Hôm nay,  

Song Ngữ: Vô Tâm Là Đạo: Kinh Bahiya

10/12/202409:28:00(Xem: 8189)
VÔ TÂM LÀ ĐẠO: KINH BAHIYA

Thiền Tông dạy rằng người nào sống với Vô tâm là giải thoát. Trần Nhân Tông, vị Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng viết rằng khi gặp cảnh, giữ được vô tâm, thì không cần hỏi tới Thiền nữa. Đức Phật trước đó đã dạy pháp Vô tâm trong Kinh Phật Tự Thuyết Ud 1.10. Bài này sẽ viết theo nhiều bản Anh dịch trên Sutta Central.

Một đạo sĩ tên là Bahiya cư trú ở thị trấn Supparaka. Bahiya được cư dân tôn kính, cúng dường y phụ, nhà ở và nhiều thứ. Bahiya tự tin rằng đã chứng quả A la hán, hoặc sắp thành A la hán. Một vị cõi trời, kiếp trước từng là người thân của Bahiya, muốn điều tốt lành cho Bahiya, nên hiện ra, nói với Bahiya rằng Bahiya chưa phải là A la hán, và cũng chưa tu đúng con đường để trở thành A la hán.

Bahiya nói, vậy thì ai đang là A la hán, hoặc đã bước vào con đường trở thành một vị A-la-hán.

Vị cõi trời nói rằng Đức Phật, đang nơi thành Xá Vệ ở phía Bắc, là một vị A la hán và đang dạy pháp để trở thành một bậc A la hán.

Bahiya rời thị trấn Supparaka, đi khẩn cấp tới thành Xá Vệ, vào vườn Cấp Cô Độc, gặp một số nhà sư đang thiền hành ngoài trời. Bahiya hỏi, xin gặp Đức Phật, và được cho biết rằng Đức Phật đang đi khất thực.

Bahiya vào thành Xá Vệ, thấy Đức Phật đang đi khất thực, vẻ ngoài thanh thản, tĩnh lặng. Bahiya tới gần, quỳ lạy xuống đất, đầu chạm chân Đức Phật và xin được học Pháp.

Đức Phật trả lời Bahiya rằng chưa phải lúc, vì Phật đang vào nhà dân để khất thực.

Bahiya nói rằng vô thường nhanh chóng, chưa biết thọ mạng còn sống bao lâu, nền cần học Pháp khẩn cấp.

Lần thứ nhì, Đức Phật trả lời Bahiya rằng chưa phải lúc, vì Phật đang vào nhà dân để khất thực.

Lần thứ ba, Bahiya nói rằng chưa biết thọ mạng còn sống bao lâu, nền cần học Pháp khẩn cấp.

Đức Phật trả lời Bahiya, vậy thì phải tự rèn luyện như sau:

Này Bahiya, trong cái được thấy chỉ có cái được thấy, trong cái được nghe chỉ có cái được nghe, trong cái được cảm thọ chỉ có cái được cảm thọ, trong cái được thức tri chỉ có cái được thức tri. Do đó, Bahiya, ông sẽ không ở với cái đó; và vì, Bahiya, ông sẽ không ở với cái đó, do đó, Bahiya, ông sẽ không ở trong cái đó; và vì, Bahiya, ông sẽ không ở trong cái đó, do đó, Bahiya, ông sẽ không bị dính mắc ở nơi đây hay ở kiếp sau, hay ở giữa hai cái đó. Chỉ như thế là chấm dứt đau khổ.
 
Khi nghe lời dạy ngắn gọn này, Bahiya lập tức giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không dính mắc. Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, một con bò con đã tông vào Bahiya, và giết chết Bahiya.
 
Khi Đức Phật khất thực xong, quay lại, thấy Bahiya đã chết. Đức Phật yêu cầu các nhà sư đặt xác Bahiya lên chết, đốt và dựng tượng đài, vì đó là bạn đồng tu của các sư.
 
Các nhà sư làm xong, hỏi Đức Phật rằng đời sau của Bahiya ở đâu, là gì. Đức Phật đáp rằng Bahiya đã thực hành đúng Pháp và đã vào Niết bàn tối hậu.
 
Sau đó, Đức Phật đọc bài kệ:
Nơi nào nước, đất, lửa và gió không có chỗ đứng,
Nơi nào các vì sao không chiếu sáng, và mặt trời không có ánh sáng,
Nơi nào mặt trăng không tỏa sáng, và bóng tối không thể tìm thấy,
Khi một người tự mình biết điều này – một người thánh thiện có trí tuệ thực sự,
Khi đó, người ấy được giải thoát khỏi cả hình tướng và vô tướng, xa lìa cả khoái lạc và đau khổ.
 
Video dài 4:24 phút:

https://youtu.be/lf-o7TTfmRY
   
.... o ....
 
