Hôm nay,  

Tưởng Nhớ ‘Ông Xếp Lớn’ Người Úc Và Những Nẻo Đường Việt Nam

07/01/202608:24:00(Xem: 1543)
greg dodd
Greg Dodds (đứng thứ tư từ phải hàng dưới) chụp cùng nhân viên Phòng Thương Vụ Úc Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 1990s

Cách đây vài năm, tin ông Gred Dodds qua đời ở tuổi 71 tại Perth (Úc Đại Lợi) được truyền đi nhanh chóng trong giới ngoại giao, thương mại Úc. Nhóm cựu nhân viên Austrade (Phòng Thương Vụ Úc) người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email thông báo cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.

 

Trên trang web của Austrade có nhắc lại về tiểu sử của Greg Dodds. Ông là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển thương mại của Úc tại Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Bắc Á với các thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan. Ông bắt đầu làm việc tại Austrade từ năm 1985 khi được bổ nhiệm làm Tham tán Thương mại Cao cấp tại Tokyo, phụ trách thị trường Nhật. Dưới thời ông, quan hệ thương mại Nhật- Úc phát triển mạnh mẽ. Đến giữa thập niên 1990s, ông trở thành Tổng Giám đốc Điều hành Austrade khu vực Đông Bắc Á, văn phòng cũng đặt tại Tokyo. Trong suốt nhiều năm làm việc tại Austrade, Greg được thủ tướng, doanh nhân, đồng nghiệp Úc đánh giá cao, kính trọng vì tầm nhìn và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Ông là người góp công nâng tầm quan trọng của Austrade trong việc hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Úc, đặc biệt ở Châu Á. Ông truyền cảm hứng cho những người làm việc chung với mình; giúp nhiều nhân viên phát huy hết tiềm năng cá nhân; khuyến khích mọi người suy nghĩ rộng hơn, sáng tạo hơn trong công tác xúc tiến thương mại. Ông về hưu khoảng giữa những năm 2000s.

 

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á cùng với Singapore, Mã Lai, Thái Lan…, là một sự phân chia hợp lý thường thấy về phương diện địa lý, kinh tế. Tuy nhiên, khi lên nắm vai trò lãnh đạo Austrade vùng Đông Bắc Á, Greg quyết định chuyển Việt Nam vào khu vực của mình. Lập luận của ông là Việt Nam có nền văn hóa giống với Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. Dân tộc Việt Nam sử dụng đũa, chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh, có chữ Nôm cùng nguồn gốc với chữ Hán… Do có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn, đề nghị của ông dễ dàng được chấp nhận. Về mặt thương mại, từ thời ông trở đi, người Việt Nam bắt đầu thấy thịt bò Úc, bò giống Úc, rượu Vang Úc xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường. Học sinh Việt Nam bắt đầu chọn Úc để đi du học nhiều hơn. Còn trong nội bộ Austrade, do Việt Nam thuộc khu vực thị trường quan trọng nhất, cho nên nhân viên được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

 

Đối với Austrade Việt Nam, ngoài vai trò là một ông “xếp lớn của vùng”, Greg còn có nhiều tình thân hơn. Ông từng phục vụ trong quân đội Úc 10 năm trong chiến tranh Việt Nam tại một đơn vị tình báo chiến trường. Vào năm 2019, ông hoàn tất và cho xuất bản cuốn hồi ký Ships in the Night, có nhắc đến giai đoạn này. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông có cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Đưa Việt Nam vào vùng Đông Bắc Á, Greg có cơ hội trở lại Việt Nam để làm việc, có dịp thăm lại khu vực chiến trường xưa ở Long Tân thuộc Bà Rịa Vũng Tàu, nơi quân đội Úc đóng quân trong thời chiến. Nghe nói ở Nhật, nhân viên Austrade cả Úc lẫn Nhật đều sợ ông như “sợ cọp”! Nhưng đến Việt Nam, ông xuề xòa, dễ dãi, thường hay nói chuyện với nhân viên người Việt.

