Hôm nay,  

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”

12/03/202611:15:00(Xem: 51)
blank

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương

Nguyên Giác – Phan Tấn Hải và mùi hương thoảng qua của chữ

  

Vũ Đình Trọng

  

Có những người đi qua đời, để lại tiếng cười rổn rảng. Có người để lại chồng sách dày cộp. Còn Nguyên Giác - Phan Tấn Hải để lại một thứ mong manh hơn nhiều: Một mùi hương!

Đó là mùi hương của chữ nghĩa. Nó chỉ thoảng qua, không ai nắm được, chỉ cảm nhận sự hiện hữu của nó khi ta sống chậm lại một chút.

Ông là nhà báo lão luyện của Việt Báo, từng lăn lộn đủ đường trong nghề, nên tôi nghĩ chữ ông gọn, sạch, và không màu mè.

Chữ của Phan Tấn Hải không cho phép tôi đọc vội.

Đọc chậm tôi mới thấy, đằng sau chữ của ông là một khoảng lặng lạ lùng. Lặng đến mức khiến mình dừng lại, thở một hơi, rồi chợt nghĩ về thân phận con người.

Ngay từ “Lời Thưa”, ông đã nói thẳng, ông không viết truyện theo nghĩa thông thường. Ông viết để tan ra, để không còn là “tôi”, để những con chữ trở thành dòng chảy, biến thành cổ tích cho mai sau.

Ông nói như một người đã đi qua biết bao phiền muộn. Cuối cùng chọn nhìn đời bằng đôi mắt thiền.

Mỗi truyện của ông là một kiếp sống ông đã đi qua, một lần tái sinh. Và mỗi lần tái sinh ấy, cái tôi lại mỏng đi, mỏng thêm, mỏng đến tận cùng chỉ còn lại chữ. Ông không viết truyện, ông thả chim trong lòng mình bay, chỉ mong cuộc đời đẹp thêm chút ít.

Ông có giọng kể bình dị, gần như nói chuyện với chính mình. Không hoa mỹ, không cố gắng làm người đọc xúc động bằng những cú twist kịch tính. Đời và đạo trong chữ ông không đối lập, cũng chẳng hòa tan thành một; chúng chỉ lặng lẽ nằm cạnh nhau, như hai người bạn già ngồi uống trà ngắm nắng chiều.

Vì thế, chữ ông cụ thể mà mênh mang: một câu kinh, một hơi sợ hãi, một cơn bệnh chẳng của riêng ai. Giản dị thôi, nhưng ẩn sau là cả một tâm trí đã từng quan sát thế gian bằng ánh sáng của hơi thở thiền.

Trong “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, ông viết về cô bé gầy gò giữa đời sống điên dại, tiền tàn phế chẳng đủ sống. Rồi ông khẽ bảo cô: “Em phải tập nói chuyện với hư vô hằng đêm, hằng ngày... Cứ gọi tên nó ra mà hỏi chuyện, như một người bạn. Đừng giận dữ bao giờ cả. Khi nào nó hành đau quá thì thôi, tìm cách ngủ.

Câu nói làm lạnh sống lưng, rồi ấm lòng. Nhà báo trong ông ghi lại sự thật phũ phàng. Còn người thiền trong ông đặt tay lên vai cô bé, truyền chút hơi ấm cuối cùng, để cô bé ra đi trong nụ cười. Cái chết ở đây không đáng sợ, chỉ nhẹ nhàng như một hơi thở dài. Tôi nghĩ, hiếm có nhà văn nào viết về sự mất mát mà vẫn giữ được sự dịu dàng đến thế.

 

Hay trong “Nghe Tiếng Chim Bên Rừng Miến Điện”, câu chuyện người lính Nhật mặc áo cà sa, chôn đồng đội, rồi ở lại hồi hướng công đức. Tiếng chim két vang lên như lời gọi về quê cũ, nhưng người ấy đã chọn ở lại con đường giải thoát. Đọc xong, tôi không còn phân biệt đâu là truyện, đâu là đời thực nữa. Chỉ thấy tiếng chim ấy vang trong chính mình - tiếng gọi của giác ngộ, nhẹ mà dai dẳng.

Rồi cái gần gũi trong “Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó” thật đau lòng. Chỉ một vết son nhỏ xíu còn lại trong ký ức, không tô vẽ bi kịch, chẳng than vãn. Nhà báo tỉnh táo không muốn lãng mạn hóa quá khứ. Thiền giả cũng không vội bảo “buông”. Ông chỉ lặng lẽ thừa nhận: Quên nhau khó thật. Có những thứ phải chờ nó tự mòn, khi đủ chín muồi.

