Hôm nay,  

Đọc Kinh luận, cần đối chiếu

27/02/202312:46:00(Xem: 12162)
blank

Đọc Kinh luận, cần đối chiếu

 

Nguyên Giác

 

Bài này được viết để mời gọi Phật tử siêng năng đọc Kinh, đọc Luận, đọc các bài viết về Phật học, kể cả trong tiếng Việt và tiếng Anh, đối chiếu Kinh luận để làm sáng tỏ lời Đức Phật và để tu học. Chúng ta có thể để ý, nhiều bài viết về Phật học hiện nay trên mạng phần lớn dựa vào các sách đã ấn hành nửa thế kỷ trước tại Việt Nam, trong khi đã có nhiều nghiên cứu mới xuất hiện gần đây trên thế giới chiếu rọi thêm nhiều vấn đề mới. Thêm nữa, trong khi đọc, nên tìm nhiều nguồn để đối chiếu, để gạn lọc những thông tin khả vấn, và để tìm những hướng dẫn khả dụng cho đường tu học của mình. Bài viết này sẽ nêu vài đề tài ít được nói tới, chủ yếu chỉ để giúp nhau thông tin trên đường tu học. Nếu trong bài có điểm sai, người viết xin chân thành sám hối và hoan hỷ đón nhận các lời chỉ giáo.

 

Gần đây, có bạn thắc mắc rằng tại sao những bài viết tiếng Việt, và cả tiếng Anh, trong những thập niên gần đây không đề cập tới 40 đề mục thiền tập, như một số luận thư cổ điển từng nói tới. Để trả lời ngắn gọn, rằng người viết (tu học chẳng bao nhiêu, nên) không có thẩm quyền để đưa ra câu trả lời chính xác, nơi đây chỉ là góp vài ý kiến, sau khi tìm đọc về câu hỏi này, và một số câu hỏi khác. Độc giả được mời gọi để đọc trực tiếp lời Đức Phật dạy trong Kinh, trong khi nên xem lời dạy trong các Luận thư, kể cả A Tỳ Đàm, chỉ là để tham khảo như lời diễn giải và chỉ nên ghi nhớ những gì phù hợp với lời Đức Phật dạy trong Kinh.

 

Nhóm 40 đề mục thiền tập nằm trong phần tập Định của một luận thư nổi tiếng -- Bộ Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhi-magga, tiếng Anh: The Path of Purification) gồm 3 quyển, do ngài Phật Âm (Buddhaghosa) soạn vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5, và được đưa vào Đại tạng kinh thuộc Nam truyền, quyển 62-64. Theo ngài Thanissaro, một nhà sư theo truyền thống Phật Giáo Nam Truyền Thái Lan đã từng dịch phần lớn Kinh Tạng Pali sang tiếng Anh, luận thư vừa nói có nhiều điểm không thấy trong Kinh Phật, đặc biệt khi nói về các pháp định thì luận thư này “chỉ giống chút xíu với mô tả trong Kinh Phật” (that bear little resemblance to the canonical description).

 

Nhà sư Thanissaro viết trong tác phẩm “Wings to Awakening” nơi Chương F. Định và Tuệ, ghi rằng luận thư “The Path of Purification” dạy phương pháp vào định bằng nhìn chăm chú vào các kasina, trích dịch như sau:

 

“…thực tế là các luận thư chú giải định nghĩa về định (jhana) theo những thuật ngữ chỉ giống chút xíu với lời Đức Phật dạy trong Kinh. Sách Thanh Tịnh Đạo—nền tảng của hệ thống luận thư—lấy một phương pháp tiêu chuẩn cho thiền định gọi là kasina nơi đây học nhân nhìn chăm chú vào một vật ngoại thân cho tới khi hình ảnh của vật đó in sâu vào tâm của học nhân. Hình ảnh đó sẽ khởi lên một tướng đối trọng (countersign) mà tướng này là biểu thị đạt tới ngưỡng định, một bước đầu cần thiết vào định (jhana).

 

Sau đó, sách này cố gắng đưa tất cả các phương pháp thiền khác vào khuôn mẫu này, để chúng cũng tạo ra các tướng đối trọng, nhưng ngay cả luận thư đó cũng nhìn nhận, thiền hơi thở không phù hợp lắm với khuôn mẫu. Với các phương pháp khác, sự tập trung của học nhân càng mạnh, vật được nhìn càng sinh động và càng gần với việc tạo ra một tướng đối trọng; nhưng với hơi thở, sức tập trung càng mạnh, hơi thở càng vi tế và càng khó dò ra hơi thở. Kết quả là, bản văn nói rằng chỉ có chư Phật và những người con của chư Phật mới thấy hơi thở là một điểm tập trung an lạc thích hợp để đắc định.

 

Không có khẳng định nào trong các điểm vừa dẫn được ghi trong Kinh Phật. Mặc dù một pháp thực hành gọi là kasina được nhắc tới chỉ chút xíu trong vài Kinh, nơi duy nhất được mô tả chi tiết [trong Kinh MN 121] lại chẳng nói gì về chuyện nhìn chăm chú vào một vật thể, hay là chuyện đạt tới một tướng đối trọng.

Nếu thiền hơi thở chỉ phù hợp với Đức Phật và những người con của Đức Phật, thì dường như không có lý do gì để Đức Phật dạy thiền hơi thở thường xuyên và cho nhiều người như vậy.

