Hôm nay,  

Những kẻ muốn xoá bỏ lịch sử sẽ không thành công

30/01/202600:00:00(Xem: 703)

Legacy Museum
Những người viếng thăm cúi mình bên hồ tưởng niệm tại Đài Tưởng niệm Quốc gia về Hòa bình và Công lý, Montgomery, Alabama. Trên bức tường phía sau khắc dòng chữ: “Nguyện chúng ta đừng bao giờ quên những người đã chịu đau khổ và thiệt mạng chỉ vì họ khẳng định quyền làm người căn bản: quyền được tự do.”

Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này.

Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow.

Hội NAACP tại Mississippi, do Medgar Evers lãnh đạo, bắt tay điều tra cái chết ấy như một vụ ám sát. Nhưng viên cảnh sát trưởng trong hạt lập tức xua tay, khăng khăng nói đó chỉ là một tai nạn xe hơi, còn những mảnh chì tìm được trong hàm của mục sư Lee theo ông chỉ là “chất trám răng”. Biện lý địa phương không truy tố; hai người da trắng bước khỏi câu chuyện như bước ra khỏi một buổi dạ tiệc.

Tôi biết câu chuyện ấy sau khi đến viếng Đài Tưởng niệm Quốc gia về Hoà bình và Công lý tại Montgomery, Alabama – nơi nhiều người quen gọi đơn giản là “Đài Tưởng niệm Lynching”. Khu tưởng niệm là một khoảng đất rộng, nơi dựng hơn tám trăm trụ thép hình chữ nhật, mỗi trụ mang tên một hạt nơi đã xảy ra treo cổ. Một trụ trong số đó mang tên hạt Humphreys, Mississippi.

Hôm tôi đến, trời rét và mưa lất phất. Lần đầu tiên đứng giữa khu tưởng niệm, tôi bị ấn tượng bởi cái im lặng và cái rộng của nó. Có những trụ thép treo lơ lửng từ mái xuống, có những trụ đứng thấp ngang tầm người; khách phải bước giữa những thân thép ấy, như đi giữa một rừng cột sắt tượng trưng cho nỗi kinh hoàng chủng tộc kéo dài qua nhiều thế hệ.

Cùng ngày hôm đó, một người đàn ông tên Lee Perkins cũng có mặt. Ông ngồi trên xe lăn, do người con rể là Chris Brown đẩy đi. Perkins sinh năm 1937 tại Belzoni, mười bảy tuổi khi mục sư Lee bị giết. Vừa kể cho tôi nghe vài nét về tuổi thơ da đen nơi vùng châu thổ Mississippi, ông vừa ngước nhìn những trụ thép, đôi mắt đi theo những thân cột dài bất động. Giọng ông khàn và đậm âm hưởng miền Nam. “Tôi chưa bao giờ tưởng có ngày được thấy một nơi như thế này,” ông nói, cổ vươn lên đọc từng cái tên khắc trên mỗi trụ sắt. Chiều xuống, bầu trời quanh chúng tôi chậm rãi tối dần.

Chris Brown, người con rể, thì thốt nhẹ một câu như lời nguyện: “Tôi chỉ cầu mong người ta đừng bao giờ xoá lịch sử này. Dân da đen chúng ta đã trải qua quá nhiều, vậy mà vẫn có những kẻ tìm cách xóa sạch.”

Tại Montgomery, đài tưởng niệm lynching có hai “người anh em”: Viện Bảo tàng Legacy – một nơi lần dấu sự áp bức người da đen từ thời nô lệ, qua Jim Crow đến nhà tù ngày nay – và Công viên Tượng đài Tự do, khu đất rộng mười bảy mẫu, nơi các tượng đài đương thời đi đôi với những di vật thật để nói về đời sống nô lệ. Cả ba đều do tổ chức Equal Justice Initiative (EJI hay Tranh Đấu Cho Công Lý Bình Đẳng) dựng nên, một tổ chức tư pháp ra đời năm 1989, sau này bước thêm sang việc kể lại lịch sử và dựng chỗ cho công luận, dưới sự hướng dẫn của người sáng lập là luật sư Bryan Stevenson.

Stevenson khởi đầu như một luật sư tranh đấu cho người nghèo, nhiều lần điều trần trước Tối cao Pháp viện. Ông đã thành công trong việc chống các bản án chung thân không ân xá dành cho trẻ vị thành niên, và tranh đấu để những người già lẩm cẩm trong tù khỏi bị đem ra xử tử trong một số trường hợp. Nhưng theo thời gian, ông nhận ra: công việc pháp lý, dù quan trọng đến đâu, tự nó không đủ để đổi thay toàn diện bộ máy hình luật. Muốn vậy, công chúng Mỹ phải hiểu sâu hơn những tầng lịch sử đã đắp nên cái hiện tại đang thấy.