Còn truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” – được chọn làm tên tập truyện – có lẽ là truyện nói nhiều nhất về chính Phan Tấn Hải.

Người đàn ông trong một chiều đi bộ trên phố, ông chợt ngửi thấy mùi hương cũ: mùi tóc người xưa, mùi nhang khói chùa quê, mùi áo mẹ giặt ngày bé. Ông đi tìm, đuổi theo trong gió, trong nắng. Càng tìm càng chẳng thấy. Mãi đến khi nhắm mắt lại, ông mới biết: mùi hương ấy vốn ở trong ông từ lâu, chỉ là ông quên mất thôi.

Tôi cũng từng đuổi bắt ký ức: Một mùi phở buổi sáng Sài Gòn cũ, một mùi khói nhang chùa quê, một mùi tóc ai từng làm tim tôi ngây dại. Càng đi tìm, mùi hương càng xa. Chỉ khi dừng lại, nhắm mắt, mới thấy chúng chưa bao giờ rời đi.

Cuối cùng tôi mới nhận ra, đuổi bắt bên ngoài là vô ích. Chỉ khi dừng lại, trở về với hơi thở hiện tại, mới thấy mọi thứ vốn sẵn ở đây. Truyện ngắn mà như một bài kệ nhỏ bằng văn xuôi.

Và tôi không phải người duy nhất cảm nhận được điều này.

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm đặt ông ngang hàng với các cư sĩ lớn thời xưa.

“Tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải xứng đáng là một cư sĩ góp nhiều công cho văn hóa Phật giáo như những tên tuổi Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền, Đoàn Trung Còn, Phan Văn Hùm trong quá khứ.”

T.Vấn nói chữ ông là chút lương tri còn sót lại, bàng bạc lòng nhân ái.

“Bàng bạc trong mọi sáng tác của Phan Tấn Hải là lòng nhân ái từ một cái tâm luôn hướng về tha nhân. Chữ nghĩa ông hiện diện như chút lương tri con người còn sót lại.”

Trịnh Y Thư bảo ông đứng giữa đời và đạo mà không nghiêng hẳn bên nào - chính sự dung hòa ấy làm nên con người Nguyên Giác.

Còn Nguyễn Đức Tùng thì nhận ra ông viết như thở, điềm nhiên nhất trong những người cầm bút.

Tôi nghĩ họ nói đúng. Ông không thuyết pháp trên tòa cao. Ông kể chuyện người thường bằng giọng nhân gian. Đọc ông, ta nghe tiếng kinh lẫn trong tiếng thở đời thường. Mỗi nhân vật của ông - đau, mất mát, lưu lạc - đều được ông hộ niệm bằng chữ, nhẹ mà sâu.

Khép cuốn sách lại, giữa những ngày cuối năm se lạnh, tôi nghe được hơi thở tĩnh tại của ông giữa dòng đời hối hả. Chữ ông lặng lẽ ngân vang, khẽ lay động.

Lòng nhẹ hẳn.

Nhẹ như vừa buông một mùi hương cũ.

Nhẹ như được trở về... với chính mình.

Thế thôi... cũng đủ.

  

GHI CHÚ:

Độc giả có thể vào trang Barnes & Noble:

https://www.barnesandnoble.com/

và gõ nhóm chữ "phan tan hai" hay

vào Google.com gõ nhóm chữ "duoi bat mot mui huong" sẽ ra link.

Hay là vào trực tiếp:

http://bn.com/s/9798260319826

  



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Tiểu Trấn Magnolia” là tên một thị trấn nhỏ ở tiểu bang Georgia của nước Mỹ, mà trong đó chàng thanh niên Rocky rất yêu thích sống ở đó. Cái tên “tiểu trấn Magnolia” nghe có vẻ vừa xưa vừa nay, vừa cổ kính vừa tân thời. Nó như cái tên địa danh nào đó trong một câu chuyện cổ tích Đông phương đầy thơ mộng, nhưng nó cũng làm cho người đọc liên tưởng tới một địa danh thuộc thế giới Tây phương hiện đại.
Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết, tóc rối như mây, quê nhà mờ mịt, chữ lạnh đôi tay. Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này...
Ở tuổi mười bảy, trong sân chùa Xá Lợi một buổi chiều Sài Gòn, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Đuổi Bắt Một Mùi Hương bất chợt nắm tay một cô bé áo trắng. Đúng khoảnh khắc ấy, một mùi hương lạ thoảng qua trong gió. Cái nắm tay run rẩy và mùi hương mong manh đó đã bám theo nhân vật chính suốt nhiều thập niên
Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 .... o .... Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…? – BS Đỗ Hồng Ngọc
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.