 

Nếu sự khởi lên của một tướng đối trọng là cần thiết để đắc định, học nhân sẽ mong đợi nó được [Đức Phật kể lại] trong các bước về thiền hơi thở và trong các phân tích sinh động được dùng để mô tả định, nhưng thực tế không như thế. Một số người Theravada nói rằng chất vấn các luận thư là một dấu hiệu bất kính đối với truyền thống, nhưng nó như dường là một dấu hiệu của sự bất kính lớn hơn đối với Đức Phật – hay đối với những vị sư kết tập Kinh điển - khi cho rằng Đức Phật hoặc họ [các nhà sư kết tập Kinh điển] đã bỏ sót những gì rất cốt tủy trong phương pháp vào định.” (1)

 

Khi Kinh và Luận trái nghịch nhau, chúng ta nên tin vào Kinh, vì Kinh là lời Đức Phật dạy, còn Luận là hậu tác, do quý ngài đời sau viết để chú giải lời Phật dạy. Nơi đây, xin nói rõ rằng, người viết đã đọc, và tự thân đã học rất nhiều từ luận thư “Thanh Tịnh Đạo” – đặc biệt là các pháp quán vô thường. Do vậy, những thắc mắc nên được độc giả tìm đọc, nghiên cứu, đối chiếu, và thậm chí nên thử nghiệm qua thực hành để xem thân tâm mình thích nghi với pháp nào. Độc giả có thể đọc bản dịch “Thanh Tịnh Đạo” của Ni Trưởng Trí Hải ở đây (2).

 

Người viết xin đề nghị thêm, bạn có thể đọc song song “Thanh Tịnh Đạo” (luận thư của Nam Truyền) cùng lúc với “Trung Luận” (tác phẩm của ngài Long Thọ, luận thư của Bắc Truyền) và rồi đối chiếu với Kinh Tạng Nikaya và Tạng A Hàm. Điều may mắn là, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu đã dịch “Trung Luận” xong, và bằng ngôn phong dễ hiểu, đơn giản, có thể tu tập được. Nên ghi nhận rằng Trung Luận còn được gọi là nền tảng cho Đốn giáo Thiền Tông, để rồi từ Trung Luận xuất hiện ngài Huệ Năng (638-713) ở Trung Hoa với Thiền pháp “không tác ý, dù là tác ý thiện hay ác, dù là tác ý lành hay dữ” và rồi gần đây là Ni Trưởng Trí Hải (1938 – 2003) ở Việt Nam với Thiền pháp Người Gỗ. (3)

 

Bạn có thể tu cùng lúc nhiều pháp mà không ngăn ngại gì, để rồi sẽ thấy mình thích nghi với pháp nào. Thí dụ, hôm nay bạn ngồi tập thở, ngày mai bạn ngồi quán thọ, ngày mốt tập thiền đi bộ, ngày kia nữa tập quán vô thường, ngày kia kia nữa thì quán vô ngã, và vân vân. Bạn cũng sẽ hạnh phúc khi thực tập pháp quán vô thường như dạy trong “Thanh Tịnh Đạo” và cũng sẽ hạnh phúc khi nhập lý được “Trung Luận” để hồn nhiên đi đứng nằm ngồi trong cái thấy thường trực là không có ai đang đi đứng nằm ngồi.

 

Thực ra, không chỉ các luận thư cổ xưa mới có chỗ không tương thích với Kinh Phật. Ngay trong vài sách của các vị danh tăng cận đại, chúng ta cũng thấy có một số dị biệt với Kinh Phật. Thí dụ, như trong sách “The Jhanas in Theravada Buddhist Meditation” (Các tầng thiền trong Thiền pháp Phật giáo Theravada) của cao tăng Henepola Gunaratana, cũng có một số chỗ khả vấn, (xin dè dặt nói rằng) có vẻ như không tương thích với lời Đức Phật dạy.

 

Nơi đây, xin trích từ  (Chương "The Good Friend and the Subject of Meditation") trong sách vừa dẫn để phân tích về các điểm khả vấn: “The ten kasinas and mindfulness of breathing, owing to their simplicity and freedom from thought construction, can lead to all four jhanas. The ten kinds of foulness and mindfulness of the body lead only to the first jhana, being limited because the mind can only hold onto them with the aid of applied thought (vitakka) which is absent in the second and higher jhanas. The first three divine abidings can induce the lower three jhanas but not the fourth, since they arise in association with pleasant feeling, while the divine abiding of equanimity occurs only at the level of the fourth jhana, where neutral feeling gains ascendency.” (4)

 

Chúng ta dịch như sau: “Mười pháp định kasiṇa và pháp thiền hơi thở, nhờ tính đơn giản và không có cấu trúc tư tưởng, có thể dẫn đến cả bốn tầng thiền. Mười pháp niệm về bất tịnh và pháp thân hành niệm chỉ đưa tới sơ thiền, bị giới hạn bởi vì tâm chỉ có thể trụ vào chúng với sự trợ giúp của tầm (vitakka: applied thought, placing the mind, đặt tâm vào), vốn vắng mặt trong tầng nhị thiền và cao hơn. Ba pháp thiên trú đầu tiên (tức là 3 phần đầu của Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi, Hỷ) có thể dẫn tới ba tầng thiền thấp hơn (tức là: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền) nhưng không phải là tứ thiền, bởi vì chúng khởi dậy cùng với thọ hỷ, trong khi pháp thiên trú về Xả (tức là: phần cuối của Tứ vô lượng tâm) chỉ xảy ra ở tầng tứ thiền, nơi thọ trung tính đạt được ưu thế.

