Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Ấy vậy mà một trong những thành tựu nổi tiếng nhất của Einstein cống hiến cho nhân loại lại là một phương trình có vẻ rất đơn giản: 𝐸=𝑚𝑐2, nói về sự tương quan giữa khối lượng-năng lượng, dẫn đến sự ra đời của ngành khoa học năng lượng nguyên tử.
Chuyển sang lĩnh vực nghệ thuật, người học âm nhạc cũng khởi đầu đơn giản. Những lớp học âm nhạc đầu tiên bắt đầu với bảy nốt cơ bản, sau đó mới có thêm thăng, giáng. Những bài học vỡ lòng của piano và guitar thường sử dụng cung Đô trưởng. Nhịp dễ nghe nhất có lẽ là 3/4 với điệu Valse. Âm nhạc dần dần phức tạp hơn với những khái niệm về giai điệu, nhịp điệu, hòa âm. Những bản nhạc sử dụng hợp âm thuận thường dễ nghe hơn hợp âm nghịch. Thể loại ca khúc thường sử dụng một số nhịp đơn giản như 2/4, 3/4, 4/4, ít khi thấy 9/8, 12/8. Đại đa số người nghe nhạc cho rằng thể nhạc pop, ca khúc dễ nghe hơn nhạc cổ điển không lời, thường đòi hỏi phải có một mức hiểu biết nhất định để thưởng ngoạn.
Cũng như những loại hình nghệ thuật khác, giá trị của âm nhạc là một phạm trù tương đối, không thể đánh giá bằng mức độ phức tạp hay số lượng khán giả có thể thưởng thức. Âm nhạc dễ dãi, viết theo thị hiếu thường có nhiều khán giả đương thời, nhưng không thể tồn tại theo thời gian. Nhưng cũng có những nhạc phẩm thật giản dị, vậy mà đến vài thế kỷ sau vẫn có nhiều người nghe và trình diễn.
Auld Lang Sye là một ca khúc đã tồn tại hơn ba thế kỷ, là một trong những nhạc phẩm phổ biến nhất trên thế giới. Có nhiều người ngân nga giai điệu mà không biết tên của nó là gì, xuất phát từ đâu. Ở Miền Nam trước 1975, những đứa trẻ trên đường phố hát bài này với lời tự chế: “ò e, ma le đánh đu, Tặc dzăng nhảy dù, Zô rô bắn súng…”Auld Lang Syne là tên một bài thơ do thi sĩ người Tô Cách Lan Robert Burns sáng tác năm 1788; sau đó được phổ nhạc theo một giai điệu dân gian truyền thống Tô Cách Lan; được xuất bản lần đầu vào năm 1796. Theo tiếng Tô Cách Lan cổ, Auld Lang Syne có nghĩa đại khái là "ngày xửa ngày xưa." Theo https://thecanadianencyclopedia.ca/, nhạc phẩm này đã nổi tiếng trên toàn cầu sau buổi phát sóng lần đầu từ New York vào đêm Giao Thừa Tây năm 1929 của nhạc trưởng Guy Lombardo và ban nhạc Royal Canadians. Tạp chí Variety gọi Lombardo là “người Canada duy nhất tạo ra một truyền thống của Hoa Kỳ”. Auld Lang Syne cũng được sử dụng trên toàn cầu như một bài hát chia tay trong các lễ tốt nghiệp, tang lễ, trong sinh hoạt hướng đạo…
Auld Lang Syne là một thí dụ điển hình cho tính bất tử của sự giản dị trong âm nhạc. Giai điệu đẹp, đơn giản, ai cũng có thể nhớ và hát dễ dàng. Bài nhạc có bốn câu, nhưng thực ra giai điệu chính nằm trong hai câu đầu, hai câu sau chỉ thay đổi lại một chút. Để đệm đàn thường chỉ cần sử dụng ba hợp âm căn bản I, IV,V (C,F,G). Dù viết ở tông trưởng nhưng bài hát đem lại cảm giác hoài niệm, man mác buồn, rất thích hợp với không khí tiễn đưa, chia tay. Lời ca cũng mộc mạc, chân tình, nhắc đến những người bạn cũ, đến sự tử tế:
Should auld acquaintance be forgot, And never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot, And days of auld lang syne!
