Hôm nay,  

Ngựa đá trong lịch sử và mỹ thuật

20/02/202600:00:00(Xem: 382)
Tết-Bính-Ngọ-Hình-chính
Ành trên từ trái:1. Hai bạn trẻ Sam Hồ (trái) và Lily Nguyễn đang tiếp tục bền bỉ đóng góp năng lượng tích cực cho chú ngựa Bính Ngọ - Photo Hồ Đăng. 2. Em Lana Thụy My Vũ, 1 tuổi rưỡi, bên thềm xuân mới.  Ảnh dưới: sinh hoạt tại Hội Chợ Tết Sinh Viên 2026.
 
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế.

Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc. Xe thổ mộ là hình ảnh mang đậm nét Sài Gòn xưa và đã trở thành dĩ vãng. Tiếng vó ngựa "lộc cộc lóc cóc" trên đường, tiếng chuông, lục lạc tạo nên một "bản hòa tấu" sinh động, đặc trưng của đường phố xưa.

Ngựa trong thần thoại. Ngựa trong đời thường. Bên cạnh chuyện cổ với ngựa sắt, lại có chuyện ngựa đá trong thơ nhà Trần. Và ngựa đá nơi đây không còn mang tính sát thương, mà là hình ảnh của bình an hậu chiến, của quên đi một thời xương máu.

Với một vị vua thiền sư nhà Trần, hình ảnh con ngựa đá xuất hiện trong thơ là chứng nhân lịch sử và biểu tượng của sự thanh bình sau những trận giông bão của vó ngựa Mông Cổ. Sau khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đuổi quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi, Vua Trần Nhân Tông đưa các tướng nhà Nguyên bị bắt là Ô mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc vào Chiêu Lăng làm lễ hiến phù -- tức là nghi lễ báo công, tạ ơn tổ tiên -- Thánh-tông Thượng-hoàng có làm hai câu thơ bày tỏ lòng biết ơn (truyền thuyết nói, làm thơ này vì thấy có bùn đất nơi chân các tượng ngựa đá):

Xã-tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn-hà thiên cổ điện kim âu.
Dịch nôm:
Xã-tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông thiên cổ vững âu vàng.

Hình ảnh ngựa đá (thạch mã) không chỉ là hình tượng ngựa đá ở lăng miếu, mà còn ẩn dụ cho sự gian khổ của quân dân (và cả linh khí tổ tiên) đã cùng xông pha trận mạc để bảo vệ giang sơn. Hiển nhiên, hình ảnh ngựa đã gắn liền với vận mệnh sinh tồn của dân tộc Việt qua nhiều ngàn năm.

Nhìn dưới mắt mỹ thuật, tượng ngựa đá trong lịch sử nhân loại có trước khi có hình ảnh ngựa vẽ trên giấy. Đơn giản, vì giấy là một phát minh chỉ mới hơn hai thiên niên kỷ, trong khi mỹ thuật tạc trên đá, khắc trên đá và vẽ trên đá đã xuất hiện từ khi nhân loại còn ở trong hang động.

Nhân loại biết làm giấy từ thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch tại Trung Quốc, nhưng giấy mới thực sự thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hội họa, đặc biệt là các trường phái mới, khi ngành sản xuất giấy trở nên phổ biến, rẻ và dễ tiếp cận hơn nhiều vào khoảng thế kỷ 18-19 sau phát minh máy xeo giấy liên tục (1799), mở đường cho sự ra đời các trào lưu hội họa hiện đại trên giấy. Trước khi có giấy, hội họa đã tồn tại từ thời tiền sử (vẽ trên vách hang động), sau đó phát triển trên lụa, gốm, và đá, nhưng còn hạn chế về tính di động và chi phí.

Bạn hãy hình dung một lịch sử nhân loại không có con ngựa... và sẽ thấy rằng từ những thời rất xa xưa, nếu không có ngựa, thương mại sẽ phải vận chuyển bằng đi bộ hay đi xe voi, xe nai, xe trâu, xe bò... nghĩa là, rất chậm. Trong truyện Bản Sanh (Jataka) và Kinh Pháp Cú (Dhammapada), hình ảnh ngựa xuất hiện trải rộng trong nhiều Kinh Phật.

Wikipedia ghi rằng, ngựa bắt đầu trở nên "thân thiện với nhân loại" (được thuần hóa) khoảng 5.500 năm trước ở thảo nguyên Á-Âu, một quá trình bao gồm những thay đổi di truyền giúp ngựa trở nên dễ bảo và có lưng khỏe hơn, cho phép con người cưỡi ngựa và sử dụng rộng rãi trong vận chuyển và chiến tranh bởi nhiều nền văn hóa khoảng năm 2000 trước  Tây lịch, làm thay đổi vĩnh viễn nền văn minh nhân loại.