 

Từ đoạn văn trên, chúng ta có thể có vài thắc mắc. Vì ngài Gunaratana viết rằng:

. Thiền pháp Thân hành niệm chỉ đưa tới tối đa là sơ thiền;

. Thiền pháp niệm bất tịnh chỉ đưa tới tối đa là sơ thiền;

. Ba phần đầu của Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ) không thể đưa tới tứ thiền.

 

Đọc Kinh kỹ lưỡng, chúng ta sẽ thấy không phải như thế. Trong khi ngài Gunaratana viết rằng Thân hành niệm chỉ đưa tới tối đa là sơ thiền (theo dẫn trên), Kinh MN 119 ghi lời Đức Phật rằng Thân hành niệm có thể dẫn tới tứ thiền và từ đó đoạn trừ lậu hoặc để giải thoát. Trích bản dịch Kinh Thân hành niệm MN 119 của Thầy Minh Châu như sau:
 

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.... 

... Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc.” (5)

 

Tương tự, Kinh  AN 1.576-615 ghi lời Đức Phật dạy rằng Thân hành niệm dẫn tới ít nhất là Nhị thiền (tầm, tứ được tịnh chỉ), chỉ một pháp Thân hành niệm có thể đưa tới chứng ngộ quả A la hán, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:
 

Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn...[] ...Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.” (6)

  

Tới thắc mắc thứ nhì, trong khi ngài Gunaratana viết rằng quán bất tịnh chỉ đưa tới tối đa là sơ thiền vì học nhân chỉ đứng lại với tầm (như dẫn trên), Đức Phật dạy trong Kinh AN 5.121 rằng quán bất tịnh không bị kẹt với tầm, và rằng khi quán bất tịnh câu hữu với quán vô thường sẽ có thể giải thoát ngay trong hiện tại. Trích bản dịch của Thầy Minh Châu như sau:

 

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.  Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.” (7)

 

Trong Trưởng Lão Ni Kệ Thig5.4, ni trưởng Nandā kể rằng vâng lời Phật dạy, ngài quán bất tịnh rồi thấy thực tướng (trong và ngoài thân), vào định (trạng thái an tịnh) và chứng Niết Bàn, theo bản dịch của ngài Bhikkhu Indacanda:
 

“‘Này Nandā, cô hãy nhìn thấy xác thân là bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối, hãy tu tập tâm được chuyên nhất, khéo được định tĩnh, về (đề mục) tử thi. Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy. Nó bốc mùi khó chịu, hôi thối, lại được hứng thú đối với những kẻ ngu. Trong khi xem xét xác thân này như thế, không biếng nhác, cả ngày lẫn đêm, từ đó, với trí tuệ của mình, sau khi đã phân thích thấu đáo, cô sẽ nhìn thấy.’

Tôi đây, không bị xao lãng, trong lúc đang suy xét theo đúng đường lối, đã nhìn thấy thân này đúng theo bản thể, cả bên trong lẫn bên ngoài. Rồi tôi đã nhàm chán xác thân, và tôi đã không còn luyến ái ở nội phần. Không bị xao lãng, không còn bị ràng buộc, tôi có được trạng thái an tịnh, chứng được Niết Bàn.” (8)

 

Bây giờ tới thắc mắc thứ ba, trong khi ngài Gunaratana viết rằng ba phần đầu của Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ) không thể dẫn tới tứ thiền (hàm ý, thiếu tâm Xả, không thể giải thoát), Đức Phật dạy trong Kinh SN 42.8 rằng, học nhân khởi tâm lìa tham sân si, giữ chánh niệm câu hữu với Tâm từ rải khắp tất cả các phương hướng, sẽ xóa được vô lượng nghiệp, và sẽ giải thoát không còn dư tàn. Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau:

 

Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại.” (Và tương tự với bi, hỷ, xả)

 (9)

 

Mặt khác, trong Kinh MN 52, Đức Phật dạy rằng, học nhân an trú trong Từ tâm vô lượng, bấy giờ mới suy nghĩ (tức là, còn tầm) rằng phải nhận ra các pháp vô thường, từ đây đoạn trừ lậu hoặc để giải thoát, nếu chưa giải thoát được thì cũng hóa sanh (tức là vào cõi trời của các bậc thánh Bất lai) và từ cõi này sẽ vào Niết bàn tuyệt đối. Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau:

 

Này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư và được biết: “Từ tâm giải thoát này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy do vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này.” (Tương tự với bi, hỷ, xả) (10)  

 

Cần ghi nhận rằng, ngài Gunaratana có công đã làm sáng tỏ nhiều lời dạy của Đức Phật trong Kinh điển. Thí dụ, cũng trong sách đã dẫn ở (4), ngài Gunaratana ghi về trường hợp Kinh Susima Sutta (Kinh SN 12.70) rằng “Textual evidence that there can be arahats lacking mundane jhana is provided by the Susima Sutta...” (Chứng cớ trong văn bản cho thấy có thể có các vị A la hán chưa từng đắc định thế tục nào được ghi trong Kinh Susima). Trường hợp này là giải thoát bằng huệ khô (càn huệ) vì chưa có định, chưa có thần thông, hoàn toàn chưa đắc gì hết chỉ trừ một cái thấy vô ngã thường trực.

