Hôm nay,  

Minneapolis: Khi Chữ “Khủng Bố Nội Địa” Che Sự Thật

20/02/202600:00:00(Xem: 146)

Minneapolis
Tháng Giêng năm 2026, tại Minneapolis, hai công dân Hoa Kỳ là Renée Good và Alex Pretti bị nhân viên di trú liên bang nổ súng bắn chết trong hai vụ đụng độ khác nhau. Ngay sau cái chết của Pretti, Bộ trưởng Nội an Kristi Noem tuyên bố ông đã thực hiện một “hành vi khủng bố nội địa”, rồi sau đó cũng gán cùng nhãn ấy cho Renée Good, trước khi dịu giọng lại rằng khi đó bà chỉ “dựa trên những thông tin tốt nhất trong tay”.

Trong tưởng tượng của nhiều người, “khủng bố nội địa” là tên gọi chung cho mọi thứ bạo lực có màu sắc chính trị. Nhưng trong luật Hoa Kỳ, đó là một khái niệm hẹp và rõ: những hành vi nguy hiểm đến sinh mạng, có vẻ nhằm đe dọa thường dân, ép chính sách công hay dùng bạo lực cực đoan để chi phối việc điều hành của nhà nước. Cái làm cho một hành vi bạo lực trở thành “khủng bố” không chỉ là mức độ dữ dội, mà là ý định dùng bạo lực như công cụ cưỡng bức cả xã hội hay chính quyền.

Người viết bài này, một giáo sư thực hành ngành Quan hệ Quốc tế ở trường Georgia Institue of Technology – từng điều hành các nhóm phân tích chống khủng bố trong ngành tình báo – nhắc lại một nguyên tắc: nhãn “khủng bố”, dù nội địa hay quốc tế, chỉ được dán sau khi đã hiểu được bối cảnh và ý đồ, chứ không bao giờ được đem ra dùng trong những giờ đầu tiên khi cuộc điều tra còn chưa bắt đầu. Trong giai đoạn ấy, nhà chức trách thường chỉ biết rất sơ lược: ai nổ súng, ai chết, chứ hầu như chưa thể biết rõ tại sao. Động cơ cưỡng bức chính trị – ranh giới phân biệt khủng bố với những tội ác nghiêm trọng khác – là điều phải mất thời gian mới làm rõ được.

Ngay cả Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội cũng ghi nhận: tuy “khủng bố nội địa” đã có định nghĩa trong luật, nhưng bản thân nó không phải là một tội danh riêng. Nó giống như một cái khuôn để phân loại, chứ không phải một điều luật để đem ra truy tố trực tiếp. Điều đó càng khiến cho việc giới chính trị và truyền thông vội vã dùng nhãn này dễ chạy trước thực tế điều tra và trước giới hạn pháp lý.

Sau vụ 11 Tháng Chín, giới tình báo Hoa Kỳ đúc kết một bài học: thông tin lúc nào cũng thiếu, lẫn lộn, thậm chí có thể bị đánh lừa. Để khỏi bị cuốn vào áp lực chính trị, các cơ quan đã đặt ra những tiêu chuẩn phân tích mới: phải khách quan, giữ khoảng cách với quyền lực, nói rõ cái gì chắc, cái gì đoán, cái gì hoàn toàn chưa biết. Không ai loại bỏ được những điều mù mờ , nhưng người ta có thể buộc mình đối diện với nó một cách có kỷ luật, thay vì nhắm mắt chạy theo câu chuyện sẵn có.

Nguy hiểm bắt đầu từ lúc người lãnh đạo dùng chữ “khủng bố nội địa” trên diễn đàn công cộng mà không nói được bằng chứng nào đã dẫn tới kết luận ấy. Một khi câu nói ấy đã phát ra, cả guồng máy phía dưới rất dễ bị kéo theo: thay vì để bằng chứng dẫn đường, người ta lại bị cám dỗ đi nhặt nhạnh chứng cớ sao cho hợp với lời tuyên bố mà cấp trên đã lỡ nói ra trước công chúng. Nếu có ai trong nội bộ muốn thận trọng, chờ thêm dữ kiện, thái độ đó lại dễ bị nhìn như né tránh hay bao che. Những câu hỏi tự nhiên như ‘Chúng ta thực sự biết những gì?’ hay ‘Bằng chứng nào có thể làm ta đổi ý?’ dần bị gạt sang bên, nhường chỗ cho một việc khác: cố giữ cho câu chuyện đã lỡ công bố khỏi bị lung lay.