Legacy Museum, mở cửa đã gần tám năm, có lẽ là chỗ gần nhất mà người ta có thể gọi là “bảo tàng nô lệ quốc gia”. Đáng chú ý là nơi đây hoàn toàn do tư nhân đóng góp, không nhận đồng nào của tiểu bang hay liên bang. Vì thế, Stevenson và cộng sự không bị trói tay bởi các sắc lệnh hành chánh; họ không phải co cụm mỗi khi một ông Tổng thống nổi cơn trên mạng xã hội rồi chỉ trích một trưng bày nào đó. Trong bối cảnh một chính quyền muốn làm nhẹ, thậm chí muốn xóa hẳn, những phần tối tăm của lịch sử tại trường học, thắng cảnh, bảo tàng, tôi muốn biết người ta đi qua những nơi như Legacy và đài tưởng niệm lynching với tâm trạng nào, và Stevenson nhìn vai trò những chỗ ấy ra sao: trước kia, và bây giờ, khi khí hậu chính trị đang đổi sắc rõ rệt.

Ở Montgomery, điều trở đi trở lại trong lời nhiều người nói với tôi là hai chữ “xóa bỏ”. Ở một bên kia khu tưởng niệm, tôi gặp hai phụ nữ da đen, Jackie Brown và Annette Pinckney, cũng đến đây lần đầu. “Chúng tôi ở Florida,” Pinckney nói, “nơi có ông Thống đốc Ron DeSantis đang tìm mọi cách xoá lịch sử của chúng tôi.”

Pinckney là phụ tá hiệu trưởng một trường trung học ở Nam Florida. Bà chứng kiến tận mắt những đạo luật mới – như đạo luật mang tên Stop WOKE – siết chặt cách các trường học và hãng xưởng không cho phép nói về chủng tộc và giới tính. Sở Giáo dục Florida còn cấm không cho dạy chương trình Đào Sâu về Lịch sử người Mỹ gốc Phi trong các trường trung học, viện cớ chương trình ấy “không có giá trị giáo dục và thiếu chính xác lịch sử.”

Trước khi đến khu ‘lynching’ (treo cổ), Pinckney và Brown đã ghé một căn nhà nô lệ thật sự bên bờ sông Alabama, nơi từng có hàng ngàn người bị đưa qua như món hàng. Họ kể cảm giác đứng trong căn nhà gỗ cũ, nghe gió lạnh lùa qua từng khe ván, nghĩ tới những thân phận đã phải chịu mưa gió ngay trong giấc ngủ. Pinckney vòng tay ôm chặt lấy ngực mình. “Chỉ đứng đó thôi mà ruột gan đã thắt lại,” bà nói. “Nó làm cho tất cả những gì mình đọc trở nên thật hơn.”

Stevenson bảo tôi: chính cảm giác ấy là điều ông muốn đánh thức. Tối hôm đó, trong văn phòng EJI, ông nói mục đích của những nơi này là bắt người đến phải đối diện thẳng với bạo lực của quá khứ, không vội vã xoa dịu bằng một câu chuyện “vươn lên” giàu an ủi như vẫn thường thấy trong nhiều bảo tàng dân quyền khác. Ông không phủ nhận những thành tựu, nhưng ông dè dặt với kiểu kể chuyện chỉ khoe chiến thắng mà quên mất cuộc vật lộn vẫn còn tiếp diễn. “Tôi quý những bảo tàng ấy,” ông nói, “nhưng nếu để người ta bước ra với ý nghĩ: ‘Hay quá, chúng ta đã có phong trào dân quyền, thế là xong nạn kỳ thị, xong chuyện quyền bầu cử, xong chuyện phân biệt’, thì như vậy chính chúng ta đã phá hoại nỗ lực đòi công bằng chủng tộc.”

Phần lớn các bảo tàng dân quyền sống bằng ngân sách tiểu bang, liên bang. Stevenson hiểu: trong tình thế đó, không dễ gì người ta nói những điều quá trái ý các nhà tài trợ công quyền.

Riêng ở Alabama, những bảo tàng của EJI bỗng nhiên trở thành chỗ hành hương cho rất nhiều người. Chúng hiện là một trong hai thắng cảnh thu tiền đông khách nhất tiểu bang (chỗ kia là trung tâm hàng không – không gian ở Huntsville), mỗi năm đón chừng nửa triệu người. “Từ ngày mở cửa, đã có tám khách sạn mới mọc lên quanh đây, phi trường ghi nhận số khách kỷ lục,” Stevenson kể.