For auld lang syne, my dear, For auld lang syne.
We'll take a cup o' kindness yet, For days of auld lang syne.
Should auld acquaintance be forgot, And days of auld lang syne!
For auld lang syne, my dear, For auld lang syne.
We'll take a cup o' kindness yet, For days of auld lang syne.
Một bài hát đơn giản khác cũng trở thành bất tử có liên quan đến mùa Giáng Sinh: Silent Night. Một đoạn video ngắn trên Youtube kể lại về sự ra đời của bài thánh ca này:
Silent Night nguyên thủy là bài thánh ca viết bằng tiếng Đức có tên là Stille Nacht Heilige Nacht, ra đời vào mùa Giáng Sinh 1818. Lời thơ của Joseph Mohr, nhạc của Franz X. Gruber, đều là người Áo. Chuyện kể rằng vào mùa Giáng Sinh năm đó, cây đàn organ của nhà thờ Thánh Nicholas ở Oberndorf bị hỏng. Chỉ vài giờ trước lễ Giáng sinh nửa đêm, vị linh mục trẻ Mohr đã nhờ Franz Xaver Gruber- trưởng ca đoàn nhà thờ- sáng tác một giai điệu cho đàn guitar và dàn hợp xướng, với lời là bài thơ của Mohr viết từ hai năm trước. Bài hát được trình diễn lần đầu tiên vào đêm 24 tháng 12 năm 1818, trong Thánh lễ nửa đêm, với Mohr đệm đàn guitar và hát cùng với Gruber.
Một người thợ sửa đàn organ tên Karl Mauracher làm việc tại nhà thờ đã mang một bản sao của bài thánh ca này về làng quê của mình. Ở đó, nó được hai gia đình nhạc sĩ dân gian lưu động bắt đầu truyền bá, biểu diễn khắp miền Bắc và Trung Âu. Vào năm 1834, gia đình Strasser đã biểu diễn bài hát này cho Vua Phổ. Đến năm 1839, Silent Night được trình diễn lần đầu ở Mỹ bên ngoài nhà thờ Trinity thành phố New York.
Slient Night từ đó đi khắp thế giới, được dịch sang hơn 300 ngôn ngữ với nhiều bản phối khác nhau cho giọng hát và dàn nhạc. Bản thu âm năm 1935 của Bing Crosby là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Slinet Night được hát từ trong nhà thờ ra đến các quảng trường thị trấn. Có một giai thoại thật cảm động, kể rằng trên chiến trường trong Thế Chiến Thứ Nhất, trong một cuộc ngừng bắn tạm thời vào đêm Giáng Sinh, những người lính từ hai chiến tuyến đã cùng hát bài thánh ca thanh bình này. Âm nhạc có khả năng làm cho con người tìm thấy những điểm chung để bớt thù hận, để có thể cảm thông hơn.
Cũng giống như Auld Lang Syne, Silent Night là một bài hát thật đơn giản, chỉ cần đệm đàn với ba hợp âm chính. Cũng là tông trưởng, nhưng Auld Lang Syne nghe man mác buồn, còn Silent Night cho cảm giác bình yên, tĩnh lặng. Giai điệu nhẹ nhàng, thanh thoát thật hoàn hảo cho lời ca thánh thiện:
Silent night, holy night, all is calm, all is bright. 'Round yon Virgin Mother and Child, Holy Infant so tender and mild. Sleep in heavenly peace, Sleep in heavenly peace…
Ludwig Van Beethoven là nhạc sĩ thiên tài người Đức, là cây đại thụ trong nền âm nhạc cổ điển Tây Phương. Trong chín bản giao hưởng do ông biên soạn, Bản Giao Hưởng Số 9 (1824) được xem như một kiệt tác. Nó cũng làm cách mạng, là bản giao hưởng đầu tiên kết hợp với giọng hát trong Chương 4 "Ode to Joy". Dựa trên bài thơ của Friedrich Schiller, Ode to Joy là lời kêu gọi hòa bình, kết nối giữa người với người, tất cả mọi người đều trở thành anh em. Ngày nay, Ode to Joy là quốc ca chính thức của EU, là biểu tượng của hòa bình, tự do, dân chủ.