 

Kinh SN 12.70 không dạy thở, không dạy quán bất tịnh, không dạy quán bốn tâm vô lượng, không dạy niệm thân thọ tâm pháp, mà chỉ dạy thường trực quán pháp ấn vô ngã, trích bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

"Cái gì thuộc sắc [thọ, tưởng, hành, thức] quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc [thọ, tưởng, hành, thức] cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Này Susīma, thấy như vậy, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”." (11)  

 

Chúng ta cũng thường xuyên gặp trong nhiều bài viết, và trong nhiều video trên YouTube, một ngộ nhận rằng Tứ niệm xứ là pháp duy nhất để giải thoát. Nếu bạn đọc Kinh kỹ lưỡng, bạn sẽ thấy không phải như thế. Chiến binh Mỹ được dạy thiền pháp tỉnh thức (mindfulness meditation) để khi ra chiến trường sẽ tỉnh thức đối phó với tất cả những nguy hiểm có thể gặp từ bốn hướng nơi mặt trận, nguy hiểm từ các bãi mìn dưới chân, nguy hiểm từ trên cao với các phi cơ từ xa và với các tay bắn tỉa mai phục nơi cao điểm. Hãy suy nghĩ rằng, một người lính bắn tỉa thường trực tỉnh thức như thế, có thể giải thoát hay không? Hẳn nhiên là không. Bởi vì mục tiêu là sẽ phạm giới sát sanh. Do vậy, Tứ niệm xứ không phải là pháp duy nhất để giải thoát.

 

Chúng ta thấy trong Kinh MN 52 đã dẫn trên, Đức Phật dạy 11 pháp giải thoát nơi link (10) trong đó, pháp giải thoát đầu tiên là chỉ cần vào sơ thiền rồi quán vô thường là vào Niết bàn, nếu còn lậu hoặc thì sẽ vào cõi bậc thánh Bất Lai trước rồi sẽ vào Niết bàn tuyệt đối sau, và 11 pháp không nói gì về Tứ niệm xứ, trích bản dịch của Thầy Minh Châu:

 

“...này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy suy tư và được biết: “Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này.” (10) 

 

Trong khi đó, nơi Kinh SN 22.80, Đức Phật nói rõ rằng hoặc là tu pháp Tứ niệm xứ, hoặc là tu pháp Thiền vô tướng đều có thể giải thoát. Trích bản dịch của Thầy Minh Châu:

 

Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định.” (12)

 

Tại sao có ngộ nhận rằng Tứ niệm xứ là pháp duy nhất để giải thoát? Ngộ nhận này nguy hiểm tới mức, có những học nhân sơ cơ đã chỉ trích các bậc tôn túc vì quý ngài đã không chịu nói như thế, vì quý ngài đã nói rằng Bát chánh đạo là con đường duy nhất để giải thoát. Kinh đầy đủ về Tứ niệm xứ là Kinh MN 10. Khi dịch Kinh này sang tiếng Anh, hai ngài Nyanasatta và Soma dịch rằng Tứ niệm xứ là con đường duy nhất (This is the only way) nhưng nhiều học giả khác nói rằng dịch như thế là sai, trích ghi chú 1 của ngài Thanissaro:

 

"1. Ekāyana-magga. Trong nhiều thập niên, cụm chữ này được dịch là “con đường duy nhất”, nhưng gần đây hơn—bắt đầu với Ven. Ñāṇamoli—các dịch giả đã nhận thấy rằng cụm từ ekāyana magga xuất hiện trong một loạt ví dụ ở Kinh MN 12 khi nó biểu hiện ý nghĩa thành ngữ của nó... Để những ví dụ có tác dụng, ekāyana magga đòi hỏi ý nghĩa, không phải là một con đường duy nhất, mà là một con đường chỉ đi đến một điểm đến duy nhất. Nói cách khác, một ekāyana magga là một con đường không có ngã rẽ—con đường mà, miễn là bạn đi theo nó, sẽ đưa bạn đến một mục tiêu đơn độc tất yếu (a single, inevitable goal)." (13)

 

. ngài Thanissaro (dhammatalks.org) dịch là: This is the direct path (Đây là con đường trực tiếp)

. quý ngài Ñanamoli & Bodhi (obo.genaud.net) dịch là: this is the direct path (như trên)

. ngài Suddhāso (suttacentral.net) dịch là: this is the one-way path (đây là con đường một chiều)

. ngài Horner (nt) dịch là: There is this one way (nt)

. ngài Sujato (nt) dịch là: the path to convergence (con đường hợp nhất [định-tuệ]).