 

Greg yêu văn hóa Việt Nam. Trong một lần tổ chức “team building” cho nhân viên Autrade Đông Bắc Á ở Nha Trang vào khoảng năm 2004, nhân viên Việt Nam với tư cách chủ nhà có thực hiện một hoạt cảnh Dân Ca Ba Miền trong tiệc khai mạc. Khi hát bài dân ca Miền Bắc Qua Cầu Gió Bay, nhân viên các quốc gia khác cử đại diện lên “cởi áo, cởi nhẫn, cởi nón cho nhau” để hiểu người Việt yêu nhau chia sẻ như thế nào. Dân ca Miền Trung là bài Lý Chiều Chiều để thấy giọng buồn xứ Huế. Dân Ca Miền Nam là bài Đèn Cao Châu Đốc, Gió Độc Gò Công; tất cả người tham dự được tập để cùng hát chung câu “Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ…” Sau màn trình diễn này, Greg và nhân viên từ các quốc gia khác khen ngợi team Việt Nam giàu tinh thần văn hóa.

 

 Austrade Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn, nằm trong tòa đại sứ và tổng lãnh sự Úc. Trong những lần sang Việt Nam, Greg thường dành nhiều thời gian trong Sài Gòn hơn. Tôi là nhân viên của Autrade Sài Gòn từ năm 2001 đến 2006, cho nên có dịp gặp “xếp lớn” ở văn phòng. Tôi có một bộ bản đồ đường bộ quân sự bốn vùng chiến thuật rất chi tiết. Biết ông là cựu quân nhân Úc tham chiến ở Việt Nam, có lần tôi đem bản đồ vào cho ông xem. Ông rất thích, nhờ photo một bộ để giữ làm kỷ niệm. Cũng từ đó, ông biết tôi thích đi du lịch bằng đường bộ, đã đi qua rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam, thích khám phá những khu vực xa xôi hẻo lánh. Ông nói để khi có dịp đi công tác ở Miền Nam, ông sẽ nhờ cùng tháp tùng bằng xe hơi thay vì đi máy bay như hầu hết các xếp Úc khác. Thế là hành trình trên những nẻo đường Việt Nam với ông “xếp lớn” cựu chiến binh Úc bắt đầu.

 

Khi chọn đường bộ để đi làm việc xúc tiến thương mại, Greg đề nghị nếu được thì chọn những tuyến đường đi qua những khu vực từng là chiến trường xưa. Đa số những đoạn đường này còn hoang sơ, chưa phát triển vào đầu thập niên 2000s. Có lần trong một chuyến đi công tác Miền Trung, các điểm đến làm việc là Đà Lạt, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng. Chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn đi Đà Lạt qua quốc lộ 20; sau đó dùng quốc lộ 27 để đi Ban Mê Thuộc; rồi dùng quốc lộ 14 đi qua Pleiku, Kontum; theo quốc lộ 24 đổ từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi; rồi theo quốc lộ 1 đến Đà Nẵng. Đó là một chuyến đi đáng nhớ, qua những đoạn đường hoang vắng tuyệt đẹp mà chính tôi cũng chưa từng đi qua. Quốc lộ 27 vào thời đó còn rất xấu, chưa được sửa chữa từ sau chiến tranh, nên rất ít xe cộ qua lại. Xe của Phòng Thương Vụ Úc là chiếc Toyota Land Cruiser mới toanh, biển số ngoại giao đỏ. Với chiếc SUV chuyên vượt địa hình này, hai thầy trò cùng bác tài rong ruổi qua những cánh rừng thông hoang sơ, có những đoạn qua những con suối chảy, thác đổ từ trên sườn núi dọc bên đường. Trên 200 km đường đi hầu như chỉ có một mình xe chúng tôi vượt qua những đoạn đường hiểm trở. Có lúc cảnh đẹp quá, Greg nói tài xế dừng lại để hút thuốc lá, ngắm cảnh. Còn khó đi hơn là quốc lộ 24, đoạn đổ đèo Măng Đen từ Kon Tum xuống Ba Tơ Quảng Ngãi. Thời đó đường đèo xấu, hẹp, chỉ đi được mỗi bên một xe, mà xe này đi thì xe bên kia phải ngừng lại để tránh. Có những cây cầu bắc qua vực với thành cầu mục, rỉ sét, xe qua phải thật chậm. Bác tài dày dạn kinh nghiệm mà cũng nói rằng chưa bao giờ đi đoạn quốc lộ nào hiểm trở đến thế! Nhưng cũng tuyệt đẹp, với cảnh núi rừng nguyên sinh Trường Sơn trùng điệp thật ngoạn mục. Nghe nói hiện nay Măng Đen đã được xây dựng, phát triển thành một khu du lịch mới của Kontum. Greg còn sống chắc thế nào cũng trở lại thăm nơi này.