Đối với công chúng, cái giá phải trả cũng không nhỏ. Nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ riêng chữ “khủng bố” đã đủ sức làm người nghe cảm nhận mối đe dọa mạnh hơn và dễ chấp nhận những biện pháp cứng rắn hơn, ngay cả khi các dữ kiện cụ thể không thay đổi. Nếu người dân bắt đầu thấy nhãn “khủng bố nội địa” chỉ là một mũi dùi tuyên truyền, họ sẽ dần dần không còn tin vào những lần sử dụng sau này, kể cả khi đối tượng thật sự là kẻ dùng bạo lực để cưỡng bức xã hội. Và một khi giới hữu trách đã tự trói mình vào một phiên bản câu chuyện ngay từ đầu, những thiên kiến tâm lý như “chỉ thấy điều mình muốn thấy” hay “dính chặt với ấn tượng đầu tiên” sẽ chi phối cả cách họ đọc chứng cứ lẫn cách dư luận phản ứng.

Về lâu dài, việc dùng sai hay dùng quá tay chữ “khủng bố” làm hỏng luôn cái khung khái niệm mà xã hội thật sự cần. Trong trí nhớ tập thể, chữ ấy gắn với những vụ như  ngày 11 Tháng Chín, vụ nổ bom tòa nhà liên bang ở Oklahoma City, các vụ tấn công trên xe điện ngầm Luân Đôn, hay những vụ đẫm máu nhắm vào cộng đồng Do Thái tại Sydney, nơi ý đồ nhắm vào thường dân và mục tiêu chính trị gần như không ai phủ nhận. Còn đa số những vụ bạo lực thường ngày ở Mỹ – nổ súng, xô xát, đụng độ với cảnh sát – theo lẽ thường được xem là án hình sự cho tới khi điều tra chứng minh có động cơ khác. Trật tự giản dị ấy – trước hết xem cho rõ chuyện gì xảy ra, rồi mới bàn tới tại sao, rồi mới gọi tên – chính là điều bị phá vỡ khi người ta dán nhãn “khủng bố nội địa” ngay từ phút đầu.

Các cơ quan liên bang đã cố gắng đặt ra những định nghĩa chung để theo dõi bạo lực có động cơ chính trị. Nhưng những phát biểu vội vã của các nhân vật cao cấp lại dễ chạy trước nhịp điều tra. Trường hợp Minneapolis cho thấy điều đó rõ ràng: những bản tin đầu tiên, những đoạn phim và tài liệu độc lập nhanh chóng cho thấy nhiều điều không trùng với tường thuật chính thức, khiến dư luận càng ngờ rằng câu chuyện đã được dựng sẵn rồi mới đi tìm chi tiết để lấp vào. Về sau, khi chính quyền tìm cách rút bớt, nói nhẹ lại những lời buộc tội “khủng bố nội địa” đối với Good và Pretti, thì cuộc tranh cãi đã chuyển hẳn sang địa hạt chính trị: người ta không còn bàn về bằng chứng, mà chỉ cãi nhau xem bên nào có động cơ xấu hơn.

Việc nhấn mạnh đến kỷ luật dùng chữ không có nghĩa là xem nhẹ bạo lực nhắm vào nhân viên công lực. Không ai phủ nhận sự nghiêm trọng của những vụ nổ súng như vậy, và cũng không loại trừ khả năng một vụ nào đó, sau khi điều tra, thật sự hội đủ yếu tố để xếp vào khung khủng bố. Nhưng nếu nhà chức trách đã có bằng chứng cho thấy người gây án dùng bạo lực như một công cụ cưỡng bức chính trị – điều làm nên cái riêng của chữ “khủng bố” – thì họ nên nói rõ điều đó, và trình bày, trong chừng mực cho phép, những chứng cớ nâng đỡ kết luận ấy. Còn nếu chưa có, thì nên dùng thứ ngôn ngữ điều tra thông thường, để hồ sơ đầy đủ chứng cớ rồi hãy đặt tên.

Một nhãn “khủng bố nội địa” dán lên trên sự thật không chỉ có thể sai trong một vụ đơn lẻ. Nó còn dạy công chúng, từng vụ một, rằng chữ ấy chỉ là khẩu hiệu. Đến một lúc nào đó, khi xã hội thực sự cần một khái niệm rõ ràng để gọi đúng tên một mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng, thì cái khung ấy đã bị làm cho cùn đi, không còn giúp ai phân biệt được đâu là bạo lực chính trị kiểu chiến tranh “mi-ni”, đâu chỉ là một vụ án – dù nặng nề – nhưng vẫn thuộc về phạm trù hình sự thông thường.