 

Có một kỳ thư đã biến mất. Trong một cuộc thảo luận giữa các học giả trên mạng SuttaCentral, có nói về một cổ thư Tích Lan, liệt kê các Kinh mà người đương cơ tức khắc đắc quả A la hán, và cổ thư này đã lạc mất. Theo nhà học Phật sarana: “Có một cổ thư nhan đề là “Suttasangaha,” trước đây được bao gồm trong Khuddaka Nikaya (của Suttapitaka) trong Tam Tạng Kinh điển Sri Lanka, hoặc ít nhất đây là những gì tôi đã nghe ở đâu đó… Tôi cố gắng tìm quyển Suttasangaha này nhưng không tìm thấy... Lời giới thiệu của Bộ Chú giải Suttasangaha nói rằng đây là những bài kinh mà Đức Phật đã dạy cho mọi người mà nhờ đó mọi người đã giác ngộ ngay tại chỗ.” (14)
 

Giác ngộ ngay sau khi nghe lời Phật dạy? Chắc chắn là phải có Kinh Bahiya Sutta và nhiều kinh tương tự. Chúng ta thấy trong Kinh Tập, có 32 kinh thuộc dạng này, nghĩa là, ngay sau khi đối thoại xong với Đức Phật, 32 chàng trai Bà La Môn chứng quả A la hán. Và nhóm 32 Kinh này trở thành Kinh Nhật Tụng cho tăng đoàn trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp. (15)

 

Pháp đốn ngộ của Thiền Tông đã được Đức Phật nói minh bạch trong Kinh DN 25, trích bản dịch của ngài Minh Châu: “Này Nigrodha, đâu cần phải bảy năm! Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục tiêu vô thượng mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, chỉ cần có sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm… chỉ cần bảy tháng, một tháng, nửa tháng. Này Nigrodha, đâu cần có nửa tháng! Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo, chơn trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp. Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại, phạm hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, vị ấy chỉ cần có bảy ngày.” (16)

 

Đề tài này có nói cũng sẽ bất tận, vì Kinh Phật rất mực mênh mông và rất mực cao siêu. Nơi đây, chúng ta bàn về một trường hợp trong Thiền sử Việt Nam. Ngài Vô Ngôn Thông (759(?)-826) là một trường hợp độc đáo tại Việt Nam. Ngài từ Trung Quốc sang Việt Nam năm 820, ở tại chùa Kiến Sơ, ngày nay thuộc Hà Nội, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Ngài mất năm 826, và phái thiền của ngài kéo dài được 17 thế hệ. Theo truyền thuyết, khi tới chùa Kiến Sơ, suốt mấy năm liền ngài chỉ quay mặt vào vách toạ thiền và không ai biết tông tích của ngài. Vị trụ trì nơi đây là Cảm Thành thầm biết ngài là cao tăng đắc đạo nên hết sức kính trọng. Sắp sửa tịch, ngài gọi Cảm Thành đến nói kệ… Câu hỏi của chúng ta là, trong gần 6 năm hầu hết là ngồi tịch lặng tại Việt Nam, làm sao ngài truyền dạy Thiền Tông, và làm sao dòng Thiền này có đạo lực kéo dài tới 17 thế hệ?

 

Dĩ nhiên là phải có đạo lực rất mạnh, mới có thể truyền thừa tới 17 thế hệ. Nơi đây, chúng ta mời gọi nhau thực tập pháp vô ngôn. Đây là một phương diện của Thiền đốn ngộ, và ai cũng có thể tập được sau khi giữ giới nghiêm ngặt một thời gian. Thiền pháp này không cần ngồi. Thiền pháp này thực tập được ở đi đứng nằm ngồi. Trước tiên là ly dục, bạn đừng ham muốn gì hết, khởi tâm lìa tham, lìa sân. Đừng nghĩ gì hết trong tâm, đừng nghĩ gì tới thiện ác lành dữ, đừng nghĩ gì tới mọi chuyện khác, chỉ thấy hơi thở nhẹ nhàng, lặng lẽ nhìn tâm và thấy sự tịch lặng, không lời. Vô ngôn, có nghĩa là vẫn tỉnh thức, vẫn biết đang đi đứng nằm ngồi, nhưng vẫn tịch lặng, trong tâm lìa ngôn ngữ, lìa tiếng nói, lìa hình ảnh, lìa tất cả ký hiệu... Không có nghĩa là không làm gì hết. Dễ nhất là mỗi sáng dậy sớm, khoảng 3 hay 4 giờ sáng, chung quanh thế gian còn lặng lẽ, bạn pha trà, không cần ngồi Thiền, bạn chỉ ngồi uống trà và nhìn ra sân... Vô ngôn, không có nghĩa là không đọc, không viết. Chỉ có nghĩa là, bạn thường trực nhìn vào tâm và không thấy chữ gì trong tâm (dù là đang đọc sách), không thấy hình ảnh nào trong tâm (dù đang nhìn cây lá ngoài sân), không thấy trong tâm ký hiệu nào hay biểu tượng nào (lìa tất cả những ngón tay chỉ trăng). Nghĩa là nhìn vào tâm chỉ thấy rỗng lặng. Nghĩa là không mơ gì tương lai, không tiếc gì quá khứ, và không dính gì nơi hiện tại. Ban đầu bạn còn dựa vào tầm (hướng tâm nhìn vào cái vô ngôn trong tâm), còn tứ (dán tâm vào cái vô ngôn trong tâm), từ từ sẽ tới chỗ sơ thiền (tâm ly dục, có hỷ, có lạc, có tầm và tứ) và sau một thời gian sẽ tới nhị thiền khi thanh tịnh nhất tâm, có hỷ và lạc, trong khi tầm và tứ vắng bặt (còn gọi là im lặng bậc thánh, hay vô niệm)… Bạn sẽ thấy thân tâm mình chỉ là cái bình rỗng, cái bình tỉnh thức nhưng vô niệm, cái bình của danh sắc, cái bình của sắc thọ tưởng hình thức nhưng không chứa gì hết.