 

Một chuyến đi nữa cũng đáng nhớ là chuyến công tác qua nhiều tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ Tiền Giang đến Vĩnh Long qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng theo dự án viện trợ phát triển cho Việt Nam. Qua những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, những sông rạch chằng chịt của Miền Nam. Dọc đường, Greg dừng lại các quán nhỏ bên đường để uống cà phê đen, hút thuốc lá, hỏi thăm về cuộc sống của người nông dân. Sau khi làm việc ở tỉnh Cà Mau, Greg đề nghị mướn một chiếc ca nô để ra tận vùng Đất Mũi, thời đó đi bằng đường bộ còn rất khó. Buổi tối đi ăn ở một quán địa phương có đờn ca tài tử, nghe bài vọng cổ xa xưa Tình Anh Bán Chiếu “ Hò ơi… Chiếc chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm…” nhớ giọng ca Út Trà Ôn. Greg nói như vậy là ông đã đi được từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau của Việt Nam rồi, một điều mà không phải người Việt Nam cũng thực hiện được. Chuyến đi thật thanh bình như hương đồng cỏ nội Miền Nam.

 

Trong những chuyến đi như vậy, hai thầy trò nói với nhau rất nhiều chuyện, từ văn hóa, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, đến những mối quan hệ quốc tế với Việt Nam thời bấy giờ. Kiến thức về văn hóa, lịch sử của Greg về các quốc gia Châu Á rất rộng. Ông cũng thích tìm hiểu về nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Khi nói về thân phận của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh, tôi tặng cho ông cuốn truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, có cả hai thứ tiếng Anh-Việt. Ông hiểu Việt Nam trong cuộc chiến cũng giống như con cá trong truyện, không thể tự mình định đoạt số phận. Khi đi qua khu rừng tràm ở Cà Mau, tôi nói với ông về cuốn tiểu thuyết Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Khi dừng chân ở Pleiku, tôi hát cho ông nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy. Đi ngang qua Tuy Hòa là giai điệu man mác buồn của bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang. Có lần hoàng hôn qua một ngôi làng nghèo dọc theo quốc lộ 1 ở Quảng Ngãi, tôi hát một vài câu trong ca khúc Về Miền Trung:

“…Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn…”

Lần đó, ông nói không ngờ một kỹ sư cơ khí như tôi mà cũng lãng mạn đến thế!

 

Đến năm 2006, tôi đi Mỹ. Trước khi đi, chưa rõ mình sang Mỹ sẽ làm gì, tôi viết email xin ông một lá thư giới thiệu, để phòng trường hợp xin vào làm cho Phòng Thương Vụ Mỹ. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, nhưng vẫn viết một lá thư giới thiệu thật trân trọng, với tư cách là cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á kể về một nhân viên xúc tiến thương mại cấp thấp, không thuộc hàng trực tiếp làm việc với ông. Lá thư đó tôi không sử dụng đến, rồi bận bịu với nhiều loại công việc mưu sinh ở Mỹ. Vào năm 2017, tôi trở lại Úc, có ghé văn phòng Austrade ở Sydney, hỏi thăm tin tức về Greg, biết là ông vẫn sống đời hưu trí ở Perth. Tôi có email hỏi thăm. Chỉ sau một ngày, ông trả lời, và còn nói rằng vẫn còn giữ cuốn sách về “fish elf” mà tôi tặng. Ba năm sau thì nhận được tin ông qua đời.

 

Nhìn lại hơn 40 năm đi làm ở hai xứ Mỹ-Việt, tôi nghiệm lại thời làm việc ở Austrade là một trong những giai đoạn thích thú nhất. Một phần vì công việc thích hợp, làm có kết quả tốt. Một phần là vì được dịp kết thân với ông “xếp lớn” người Úc dễ thương, yêu mến đất nước và con người Việt Nam. Nhớ về Greg Dodds, tôi nhớ đến ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình):

Những nẻo đường Việt Nam.
Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan.
Ôi! Những nẻo đường Việt Nam…
Những nẻo đường về đâu?
Ánh chiều chìm rơi bờ lúa nương dâu.
Ôi! Những nẻo đường về đâu?...

 

Doãn Hưng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.