NO-MIND IS THE WAY: BAHIYA SUTTA

Zen teaches that those who live with No-mind are liberated. Tran Nhan Tong, a renowned Vietnamese Zen master from the 13th century, once wrote that when encountering any phenomenon, if one can maintain No-mind, there is no need to inquire further about Zen. The Buddha previously taught the Dharma of No-mind in the Udana Sutra 1.10. This article will draw upon various English translations available on Sutta Central.


A hermit named Bahiya lived in the town of Supparaka. The townspeople revered Bahiya, offering him robes, a house, and many other gifts. Bahiya was confident that he had attained Arahantship or was on the path to becoming an Arahant. However, a deva, who had been a relative of Bahiya in a previous life, appeared to him and conveyed that he was neither an Arahant nor on the correct path to achieving Arahantship.
 
Bahiya stated that he was an Arahant or had embarked on the path to becoming one. The deva responded that the Buddha, who resided in the northern city of Savatthi, was indeed an Arahant and was teaching the Dhamma to help his disciples attain Arahantship.
 
Bahiya left the town of Supparaka, hurried to Savatthi, entered Anathapindika's garden, and encountered some monks engaged in walking meditation outdoors. Bahiya requested to see the Buddha but was informed that the Buddha was out on his alms round.
 
Bahiya entered Savatthi and saw the Buddha on his alms round, appearing serene and calm. Bahiya approached, prostrated himself on the ground, touched his head to the Buddha's feet, and requested to learn the Dhamma.
 
The Buddha replied to Bahiya that it was not yet the right time, as he was going into people's homes to beg for alms.
 
Bahiya stated that impermanence is swift, and since he did not know how long he would live, he felt an urgent need to learn the Dhamma.

The second time, the Buddha responded to Bahiya that it was not yet the appropriate moment, as he was going to people's homes to beg for alms.

The third time, Bahiya expressed that he did not know how long he would live, so he urgently needed to learn the Dhamma.

The Buddha advised Bahiya to train himself in the following manner.
 
"And since for you, Bahiya, in what is seen there will be only what is seen, in what is heard there will be only what is heard, in what is sensed there will be only what is sensed, in what is cognized there will be only what is cognized, therefore, Bahiya, you will not be with that; and since, Bahiya, you will not be with that, therefore, Bahiya, you will not be in that; and since, Bahiya, you will not be in that, therefore, Bahiya, you will not be here or hereafter or in between the two—just this is the end of suffering."
 
Upon hearing this brief teaching, Bahiya was immediately liberated from his defilements through non-attachment. Shortly after the Buddha departed, a young cow struck Bahiya, resulting in his death.
 
When the Buddha returned from his alms round, he discovered that Bahiya had passed away. The Buddha instructed the monks to place Bahiya's body on the ground, burn it, and erect a monument in his honor, as he was their fellow monk.
 
When the monks had finished, they asked the Buddha about Bahiya's next life and its destination. The Buddha replied that Bahiya had practiced the Dhamma correctly and had attained final Nirvana.
 
Then the Buddha recited the following verse:
Where water, earth, fire, and wind have no place,
Where the stars do not shine and the sun provides no light,
Where the moon does not shine and darkness cannot be found,
When one experiences this firsthand—a holy person possessing true wisdom—
Then one is liberated from both form and formlessness, transcending both pleasure and pain.
 
Video, 4:44 minutes long:

https://youtu.be/p4x9fLmm1VU

Reference:
https://suttacentral.net/ud1.10/en/sujato
https://suttacentral.net/ud1.10/en/anandajoti