Ở thủ đô Washington, một nơi khác cũng thành điểm đến của nhiều người da đen là Viện Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử và Văn hoá Người Mỹ gốc Phi thuộc hệ thống Smithsonian, mở cửa hai năm trước Legacy. Stevenson nói bảo tàng ấy là một sự hiện diện không thể thiếu trên National Mall, giàu chi tiết hơn bất cứ nơi nào khác nói về đời sống người da đen. Nhưng ông cũng lo, vì cách sắp xếp nội dung vô tình cho phép người ta đi thẳng tới phần “vinh quang” mà tránh né phần “tối tăm”. Những trưng bày về nô lệ, về bạo lực thời Trung chuyển, thời Jim Crow nằm ở tầng dưới mặt đất; còn các trưng bày về văn hoá, về các nhân vật nổi tiếng ở trên cao. Nhiều đoàn học sinh, nhiều nhóm du khách, theo lời các nhân viên, bước vào là bấm thang máy đi thẳng lên: xem áo khoác của Michael Jackson, giày của Michael Jordan, đàn của B. B. King, xem phần nói về ông Obama, rồi ghé quán ăn, thế là xong.

Ở Montgomery, Stevenson muốn tránh điều đó. Ông gọi con đường trong bảo tàng là một “chuyến đi qua câu chuyện”: từ nô lệ, đến treo cổ, đến nhà tù, không có lối tắt cho ai muốn bỏ qua phần khó chịu.

Chính vì phần “khó chịu” ấy mà năm ngoái, chính quyền liên bang đã chính thức gửi thư yêu cầu hệ thống Smithsonian phải giao nộp hàng loạt tài liệu về các trưng bày liên quan tới nô lệ, nhân kỷ niệm 250 năm lập quốc. Một tuần sau, Tổng thống lên mạng xã hội quở trách các bảo tàng của Smithsonian đã “quá nhấn mạnh vào chuyện đất nước tệ hại ra sao, nô lệ kinh khủng ra sao, và đám bị áp bức thì chẳng làm nên trò trống gì.”

Stevenson nói rõ: mục tiêu của Legacy không phải là xử án Alabama như một miền đất không thể cứu vãn, vĩnh viễn bị quá khứ trói buộc. Alabama là nơi ông yêu, là quê hương ông. Ông tin nó có thể khác đi; nhưng chỉ khi nào người ta dám nhìn thẳng. “Tôi không nghĩ nô lệ phải là bản án chung thân cho Alabama,” ông nói. “Nếu chúng ta đủ can đảm để nói thật về nó, nó sẽ không còn là cái bóng ám chúng ta nữa. Nhưng nếu cứ né tránh, chúng ta không thể hiểu mình là ai.”

Bảo tàng Legacy được dựng ngay trên nền một kho chứa bông cũ, nơi xưa kia người nô lệ bị buộc phải làm việc. Những thứ đầu tiên khách gặp là các đầu tượng bằng đất, hình những người Phi châu bị bắt, trồi lên từ mặt đất, nhiều cái bị xiềng quanh cổ, phía sau là sóng biển tái hiện trên các màn hình.

Những trưng bày kế tiếp lần theo dấu nô lệ trên khắp xứ Mỹ: một đạo luật ở Delaware cấm người da đen tự do dời tới tiểu bang; một bản thống kê cho thấy vào năm 1730, gần phân nửa người da trắng ở New York sở hữu ít nhất một người nô lệ; một con số khác nhắc rằng giữa thế kỷ XVIII, bảy phần mười dân ở Charleston là nô lệ.

Trong một căn phòng kế tiếp, những hình bóng mờ ảo hiện lên trên tường, vừa hiện ra vừa hát những bài thánh ca của nô lệ trong các trại giam cũ. Tôi đứng đó cạnh một người đàn ông và cô con gái nhỏ, nhìn một hình bóng đàn bà cất giọng ca não lòng. Con bé áp sát vào cha, vòng tay ôm lưng ông; bàn tay ông đặt lên vai con.

Sau phần nói về nô lệ, bảo tàng đưa người xem sang những thập niên sau giải phóng, không phải như một con đường thênh thang đi lên, mà như một thời kỳ kinh hoàng kéo dài, với những cuộc treo cổ công khai. Một trong những chỗ khiến người ta lặng đi là bức tường chất kín những hũ đất – mỗi hũ chứa nắm đất lấy từ chỗ từng có người bị treo cổ. Đi dọc bức tường, tôi để ý màu và chất của từng hũ đất: chỗ thì đỏ quạch, chỗ vàng nhạt lẫn sỏi, chỗ đen mịn như cát. Mỗi hũ là một tên người, một ngày tháng, một thị trấn.