 

Trong Kinh nói, từ sơ thiền (hay từ nhị thiền), nếu quán vô thường, vô ngã… sẽ lìa lậu hoặc, chứng Niết bàn. Đó là Vô Ngôn Thông, là thấy mình như người gỗ, thấy mình như trâu bùn qua sông, là thường trực thấy trong tâm trống không và tịch lặng, trong tâm không có gì lưu giữ, trong tâm lìa tất cả lời nói, hình ảnh, ký hiệu, biểu tượng… Ai cũng có thể làm được như thế. Đó là hạnh phúc vô cùng tận.

 

GHI CHÚ:

(1) Thanissaro. Wings to Awakening. https://www.dhammatalks.org/books/Wings/Section0021.html

(2) Trí Hải. Thanh Tịnh Đạo: https://thuvienhoasen.org/a2859/thanh-tinh-dao-thich-nu-tri-hai

(3) Thiện Siêu. Trung Luận: https://thuvienhoasen.org/a15695/trung-luan-madhyamaka-sastra

Trí Hải. Thiền pháp Người Gỗ: https://thuvienhoasen.org/a36855/ni-truong-tri-hai-thien-phap-nguoi-go

(4) Gunaratana. The Jhanas in Theravada Buddhist Meditation. https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/gunaratana/wheel351.html

(5) Kinh Thân hành niệm MN 119: https://suttacentral.net/mn119/vi/minh_chau

(6) Kinh AN 1.576-615: https://suttacentral.net/an1.575-615/vi/minh_chau

(7) Kinh AN 5.121: https://suttacentral.net/an5.121/vi/minh_chau

(8) Thig 5.4, bản dịch Indacanda: https://suttacentral.net/thig5.4/vi/indacanda

(9)  Kinh SN 42.8: https://suttacentral.net/sn42.8/vi/minh_chau

(10) Kinh MN 52: https://suttacentral.net/mn52/vi/minh_chau

(11) Kinh Susima: https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau

(12) Kinh SN 22.80: https://suttacentral.net/sn22.80/vi/minh_chau

(13) Thanissaro. Kinh MN 10: https://www.dhammatalks.org/suttas/MN/MN10.html

(14) Thảo luận. https://discourse.suttacentral.net/t/suttasangaha-the-lost-book-of-khuddaka-nikaya/16500

(15) Kinh Nhật Tụng Sơ Thời. https://thuvienhoasen.org/a30590/kinh-nhat-tung-so-thoi