.... o ....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
30/01/202613:19:00
J541. Nimi Jātaka -- Hãy tu cả bố thí và giới hạnh. Tóm tắt: Đức Phật mỉm cười, và Tôn giả Ānanda hỏi ngài lý do. Đức Phật kể lại câu chuyện về một vị vua, khi nhận thấy một sợi tóc bạc trên đầu, đã quyết định từ bỏ thế tục. Con cháu của ông cũng làm theo, và một trong số họ được đưa đến xem địa ngục và thiên đàng, và được cho biết những việc làm mà con người đã thực hiện để xứng đáng với kiếp luân hồi của mình.
22/01/202610:12:00
J531. Kusa Jātaka -- Tìm một người vợ có vẻ đẹp vượt trội hơn cả tượng vàng. Tóm tắt: Một ngày nọ, một vị sư, khi nhìn thấy một phụ nữ, đã bị dục vọng chế ngự và muốn từ bỏ cuộc sống tu hành. Đức Phật sau đó kể một câu chuyện về một vị vua xấu trai đã đúc một bức tượng vàng của người phụ nữ mà ông muốn cưới. Khi tìm thấy phụ nữ đó, cô lại không thể chịu đựng được khi ở bên ông và trở về nhà. Vị vua đã theo cô và làm nhiều việc thấp hèn để thu hút sự chú ý của cô, cuối cùng đã chinh phục được cô bằng cách đánh bại bảy vị vua trong trận chiến.
17/01/202614:04:00
J521. Tesakuna Jātaka -- Chuyện ba con chim thông thái. Tóm tắt: Đức Phật khuyên vua xứ Kosala nên sống một cách chính trực và kể một câu chuyện về một vị vua không có con, người đã nhận nuôi ba con chim non bị bỏ rơi. Khi bị triều thần chế giễu, nhà vua lần lượt đưa từng con chim đến triều đình và hỏi chúng lời khuyên về việc cai trị vương quốc. Tất cả các con chim đều đồng ý rằng chúng nên được thăng chức lên những vị trí cao quý.
14/01/202612:12:00
J511. Kimchanda Jātaka -- Giữ gìn ngày chay Bát quan trai Tóm tắt: Những người cư sĩ giữ ngày trai giới Uposatha. Đức Phật kể một câu chuyện về một vị thầy tế lễ trong gia đình, người từng nhận hối lộ nhưng một lần đã giữ giới ăn chay nửa ngày. Do hành động đó, ông ta đã phải chịu những hậu quả nhất định khi tái sinh thành một loài ngạ quỷ (Peta).
11/01/202604:56:00
J501. Rohanta-Miga Jātaka -- Chuyện người thợ săn từ bỏ nghề săn để tu hạnh Ngũ Giới. Tóm tắt: Trưởng lão Ānanda cố gắng bảo vệ Đức Phật khi Devadatta sai một con voi đến giết ngài. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về một con nai vàng bị mắc bẫy và cách anh chị em của nó từ chối bỏ rơi nó. Cuối cùng, Bồ Tát đã dạy Dhamma cho người thợ săn, và người thợ săn lại dạy Dhamma cho nhà vua.
05/01/202617:49:00
FORT HOOD, Pennsylvania - Thiếu tá Prasert Ammartek đã sống một cuộc đời được định hình bởi kỷ luật và sự phục vụ. Thiếu tá đã trải qua 19 năm làm nhà sư Phật giáo trong rừng và 14 năm phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ. Ngày nay, Thầy kết hợp cả hai con đường đó trong vai trò là một tuyên úy và là người cố vấn cho các binh sĩ.
04/01/202618:07:00
J491. Maha-Mora Jātaka -- Chuyện về người thợ săn đạt quả vị Phật Độc Giác. Tóm tắt: Một vị sư bất mãn với cuộc sống tu hành. Đức Phật kể câu chuyện về một con công vàng được bảo vệ bởi đức hạnh của mình trong 7.000 năm, cho đến khi một con công mái khiến nó mất cảnh giác, khơi dậy dục vọng của nó, và nó bị người nuôi chim bắt giữ. Sau khi cảm hóa được người thợ săn, con công và tất cả các loài động vật khác trong vương quốc đều được trả tự do.
30/12/202504:38:00
J481. Takkariya Jātaka -- Lời nói thiếu suy nghĩ sẽ dẫn đến đau khổ. Tóm tắt: Kokālika đổ lỗi cho hai vị đệ tử chính của Đức Phật và vì những lời nói của chính mình, Kokālika rơi xuống địa ngục. Đức Phật kể một câu chuyện về việc một vị thầy tế lễ trong gia đình đã cố gắng hãm hại người khác và cuối cùng lại tự hủy hoại chính mình.
23/12/202518:00:00
J471. Mendaka Jātaka -- Chuyện một con chó và một con dê dựa vào nhau để sống. Tóm tắt: Đức Phật kể một câu chuyện về một con chó bị bắt quả tang ăn trộm thịt và một con dê bị bắt quả tang ăn trộm cỏ. Hai con vật đã lập một thỏa thuận hợp tác với nhau, vì biết rằng sẽ không ai nghi ngờ một con dê ăn trộm thịt hay một con chó ăn trộm cỏ. Chỉ có vị hiền nhân Mahosadha mới có thể làm sáng tỏ bí ẩn về việc chúng đã trở thành bạn bè như thế nào.
20/12/202508:12:00
J461. Dasaratha Jātaka -- Mọi người, dù trẻ hay già, giàu hay nghèo đều sẽ chết; thương khóc chỉ làm suy sụp người sống, và không mang người chết trở lại. Tóm tắt: Một cư sĩ mất cha, nên vô cùng đau khổ. Đức Phật kể một câu chuyện về một vị hoàng tử thời xưa, để tránh xung đột, đã lui về vùng núi chờ đợi cái chết của cha mình. Khi tin tức đến, vị hoàng tử không hề đau buồn, vì hiểu rằng tất cả đều phải chết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.