Đến năm 1970, Ode to Joy được nhạc sĩ Waldo de los Ríos biên soạn thành dạng nhạc pop, được trình bày bởi ca sĩ Tây Ban Nha Miguel Ríos. Phiên bản gốc Tây Ban Nha có tên là "Himno a la alegría"; phiên bản tiếng Anh là "Song of Joy" (Khúc Hoan Ca). Bài hát thành công vang dội trên thế giới, dẫn đầu bảng xếp hạng nhạc pop ở nhiều quốc gia vào thời đểm đó. Ở Mỹ, Song of Joy đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Easy Listening vào tháng 7 năm 1970. Tác phẩm này được xem là một ví dụ điển hình của phong cách nhạc rock giao hưởng phổ biến vào cuối những năm 1960s đầu 1970s.
Tương tự Auld Lang Syne, giai điệu của Ode to Joy chỉ với bốn câu. Mở đầu, ca sĩ Miguel Ríos chỉ hát với trong phần nhạc đệm của một cây guitar thùng. Đơn giản như vậy, nhưng ca khúc này tràn đầy niềm vui, hy vọng. Lời ca hướng người nghe đến một thế giới của lòng thương yêu và sự cảm thông:
Come sing a song of joy
For peace shall come, my brother.
Sing, sing a song of joy
For men shall love each other.
That day will dawn just as sure
As hearts that are pure, are hearts set free.
No man must stand alone
With hands held out before him.
Reach out and take them in yours
With love that endures forevermore.
Then sing a song of joy
For love and understanding.
Với giai điệu tươi sáng, lời ca như một lời chúc cho thế giới bình an, Song of Joy không chỉ là quốc ca của EU, mà còn là khúc hoan ca chung của toàn thế giới.
Trở về với nền âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có một sự nghiệp sáng tác không ai có thể so sánh. Ngàn lời ca của ông để lại cho đời là một vườn hoa muôn màu, muôn sắc. Đường Chiều Lá Rụng là một ca khúc Việt phức tạp, khó hát vào bậc nhất. Hai bài Đạo Ca 3 (Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng) và Đạo Ca 7 (Qua Suối Mây Hồng) được viết với kỹ thuật của những tiểu phẩm nhạc cổ điển Tây Phương. Nhưng cũng chính Phạm Duy viết Xuân Ca năm 1961, một ca khúc với một phiên khúc bốn câu đơn giản; và điệp khúc chỉ có bảy chữ “Xuân Xuân ơi, Xuân hỡi, Xuân ơi…” Trong giai điệu ngũ cung mộc mạc, Phạm Duy kể rằng mùa xuân đầu tiên đã bắt đầu từ trước khi ông chào đời, từ lúc cha mẹ ái ân trong đêm tân hôn:
“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…”
“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…”
Rồi những mùa xuân nối tiếp khi ông “… góp chung kêu gào thiết tha…” cất tiếng khóc chào đời; lớn lên với những mùa xuân làm tình nhân yêu đương “…xuân tôi sang, bến yêu tôi tìm gió trăng…”. Theo vòng sinh tử luân hồi, tác giả biết rằng “… dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu…” Yêu kiếp nhân sinh, ông chỉ mong mình sẽ được tái sinh làm người tình trong những cuộc đời mới: “…thì xin, thì xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần…”
Xuân Ca là một thông điệp tuyệt đẹp về một kiếp người theo nhân sinh quan Phật Giáo. Đây có thể là bản nhạc xuân của Phạm Duy được nhiều người hát nhất. Nghe ca sĩ Duy Quang hát Xuân Ca từ trước 1975 mới thấy hết được vẻ đẹp đơn giản của ca khúc này:
Nghe lại cả bốn ca khúc giản dị này, có người sẽ tự hỏi rằng điều gì đã khiến chúng trường tồn theo thời gian? Có thể là vì chúng đều thể hiện cái đẹp, chuyển tải những thông điệp nhân bản đến với người nghe. Âm nhạc, cũng như những loại hình nghệ thuật khác, sẽ trở thành bất tử khi là hiện thân của Chân, Thiện, Mỹ…
Doãn Hưng
Gửi ý kiến của bạn