Nguyên Hòa tóm lược
 
Nguồn: Bài viết này dựa trên bài luận của Brian O’Neill, Giáo sư Thực hành môn Quan hệ Quốc tế tại Đại học Kỹ thuật Georgia, đăng trên The Conversation ngày 5-2-2026.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
07/03/202613:03:00
Cựu bình luận viên bảo thủ Tucker Carlson đã khơi mào một trong những cuộc tranh luận gây chia rẽ nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Ông chỉ trích mạnh mẽ liên minh Mỹ-Israel là “thiên vị và vô đạo đức”, cho rằng nó đặt lợi ích của Mỹ dưới sự chi phối của lòng trung thành tuyệt đối. Lời chỉ trích của ông đã gây ra phản ứng dữ dội từ các nhà lãnh đạo chính trị, nhà báo, các viện nghiên cứu và các nhóm vận động.
07/03/202612:51:00
“Lãnh đạo thực sự không được đo bằng các quyết định chiến tranh, mà bằng sự khôn ngoan, tôn trọng người khác, và hướng tới việc đạt được hòa bình.” (abc.net.au)
06/03/202600:00:00
Sau nhiều động thái của Hoa Kỳ và Israel mang tính truyền thống, hầu như để dọn đường cho một cuộc tấn công quân sự vào Iran, cho nên, sự kiện không kích của họ thực hiện vào sáng ngày 28 Tháng Hai 2026 đã không bị thế giới xem là quá bất ngờ. Ngay sau cuộc không kích, liên quân đã sớm loan tin về sự thiệt mạng của lãnh đạo tối cao Iran là Giáo chủ Ali Khamenei cùng nhiều quan chức cấp cao khác.
05/03/202623:00:00
Điều thực sự thúc đẩy hành động là ngưỡng đạo đức — tức mức độ sẵn sàng về mặt đạo lý để hành động, dù biết rằng sẽ có hậu quả. Ngưỡng đạo đức liên quan đến những câu hỏi như: Có chấp nhận được việc gây rủi ro thương vong cho dân thường không? Có chính đáng khi vi phạm chủ quyền của một quốc gia khác không? Những lợi ích chiến lược hoặc chính trị có đáng để đánh đổi bằng việc làm bất ổn một khu vực hay không?
05/03/202622:42:00
Sau vụ hai công dân Mỹ bị nhân viên nhập cư bắn chết ở Minneapolis, bà Noem bị chỉ trích vì những phát ngôn "kích động", không chính xác và hung hăng, gán cho các nạn nhân cái mác "khủng bố nội địa" một cách sai trái trước khi các cuộc điều tra về các vụ nổ súng kết thúc.
04/03/202614:30:00
Một biển người áo đen đứng chung quanh hàng trăm quan tài bằng gỗ thô sơ. Họ ôm lấy các thi thể nhỏ xíu đã không còn cảm giác, đặt cạnh các em những ba lô, sách vở và hoa. Tất cả sẽ cùng với những con dã tràng bé nhỏ này đi vào lòng đất.
27/02/202600:00:00
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
27/02/202600:00:00
Sau nhiều thập niên xung đột, chia rẽ và thử nghiệm tư tưởng, Việt Nam đang đứng trước một câu hỏi không thể né tránh: đất nước có cần tiếp tục đi theo chủ thuyết xã hội không thực tế kiểu cộng sản dù chỉ làm bình phong, hay cần một hệ thống vận hành được? Lịch sử hiện đại cho thấy, phần lớn những bi kịch của Việt Nam không bắt nguồn từ việc thiếu lý tưởng, mà từ việc quá tin vào một lý tưởng duy nhất, đến mức đặt chủ thuyết cao hơn con người và đời sống cụ thể. Khi một học thuyết được trao đặc quyền không thể chất vấn, sớm muộn cũng sẽ biến thành công cụ áp đặt, dù khởi đầu bằng những lời hứa tốt đẹp.
23/02/202621:17:00
Theo GS Stephen Young, sau ba lần nỗ lực không thành công trước đó nhằm sắp xếp các cuộc đàm phán trực tiếp, cánh cửa Nhà Trắng cuối cùng đã mở ra cho TBT Tô Lâm.
13/02/202600:00:00
Tại trung tâm Sài Gòn, sau khi sơn nóc chợ Bến Thành với màu đỏ chói chang và sơn nền đường trước chợ với màu xanh vằn vện, đủ “xanh xanh, đỏ đỏ cho em nhỏ nó mừng”[1], thì chế độ cũng đang cho xây dựng công trình tưởng niệm các nạn nhân tử vong trong đại dịch Covid-19 (giai đoạn 2020 - 2021). Tâm điểm của công trình là một tượng đài được tạo hình giọt lệ khổng lồ, bao quanh bởi các bậc tam cấp đồng tâm. Xét về khía cạnh nhân văn, việc xây dựng một không gian tưởng niệm quốc gia để người dân cùng nghiêng mình trước những mất mát to lớn của đồng bào là một ý tưởng cần thiết. Điều này hoàn toàn tương đồng với quan điểm tôi từng chia sẻ trước đây về việc cần xác lập một ngày quốc tang hoặc lễ kỷ niệm chung cho những đồng bào đã nằm xuống trong một giai đoạn bi thương ngắn ngủi nhưng khốc liệt của dân tộc.
“Đây là quan điểm của người viết, không nhất thiết là quan điểm của Việt Báo.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.