PHOTO-1-_Wat_Preah_Prom_Rath_Siem_Reap_6207_DxO

Tượng ngựa tại chùa Wat Preah Prom Rath ở Siem Reap, Campuchia.(Photo: Wikipedia)


Xin nhớ rằng, trong Phật giáo, ngựa vẫn là một chúng sinh như người, hoàn toàn không dị biệt trong bản chất là các sinh vật phải tái sinh theo nghiệp. Cho nên, không hề có cái thấy "nơi đây, cái tôi là người" và không hề có cái thấy "nơi kia, nó là con ngựa" trong bản chất. Lich sử Phật giáo ghi rằng, ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) là con ngựa trắng trung thành, đã đưa Thái tử Tất Đạt Đa trốn khỏi hoàng cung để xuất gia.

Truyền thuyết kể rằng ngựa Kiền Trắc được vua Tịnh Phạn chọn làm quà sinh nhật thứ mười lăm cho Thái tử. Ngựa được tuyển lựa kỹ càng trong một trăm ngựa quý từ kinh thành Tỳ-Da-Ly, mang về. Kanthaka (Kiền Trắc) là con ngựa đẹp nhất của vương quốc lân bang mà vì tình giao hảo nên vua này đã có được. Do Thái tử Tất Đạt Đa đã thắng hầu hết những giải quan trọng như bắn cung, cưỡi ngựa và nhận được giải thưởng là một thớt voi trắng và một con ngựa trắng, đây là Kiền Trắc.

PHOTO-2-ABC-ngua-kien-trac

Tượng ngựa Kiền Trắc chở Thái tử Tất Đạt Đa tại Tòa Thánh Tây Ninh, Việt Nam (Wikipedia).


Như thế, cũng có ý nghĩa đại cơ duyên. Ngựa Kiền Trắc là người bạn đồng hành đặc biệt nhất của Thái tử Tất Đạt Đa. Khi Thái tử quyết tâm từ bỏ cuộc sống hoàng gia phú quý để tìm con đường giải thoát, ngựa Kiền Trắc đã đưa ngài vượt qua cổng thành vào đêm trăng thanh gió mát, đánh dấu bước chân xuất gia đầu tiên. Vào năm Thái tử được 29 tuổi đã trốn khỏi kinh thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu) trong đêm trăng tròn rằm tháng sáu bằng con ngựa này. Họ đã vượt qua nhiều vương quốc nhưng không một ai biết bởi bốn vó ngựa dường như không phát ra tiếng động do chư Thiên nâng đỡ.

Trong một đêm, ngựa Kiền Trắc đã vượt một chặng đường dài 30 do-tuần (một do tuần ước tính dài 9.216 km), vượt qua khỏi dòng sông Anomā để đưa Thái tử xuất gia tầm đạo. Sau khi Bồ-tát cắt bỏ râu tóc và ra lệnh cho Xa Nặc đem ngựa trở về hoàng cung, trao cho đức vua Suddhodana trang phục, quần áo, vũ khí và lọn tóc của thái tử. Sau khi đưa Thái tử đi, Kiền Trắc quay về cung điện. Chú ngựa trắng này không chịu nổi nỗi đau mất chủ, đã vỡ tim mà chết ngay tại chỗ, và tái sinh lên cõi Trời làm thiên nhân. Sau khi biết thái tử thành đạo, Kiền Trắc (bấy giờ là chư thiên) đã hạ sanh xuống thành Na-ba, Trung Thiên Trúc, là con của một vị Bà-la-môn, lớn lên vị học giả này đến chỗ Đức Phật nghe pháp, được giải thoát và nhập Niết bàn.

PHOTO-3-ngua-kien-trac_bao-tang-London_Siddharta_parting_from_Kanthaka_and_Chandaka_BM_OA1880.65

Tượng ngựa Kiền Trắc trong điêu khắc tại bảo tàng ở Luân Đôn, Anh (Wikipedia)


Truyện đó là ghi theo kinh điển. Trong khi đó, hình ảnh ngựa gần gũi nhất với người đọc văn Trung Hoa và ưa xem phim gần đây là trong truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, hình ảnh con ngựa chở Đường Tăng đi thỉnh kinh đã xuất hiện như một biểu tượng tôn giáo, như một khát vọng đi tìm giải thoát ra khỏi thân phận gian nan ở cõi này. Dĩ nhiên, ngựa thỉnh kinh trong Tây Du Ký chỉ là thần thoại. Tiểu thuyết mà. Dù vậy, chắc chắn rằng, Đường Tăng, hay nhà sư Huyền Tráng, trên đường sang Tây phương thỉnh kinh, học pháp, hẳn là từng đi ngựa hay đi xe ngựa. Không chỉ một ngựa, mà ngài hiển nhiên đã đi rất nhiều ngựa. Thế rồi, ngựa này được tiểu thuyết hóa thành Bạch Long Mã trong Tây Du Ký.