(16) Kinh DN 25: https://suttacentral.net/dn25/vi/minh_chau

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thực tế: các Thống đốc Cộng Hòa đếm lại từng lá phiếu trong 20 năm và chỉ thấy có 24 trường hợp người không phải công dân bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử ở Mỹ từ năm 2003 đến 2023. Cộng Hòa ghét phiếu phụ nữ vì họ bầu Dân Chủ cao hơn nam giới 12%. Hiện nay 1/3 phụ nữ có giấy tờ chứng minh quốc tịch nhưng sai tên hiện tại của họ, chủ yếu là do đổi tên khi kết hôn, dự kiến 34% phụ nữ có thể bị từ chối bỏ phiếu nếu không có đủ giấy tờ cần thiết; trong đó 80 triệu phụ nữ đổi tên theo họ chồng nhưng không ra tòa đổi tên đúng thủ tục.
Trước khi bước chân vào Trung tâm Xử lý Di trú Dilley mùa thu năm ngoái, bé Maria Vargas, 6 tuổi, là một đứa trẻ sống đúng nghĩa tuổi thơ: buổi sáng đến trường, buổi chiều về nhà ở New York, vừa vẽ vời vừa chơi với con mèo Milo, thỉnh thoảng ôm sách truyện đi ngủ trên chiếc ghế sofa trong căn hộ chật mà ấm. Chỉ vài ngày sau khi gia đình bị bắt và chuyển xuống trại Dilley ở miền Nam Texas, mọi thứ sụp đổ. Em bị bắt nhốt vào một nơi “giống nhà tù hơn là trung tâm chăm sóc”, lính gác đi lại suốt hành lang, ánh đèn trắng không bao giờ chịu tắt. Vốn đã bỏ tả từ lâu, em bỗng tè dầm trở lại, lúc thì ướt quần, lúc thì ướt cả chăn. Đêm nào Maria cũng khóc, hỏi mẹ bao giờ mới được về căn hộ của mình ở New York, về với cô giáo, với Milo. Có khi em còn van xin được… bú mẹ lại như hồi còn bé xíu, chỉ để tìm chút an toàn trong vòng tay mẹ.
Chính quyền T.T Trump đã đề xuất một thay đổi lớn về luật “gánh nặng xã hội”. Luật này được sử dụng để quyết định xem một người có đủ điều kiện để nhận thẻ xanh hoặc chiếu khán di dân hay không. Đề xuất này sẽ cho phép các viên chức Sở Di Trú từ chối đơn xin dựa trên đánh giá mang tính chủ quan của họ. Kể từ năm 1999, “Gánh nặng xã hội” đã có một định nghĩa rõ ràng: một người bị xem là gánh nặng xã hội nếu họ phụ thuộc chủ yếu vào chính phủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thông qua việc nhận (a) Trợ cấp tiền mặt (như SSI hoặc phúc lợi xã hội), hoặc (b) Chăm sóc dài hạn tại bệnh viện do chính phủ tài trợ.
Theo nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Trường Y Harvard thực hiện, đăng trên tập san y khoa Journal of the American Medical Association (JAMA), thói quen uống cà phê có caffeine hoặc trà mỗi ngày có liên quan đến nguy cơ sa sút trí tuệ thấp hơn, tốc độ suy giảm nhận thức chậm hơn và khả năng tư duy được duy trì tốt hơn theo thời gian. Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu quan sát dài hạn của gần 132.000 người trưởng thành khỏe mạnh tại Hoa Kỳ, được theo dõi từ đầu thập niên 1980 đến năm 2023. Nguồn dữ liệu lấy từ hai công trình lớn là Nurses’ Health Study và Health Professionals Follow-Up Study, bao gồm các y tá, bác sĩ và nhân viên y tế, những người được cập nhật đều đặn về thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống và tình trạng sức khỏe trong nhiều thập niên.
Khi Noah Hulsman, chủ một cửa hàng ván trượt ở Louisville, Kentucky, biết rằng mình không còn đủ điều kiện nhận trợ cấp liên bang để chi trả cho gói bảo hiểm y tế "Vàng" thuộc Đạo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Hợp Túi Tiền (ACA), người đàn ông 37 tuổi này đã chọn một gói bảo hiểm thấp hơn. Nhưng mức khấu trừ (deductible) của gói này chiếm tới khoảng 1/4 thu nhập hàng năm của anh. Một người khác, bà Loretta Forbes, nhận ra sẽ phải hủy gói bảo hiểm của mình sau khi phí bảo hiểm hàng tháng trên thị trường ACA tăng gấp mười lần vào năm 2026. Vì vậy, người phụ nữ 56 tuổi sống ở ngoại ô Nashville, Tennessee này đã bắt đầu phải hạn chế các loại thuốc trị viêm khớp dạng nhẹ của mình. Chồng của bà, ông Jim, đã nghỉ công việc thợ sửa chữa vặt mà ông chỉ vừa mới bắt đầu để tìm kiếm một công việc có chế độ bảo hiểm.
Từ một tiệm bán len nhỏ mang tên Needle & Skein, giữa lòng thành phố Minneapolis đang nhiều xao động, một phong trào đặc biệt khởi lên: chiếc mũ len đỏ có dòng chữ “Melt the ICE” – “Làm tan ICE,” tượng trưng cho tiếng nói phản đối các hành động cứng rắn của cơ quan Di trú và Hải quan Hoa Kỳ. Vài tuần trước, không khí ở tiệm vốn đầy tiếng cười của những người đan len thân quen bỗng trở nên nặng nề. Tin dữ về Renee Good, một công dân Mỹ thiệt mạng trong vụ nổ súng có dính líu đến nhân viên ICE, rồi đến Alex Pretti bị bắn chết sau đó, khiến nhiều người Nguyễn tê tái. “Người Minnesota thường không nói thẳng, nhưng chỉ nhìn nhau là biết có chuyện lớn,” anh Paul Neary, nhân viên của tiệm, kể lại.
