi một thành viên NATO tấn công một thành viên khác thì có thể có nghĩa là tới hồi kết thúc của tổ chức và hiệp ước an ninh NATO vậy.

Ngoài ra, nếu Hoa Kỳ có thể gây sức ép với Đan Mạch – một thành viên NATO – thì liệu các quốc gia nhỏ hơn có còn được bảo vệ?

Và nữa, nếu tranh chấp nội bộ NATO xẩy ra thì đối phương của tổ chức là Nga và Trung Quốc sẽ hưởng lợi.

Sự kiện này làm dấy lên câu hỏi về tương lai của NATO – tổ chức đã góp phần ổn định thế giới từ sau Thế chiến thứ Hai.

Davos: Khi Trump “quay xe” và tuyên bố chiến thắng

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos hôm vừa rồi, sau nhiều tuần gây nên căng thẳng, Trump tuyên bố rằng ông sẽ không sử dụng biện pháp quân sự để giành chiếm Greenland. Ông nói rằng một chương trình hợp tác bảo vệ an ninh mới sẽ được NATO và Mỹ soạn thảo, và ông coi đó như một “chiến thắng” do ông giành được cho nước Mỹ.

Nhưng thực chất, đây chỉ là việc quay trở lại thỏa thuận năm 1951 – vốn đã cho phép Hoa Kỳ duy trì hiện diện quân sự tại Greenland mà không cần mua bán lãnh thổ.

Chính sự vòng vo này khiến nhiều nhà quan sát mô tả toàn bộ câu chuyện như một vòng lặp mệt mỏi: từ đề nghị gây sốc, đến phản ứng dữ dội, rồi cuối cùng trở về điểm xuất phát.

Greenland trong thế kỷ 21: Cuộc chơi lớn hơn một lời đề nghị mua bán

Bắc Cực đang nóng lên – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Băng đang tan, mở ra tuyến hàng hải Bắc Cực, rút ngắn thời gian vận chuyển giữa châu Á và châu Âu. Các chuyên viên ước tính vào năm 2100 băng tan đủ cho tầu thuyền có thể đi lại ở vùng biển Bắc Cực quanh năm, rút ngắn thời gian vận chuyển lại khoảng 30 phần trăm. Băng Bắc cực đang tan, cùng với băng lục địa Nam Cực, có nghĩa là nước biển sẽ dâng cao, đe dọa toàn cầu, đây lại là chuyện khác song cũng vô cùng quan ngại.

Ngoài ra, tình trạng băng rã còn tạo cơ hội khai thác tài nguyên bấy lâu phủ băng dầy đặc của đảo. Và đặc biệt là vị trí chiến lược của Greenland như Hoa Kỳ đã nhận thấy từ sau Thế chiến thứ hai khi thiết lập thị trấn nguyên tử trong lòng băng. Hiện nay, Nga đã khai triển nhiều căn cứ mới tại Bắc Cực và càng gia tăng đầu tư từ khi TT Trump chú tâm tới Greenland. Trung Quốc, mặc dù không sở hữu phần đất Bắc cực nào nhưng tự tuyên bố là “xứ gần Bắc cực”, đã tham gia cùng Nga các sinh hoạt tại đây, và nuôi tham vọng dự phần vào việc khai thác tài nguyên và vị trí chiến lược của Bắc cực.

Do đấy, chính quyền ông Trump không muốn bị bỏ lại phía sau trong cuộc chạy đua vào Bắc Cực là điều hiểu được, nếu bỏ ra ngoài những mưu tính và động lực cá nhân khác.

Tuy nhiên, cách thức của ông Trump, do những thúc đẩy chính trị, tham vọng cá nhân và cả tình trạng tâm thần thèm- được-chú-ý qua việc gây nên cú sốc Greenland, không phải là cách hành xử của một nhà lãnh đạo có ý thức.

Tại Davos, ông Trump bất ngờ “quay xe”, tuyên bố không sử dụng quân sự, không trừng phạt Greenland và những quốc gia yểm trợ quyền tự trị của đảo này bằng việc nâng thuế quan, rồi nhơn nhơn tuyên bố đã đạt được thỏa thuận với NATO về một chương trình hành động--thực ra đã tồn tại, chỉ cần tái đề nghị với quốc gia sở tại và củng cố khai triển tốt hơn và phù hợp với tình thế hiện tại--để bảo đảm an ninh cho Greenland và từ đó của Bắc cực.

Dù vậy, những tai hại đã diễn ra. Qua đó quốc gia từng là điểm tựa của thế giới từ sau Đệ nhị Thế chiến đã dứt khoát không còn được các đồng minh tín cậy nữa.

Điển hình là tuyên ngôn mạnh mẽ và can trường của thủ tướng của hai đồng minh CanadaĐức, Thủ tướng Mark Carney và Friedrick Merz, về một sự rạn nứt của khối dân chủ tự do và nhu cầu cộng tác giữa các quốc gia dân chủ còn lại để tự lực, tự bảo vệ và tự tồn.

‘Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt’: Ẩn dụ cho một vòng xoáy chính trị

Theo dõi sự kiện Greenland, tôi không khỏi liên tưởng đến câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (trong bài “Một cõi đi về”), gợi lên cảm giác về sự luẩn quẩn, về những bước đi vòng vèo không mang lại kết quả thực chất.

Khi đặt vào câu chuyện Greenland, nó trở thành hình ảnh tượng trưng cho: Một đề nghị gây sốc nhưng thiếu cơ sở; một loạt phản ứng quốc tế căng thẳng làm tiêu hao năng lực và soi mòn niềm tin; một sự thoái lui được trình bày như chiến thắng; để rồi cuối cùng, mọi thứ trở lại đúng vị trí ban đầu. Bên cạnh đó là những tai hại khó hàn gắn, song đồng thời đã là dộng lực đằng sau quyết tâm của các quốc gia lâu nay là đồng minh của Mỹ, để tiến tới tự lực tự tồn.

Cả thế giới đã phải theo dõi một vòng xoáy chính trị không cần thiết, trong khi những vấn đề quan trọng hơn – biến đổi khí hậu, an ninh Bắc Cực, quyền tự quyết của Greenland – vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Chưa kể, phía hưởng lợi vẫn là các đối phương độc tài của chúng ta—Nga và Trung Quốc.

Trong thế giới ngày càng biến động, những vòng xoáy chính trị như vậy có thể khiến các quốc gia “mỏi mệt”. Nhưng đồng thời, nó cũng nhắc nhở rằng sự ổn định không phải là điều tự nhiên mà có; nó cần được xây dựng bằng sự tôn trọng, đối thoại và hiểu biết lẫn nhau.

Greenland vẫn nằm đó – một vùng đất băng giá nhưng đầy tiềm năng, một biểu tượng của cả hy vọng lẫn thách thức. Và câu chuyện về nó chắc chắn sẽ còn tiếp tục.  [TD, 2026/01]

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.