Theo Wikipedia, Bạch Long Mã (hay Tiểu Bạch Long) là con trai của Tây Hải Long Vương, giữ chức Tam Thái tử tại Long Cung. Do lỡ tay làm hỏng báu vật mà Ngọc Hoàng ban tặng, ông bị cha tâu lên thiên đình và đáng lẽ phải chịu tội chết. Tuy nhiên, Quan Thế Âm Bồ Tát đã ra mặt cứu giúp, sắp xếp cho ông chờ sẵn để phò tá Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh nhằm chuộc lại lỗi lầm.

PHOTO-4-Bach-Long-Ma-Haw_Par_Villa_27,_Nov_06

Tượng Bạch Long Mã chở Đường Tăng tại Haw Par Villa, Singapore.(Wikipedia)


Trên đường đi, vì không biết, Tiểu Bạch Long đã ăn thịt con ngựa trắng của Đường Tăng. Sau khi được Bồ Tát hóa giải và biến hình thành một con ngựa trắng, vị này trở thành phương tiện chuyên chở Đường Tăng suốt hành trình vạn dặm. Dù ít khi tham gia trực tiếp vào các cuộc chiến với yêu quái như ba sư huynh, nhưng Bạch Long Mã đại diện cho sự bền bỉ và ý chí kiên định. Trong triết học Phật giáo của tác phẩm, ông cùng với Tôn Ngộ Không tạo nên cặp bài trùng "Tâm viên, Ý mã" (Tâm [nhảy] như khỉ, Ý [phóng] như ngựa), tượng trưng cho sự điều phục được tâm và ý là thỉnh kinh xong rồi.

Sau khi hoàn thành sứ mệnh thỉnh kinh tại Tây Thiên, nhờ công lao cõng Đường Tăng và sự nhẫn nại suốt mười mấy năm, Bạch Long Mã được phong là Bát Bộ Thiên Long Quảng Lực Bồ Tát, tu thành chính quả và trở lại hình dáng rồng nguyên thủy. Nói điều phục được tâm khỉ và ý ngựa, cũng là hoàn tất cuộc thỉnh Kinh Vô Tự (Kinh Không Có Chữ) vì trong tâm của người giải thoát sẽ không có chữ nào dính vào nữa, vì tận cùng giải thoát là vô sở trụ, không chỗ nào để bám dính.

Hình ảnh Bạch Long Mã là đã được thơ mộng hóa để kể truyện, để làm phim. Nhưng trong Kinh Phật, có nơi đã mượn hình ảnh ngựa, hay cỗ xe ngựa để giải thích về Pháp ấn Vô ngã, hay là luật Duyên khởi. Cụ thể là Kinh Milanda Vấn Đáp (Milinda Panha), cuộc đối thoại giữa Vua Di Lan Đà và Tỳ kheo Na Tiên về cỗ xe là ví dụ kinh điển nhất để giải thích về Vô ngã thông qua Luật Duyên Khởi.

Sau khi Vua Di Lan Đà hỏi về danh tính của Na Tiên Tỳ Kheo, nhà sư này đã mượn hình ảnh cỗ xe ngựa để đặt câu hỏi ngược lại rằng cái gì làm nên một cỗ xe? Nếu tháo rời bánh xe, trục xe, gọng xe, mui xe... thì liệu cái nào được gọi là "xe"? Câu trả lời là: Không có cái nào cả. Cái tên "cỗ xe" chỉ là một danh xưng ước lệ, xuất hiện khi các bộ phận được lắp ráp lại với nhau theo một trật tự nhất định. Nó không có một "tự tính" độc lập hay một linh hồn vĩnh cửu nằm bên trong thân tâm.

Tương tự, nhà sư Na Tiên nói rằng con người chúng ta cũng giống như cỗ xe, là sự hợp thành của Năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Không hề có một "cái tôi" (ngã) thường hằng nào nằm trong tóc, móng, tim, gan hay trong ý nghĩ. Khi các yếu tố này tụ hội, ta gọi đó là "người"; khi chúng tan rã, cái "người" đó cũng biến mất. Qua hình ảnh cỗ xe, Ngài Na Tiên khẳng định: "Bạch Đại vương, cái tên Na Tiên cũng chỉ là một ký hiệu để gọi sự tập hợp của các uẩn, chứ thực chất không có một cái ngã nào ở trong đó cả."