Niềm vui trong mùa xuân theo truyền thống của dân tộc Việt là những thời khắc nghỉ ngơi sau các vụ mùa, hành hương các kiểng chùa, để rồi ngồi thư giãn với tách trà, nhìn ngắm hoa mai, cành đào... Và dĩ nhiên, còn nhiều niềm vui khác khi gió xuân thổi tới. Bên câu đối đỏ chúc cho năm mới an vui, cũng là những dòng thơ mang nhiều đạo vị, những dòng thơ khi đọc lên là thấy hỷ lạc, an bình. Như thế, tập thơ Một Đóa Trà My của nhà thơ Thiện Trí đã hiển lộ
Cộng đồng người Việt hải ngoại trong dịp kỷ niệm 50 năm Tháng Tư Đen đã phẫn nộ khi chính quyền CSVN vẫn bóp méo lịch sử, diễn giải lịch sử theo hướng có lợi cho “bên thắng cuộc”. Và năm nay, nhân dịp 250 năm lập quốc Hoa Kỳ, những cộng đồng da màu đang chứng kiến chính quyền Mỹ làm điều tương tự, bóp méo, viết lại lịch sử cho người da trắng.
-- Minnesota: Chính Quyền Trump Tuyên Bố Chấm Dứt Đợt Bố Ráp Di Trú Liên Bang Kéo Dài Hơn Hai Tháng. -- Hạ Viện Thông Qua SAVE America Act. -- Sở Thuế Vụ Tiết Lộ 47,000 Hồ Sơ Cho DHS. -- Các Nạn Nhân Trong Vụ Epstein Phẫn Nộ Trước Thái Độ Của Pam Bondi. -- Từ 1/3, Sở Hữu Thẻ Xanh Không Còn Được Vay Vốn SBA. -- Chính Quyền Trump Đuổi Công Tố Viên Do Hội Đồng Thẩm Phán Bổ Nhiệm. -- Trump "Cấm Cửa" Hai Thống Đốc Dân Chủ Khỏi Buổi Họp Tại Tòa Bạch Ốc. -- FDA Bác Đơn Xin Cấp Phép Vắc-xin Cúm mRNA Của Moderna. -- Chính Quyền Liên Bang Siết Chặt Nguồn Tiền Nước Ngoài Đổ Vào Các Đại Học Mỹ. -- Trump Dùng Ngân Sách Quốc Phòng Để "Cứu" Ngành Điện Than. -- Boston: Chính Sách Chủng Ngừa Của RFK Jr. Sẽ Gặp Thẩm Phán Từng Chặn Trump. -- Gallup Ngưng Thăm Dò Mức Tín Nhiệm Tổng Thống Sau Gần 90 Năm. -- Apple News Bị Cáo Buộc Thiên Vị Cánh Tả, FTC Gửi Thư Cho Tim Cook. -- Công Ty Phụ Kiện Súng Bồi Thường 1.75 Triệu MK Vụ Thảm Sát Buffalo...
LA MESA, California (VB) — Một bác sĩ gốc Việt ở La Mesa (quận San Diego, California) đã bị khiển trách công khai vì đã kê đơn thuốc cho một bệnh nhân có tiền sử dị ứng, dẫn đến cái chết của bệnh nhân này, theo bản tin đài CBS 8.
mỗi ngày quên thêm vài chữ mở kinh học lại từng dòng trí nhớ làm như vô sự hơi đâu mà thuộc sắc không mỗi ngày lùi thêm vài tuổi thấy mình thơ dại hơn xưa tóc trắng còn bay mấy sợi nghe chim cổ tích ban trưa
-- Bồi thẩm đoàn từ chối truy tố 6 dân cử Dân chủ vì video kêu gọi quân đội “khước từ lệnh bất hợp pháp” của Trump. -- Chính quyền Trump hạ cờ cầu vồng ở Stonewall, giới hoạt động LGBTQ+ phẫn nộ. -- Mỹ: Việc Làm Cải Thiện, Nợ Công Vẫn Bị Cảnh Báo Vượt Kỷ Lục Lịch Sử. -- “Hồ sơ Epstein” mới lộ thêm các mối liên hệ của Trump, Lutnick và em trai Elon Musk. -- Trump cho luật sư “Stop the Steal” xem tin mật bầu cử 2020, giới an ninh lo bị lạm dụng. -- Thăm dò: Dân Mỹ quay lưng với chính sách nhập cư – trụ cột của ông Trump -- Dân biểu Cộng Hòa đòi điều tra Bad Bunny vì tiết mục Super Bowl “đáng lo ngại”. -- Hoa Kỳ Tụt Hạng Trong Bảng Xếp Hạng Tham Nhũng Toàn Cầu. -- Pam Bondi bị tố để lộ danh tính nạn nhân trong hồ sơ Epstein. -- Liên Hiệp Quốc thúc Mỹ trả gần 4 tỷ đô nợ, cảnh báo nguy cơ mất quyền biểu quyết. -- Trump nói chống thôn tính West Bank nhưng né chi tiết. -- ICE sẽ tham gia an ninh World Cup 2026, dấy lo ngại siết di trú mùa đá bóng. -- Trump dọa cắt hơn 1,5 tỷ
Mẹ, Bà Nội, Bà Ngoại, Bà Cố của chúng tôi: Bà quả phụ NGUYỄN ĐÌNH LIỄN, Nhũ danh PHAN THỊ ĐINH, Pháp danh Nguyên Thủy, Sinh ngày 23 tháng 7 năm 1932 tại Bao Vình, Hương Trà, Thứa Thiên. Mất ngày 8 thăng 2 năm 2026 tại Villa Park, California. Hưởng đại thọ 93 tuổi Tang lễ sẽ được cử hành vào ngày thứ Bẩy 28 tháng 2 năm 2026 tại Fairhaven Memorial Park & Mortuary, 1702 Fairhaven Avenue, Santa Ana, California 92705. Từ 9:00 A.M tới 1:00 P.M
Pew: bây giờ chỉ còn 34% Công giáo da trắng (giảm 5%), 14% Công giáo gốc Tây Ban Nha (giảm 8%), 40% Tin Lành da trắng (giảm 15%) tin Trump hành xử có đạo đức.
Khoác lên người những tấm y màu vàng cam, gần hai chục tăng sĩ Phật giáo đã đặt chân đến Washington, D.C. vào thứ Ba, kết thúc hành trình “Walk for Peace” dài 2.300 dặm xuyên qua chín tiểu bang – một cuộc “hành hương tâm linh” được hàng ngàn người dân Mỹ chào đón nồng nhiệt dọc đường đi., theo tin từ Reuters. “Tôi nghĩ trong tình cảnh đất nước và thế giới bây giờ, ai yêu chuộng hòa bình cũng phải tìm mọi cách để tỏ bày lập trường,” ông Bob Anderson, 74 tuổi, cư dân hạt Gloucester, Virginia, nói tại một điểm dừng chân ở Richmond hôm 3 tháng Hai. “Đây là một cách rất đẹp, nên tôi có mặt ở đây.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.