Một bức ảnh khác chiếm trọn chiều cao một bức tường là tấm hình nổi tiếng “Lưng roi” (Scourged Back) chụp một người nô lệ tên Peter, lưng chi chít sẹo roi, được in ra vào giữa cuộc Nội chiến, không lâu sau Tuyên ngôn Giải phóng. Từ những bản in nhỏ mua bán ở các thành phố miền Bắc, bức ảnh lên trang tờ Harper’s, lần đầu cho nhiều người Mỹ thấy thân xác người nô lệ bị hành hạ ra sao. Nó trở thành một trong những hình ảnh mang tính quyết định đối với phong trào bãi nô.

Chính tấm hình ấy, mới đây, đã bị gỡ khỏi một công viên quốc gia, do thi hành một sắc lệnh Tổng thống yêu cầu “chỉnh lý” cách nói về nô lệ tại các nơi công cộng. Khi người ta dời một bức ảnh khỏi tường, lịch sử không vì thế mà mất đi; nó chỉ dồn thêm sức nặng vào những nơi vẫn còn dám treo nó lên.
Cách bảo tàng Legacy không xa là “Tòa Bạch Ốc thứ nhất của Liên bang miền Nam”, nơi Jefferson Davis và gia đình ông ta từng sống trong những ngày đầu ly khai. Nơi này được tiểu bang Alabama rót ngân sách thường xuyên, với sứ mạng được ghi thẳng vào luật tiểu bang: “giữ gìn di vật Liên minh miền Nam và nhắc nhở cho muôn đời tinh thần cao cả của các chính khách và chiến sĩ miền Nam.” Nhiều phóng sự đã cho thấy trẻ em Alabama được đưa đến đây nghe kể về một “cuộc kháng chiến anh hùng” và một ông Tổng thống Davis “được bầy nô lệ yêu quý và kính trọng.”

Stevenson nhớ lại: “Khi tôi dọn đến Montgomery hồi thập niên 80, trong thành phố có năm mươi chín bia và tượng đài vinh danh Liên minh miền Nam. Nhưng dù đây từng là một trong những chợ nô lệ lớn nhất nước trước Nội chiến, anh không tìm thấy ở đâu trong cảnh quan thành phố ba chữ ‘nô lệ’ hay ‘nô dịch’.”

Tôi hỏi ông: nước Mỹ có nên có một bảo tàng quốc gia công lập dành riêng cho lịch sử nô lệ – bên cạnh bảo tàng của Smithsonian – hay nên để các nơi tư nhân như Legacy tiếp tục gánh phần việc ấy? Ông suy nghĩ một lát rồi đáp: “Tôi không chắc chúng ta đã sẵn sàng cho một nơi được nhà nước bảo trợ mà lại nói thật về lịch sử nô lệ. Nhà nước có thể dựng một ‘không gian’ nào đó, nhưng tại sao ta lại trông đợi nó là một ‘không gian nói thật’?” Ông gõ nhẹ ngón tay xuống mặt bàn. “Chừng nào chúng ta chưa tới chỗ người ta thấy việc nói thật lịch sử là lợi ích của chính nhà nước, thì sẽ vô cùng khó để sự thật đi qua được những cánh cửa ấy.”

Buổi chiều hôm đó, trong bảo tàng, tôi gặp một gia đình da đen có ba đứa con. Hai đứa lớn đi chậm rãi từ tấm hình này sang tấm hình khác. Đứa nhỏ nhất, một cậu bé chừng bảy tuổi, đứng giữa cha mẹ, đọc to từng dòng chú thích; mẹ em giúp em những chữ khó. Họ dừng lại trước một bức ảnh chụp một cậu bé da trắng chừng tuổi cậu bé trong bảo tàng, đứng dưới đôi chân đong đưa của một người đàn ông da đen bị treo trên cây; gương mặt người đàn ông nằm ngoài khuôn hình. Cậu bé trong bảo tàng nhìn thẳng vào mắt cậu bé trong tấm hình. Tôi nghe cha mẹ em khẽ giải thích: “Ngày xưa, người ta còn dắt cả con nít đi xem treo cổ.” Người cha vuốt nhẹ đầu con trai; rồi cả nhà tiếp tục bước tới gian kế tiếp.

Giữa những bước chân lặng lẽ ấy, người ta hiểu: dù ai đó có ký bao nhiêu sắc lệnh để dời bớt một tấm bảng, cấm một bức ảnh, cắt vài hàng chữ trong sách giáo khoa, thì vẫn còn đó những tấm lưng sẹo, những hũ đất, những trụ thép, và nhất là những đứa trẻ nhìn vào những đôi mắt trong ảnh. Những kẻ muốn xoá bỏ lịch sử, sau cùng, sẽ không thành công. Lịch sử đã khắc vào đất, vào thân người, và vào lương tâm những ai còn chịu đọc, chịu nhìn.

Cung Đô tóm lược
Nguồn: biên dịch theo bài của Clint Smith đăng trên nguyệt san The Atlantic, số ra ngày 19-1-2026.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.