Hễ ai hiểu được điều này, người đó sẽ tự gỡ bỏ mọi tâm chấp ngã, từ đó chấm dứt khổ đau vì không còn bám víu vào một cái "tôi" hư ảo, giả tạm. Nghĩa là, khi chúng ta cỡi ngựa, hay đang ngồi trên xe ngựa, nên thấy rằng không hề có "cái tôi" nào đang cỡi ngựa, và cũng không hề có con ngựa nào đang chở ai đó, cũng không hề có cỗ xe ngựa nào đang chở ai đó tới lui. Ý nghĩa Kinh Phật là như thế. Thấy như thế, là đọc được thấu suốt Kinh Vô Tự của nhà Phật.

Trong Thiền Tông, có một công án tên là "Cỡi ngựa đi tìm ngựa" (乘馬覓馬 – Thừa mã mịch mã). Thiền sử kể rằng, Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (778–897), một trong những thiền sư nổi tiếng nhất của Thiền tông, một ngày nọ được một vị tăng hỏi về con đường giác ngộ. Vị tăng ấy tha thiết muốn biết làm sao để ngộ bản tâm, để thấy Phật tánh, để sáng rõ con đường kiến tánh thành Phật.

Triệu Châu đáp bằng một câu ngắn gọn: “Ngươi đang cỡi ngựa mà lại đi tìm ngựa.” Vị tăng nghe xong thì bối rối, không hiểu ý nghĩa. Vị sư tiếp tục tu hành, quán chiếu câu nói ấy trong một thời gian dài. Đến một ngày, khi đang đi bộ trong sân chùa, vị sư chợt dừng lại, cúi đầu và bừng tỉnh. Hãy hình dung rằng, vị sư tham công án, quán sát công án, bế tắc đường suy nghĩ, thường trực nhìn vào câu hỏi trong tâm không biết của mình, đó chính là tỉnh thức nhìn vào cái tâm không biết, nhìn vào cái tâm chưa có tên, và chính cái tỉnh thức với tâm không biết đó chính là Phật tánh. Đó là tánh của gương tâm, phản chiếu tất cả những cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc và cái được tư lường, nhưng không lưu giữ ảnh nào nơi gương.  

Hình ảnh ngựa giỏi, tức là tuấn mã, cũng được ghi lại trong Tăng Chi Bộ Kinh. Đức Phật nói trong Kinh Sandha Sutta (AN 11.9), dạy Tôn Giả Sandha rằng đức hạnh trong thiền định nên giống như ngựa giống thuần chủng, chứ không phải như con ngựa hoang.

Ngựa hoang, bị cột gần máng cỏ, chỉ nghĩ đến cỏ [để ăn, tượng trưng cho tham dục]. Ngựa hoang cứ lặp đi lặp lại: “Cỏ, cỏ… cỏ…” — tâm chỉ tập trung nơi dục vọng và thế gian. Hình ảnh này tượng trưng cho người tu còn bị kẹt trong tham, sân, si; dù đi nơi rừng vắng ngồi thiền, mà tâm vẫn còn bị dính mắc, chỉ chạy theo cảm thọ dễ chịu mà không thấy nổi đường ra.

Trong khi đó, ngựa thuần chủng, ngựa giỏi, dù cũng bị cột [trong cõi này], tâm vẫn luôn tự hỏi: “Hôm nay người huấn luyện sẽ sai mình làm việc gì? Mình cần làm sao để đáp ứng?” — tức là người tu có tinh tấn, có tỉnh thức trong thiện pháp, ly dục (không dính mắc vào máng cỏ). Đức Phật nói trong kinh này rằng tương tự như ngựa giỏi, người tu sẽ không còn dính mắc vào đất, nước, lửa, gió (hình thành của thế giới vật chất), không dính mắc vào tứ thiền và các tầng thiền cao hơn, không dính mắc vào thế giới này hay thế giới kia, không dính mắc vào các pháp trong quá khứ, hiện tại, vị lai... tâm cũng không dính mắc vào các đối tượng mà tâm thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường. Mặc dù, tâm hành giả lúc đó y hệt như ngựa giỏi bước đi trên hư không, trên bầu trời, hành giả đó vẫn đang thiền, và không dính mắc vào bất kỳ đối tượng nào. Đức Phật nói, pháp thiền này là của tuấn mã, của ngựa giỏi, là tâm không còn chỗ nào để trụ nữa. Kinh này hiển nhiên là tiền thân của Kinh Kim Cang.

Cỡi ngựa tuấn mã như thế, chính là hàng phục con ngựa Kiền Trắc tuyệt vời nhất của từng người chúng ta, để rồi tới một lúc hành giả sẽ phóng vượt qua được dòng sông sinh tử.

Phan Tấn Hải

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt. Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe. Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.