Hôm nay,  

Miến Điện “Thoát Trung”

17/11/201400:00:00(Xem: 7208)

...Liên Xô có Gorbachev và Yeltsin, Miến Điện có Thein Sein và Suu Kyi, Việt Nam có ai...

Tuần qua, TT Obama sau khi tham dư hội Nghị Thượng Đỉnh APEC tại TC xong đã bay qua Miến Điện, tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN tại thủ đô Miến Nay Pyi Taw, sau đó đi Yangon gặp sinh viên, bà Aung San Suu Kyi và đại diện vài tổ chức đối lập. Trước khi đi Úc tham dự Hội Nghị G-20.

Bỏ qua chuyện mấy vị quốc trưởng mang tiền thuế của dân è cổ ra đóng đi họp hết thượng đỉnh này đến thượng đỉnh nọ, chung quy vẫn những bộ mặt đó, gặp đi gặp lại, có khác là khác bộ quần áo, nay áo dài khăn đóng Việt, mai áo Mao, mốt quấn xà-ròng. Dù sao thì những vị đó gặp nhau, bắt tay mà mặt không cười như Obama-Putin hay Tập Cận Bình-Shinzo Abe, vẫn còn hơn các vị đó bán cái, xúi dại đàn em giết nhau.

Đây là lần thứ nhì TT Obama đến Miến Điện, một chuyện lạ đáng nói khi mối giao hảo Mỹ-Miến không có vẻ cơm lành canh ngọt gì từ mấy chục năm qua. Phải nói TT Obama theo Tin Lành, không phải Phật tử mê chùa Miến Điện nên muốn đi hoài. TT Obama cũng không phải là thành phần cấp tiến quá khích chuyên đi lòng vòng xách động thế giới về nhân quyền, chống độc tài. TT Obama sẽ nói về nhân quyền và cởi mở chế độ với các vị lãnh đạo và đối lập Miến, nhưng đó không phải là trọng điểm của hai cuộc viếng thăm.

Sự thật là Mỹ đang cố gắng lôi kéo Miến ra khỏi vòng tay Chú Ba họ Tập. Nhân quyền luôn luôn chỉ là cái cớ, khi nào cần mang ra làm bình phong thì lôi ra, khi nào không cần thì cất đi. Mỹ mang chuyện nhân quyền ra hù dọa Miến, nhưng lại vui vẻ ôm Tập Cận Bình hay Nguyễn Tấn Dũng trong khi TC và VN “thoải mái” chà đạp nhân quyền.

Nhân đây, ta nhìn thêm về cái xứ thần bí này.

Miến Điện quả là xứ bí hiểm. Chỉ vì một lý do khá giản dị là cái xứ này đóng cửa không chơi với ai, mà cũng chẳng ai chơi với, từ xấp xỉ một nửa thế kỷ rồi, nên mọi chuyện đều không có gì sáng tỏ, chẳng ai biết rõ chuyện gì về xứ này ngoài chuyện nổi tếng là xứ của chùa chiền và xứ của độc tài quân phiệt cảnh sát trị.

Ngay cả cái chuyện này nghe cũng lủng củng. Người ta thường nghĩ nếu là đất Phật thì chắc phải êm ả hiền lành, nhưng sao lại cũng độc tài sắt máu.

Trước hết nói về đất Phật. Quả Miến Điện là đất Phật. Trên thế giới này, có một ít quốc gia rất sùng đạo Phật, Miến Điện nằm trong khối này, ngang với Nepal, Bhutan, Tây Tạng, Tích Lan, hơn cả Thái Lan và Lào. Ở đây, cứ vài ba con đường là lại có một ngôi chùa, lớn nhỏ, đủ loại. Thành phố lớn nào cũng có vài ngôi chùa thật lớn, rất nổi tiếng.

Như Yangon có ngôi chùa nổi danh Shwedagon, là ngôi chùa bọc bởi sáu tấn vàng và ngôi chùa Chauk Htet Gyl là ngôi chùa có tượng Đức Phật nằm, dài 70 thước. Tại Mandalay, có ngôi chùa lớn, với bức tượng Phật cao hơn 5 thước, bịt kín bởi những miếng vàng lá mỏng mà Phật tử dán lên tượng. Và chùa Maha rất đặc biệt với 729 cái tháp nhỏ cao chừng 2 thước, trong mỗi tháp có một phiến đá cao chừng một thước khắc một bài kinh Phật. Nói chung, chùa Miến giống chùa Thái chứ không giống chùa Tầu. Phật giáo Miến cũng là Phật giáo tiểu thừa.

Đây là những ngôi chùa trứ danh, rất đẹp và rất đặc biệt đã thu hút cả triệu du khách mỗi năm. Đặc biệt là chùa Shwedagon (http://en.wikipedia.org/wiki/Shwedagon_Pagoda). Tọa lạc trên nguyên một ngọn đồi, có 4 lối vào từ bốn hướng, phải leo cả mấy trăm bực thang mới lên tới (cổng chính có thang máy), ở giữa là một cái tháp trát vàng cao 105 thước, chung quanh là cả trăm cái chùa nhỏ, và tháp nhỏ trông giống như mấy cái am miễu của VN ta, nhưng lớn hơn, trạm trổ rất công phu, mỹ thuật, phần lớn cũng trát vàng hay bạc. Tương truyền được xây cách đây 2.600 năm bởi hai doanh nhân sau khi họ đi gặp đích thân Đức Phật về. Thực tế có lẽ được xây thế kỷ thứ 10. Chùa bị tàn phá nhiều lần bởi chiến tranh và động đất, sau mỗi lần lại được sửa chữa, trùng tu liên tục.

Ngoài ra, Miến Điện có hai vùng nữa, thường là tâm điểm của các Phật tử đến viếng xứ này. Thứ nhất là vùng Bagan, là nơi trước đây, các vua Miến đã bỏ cả mấy trăm năm ra xây khoảng 10.000 ngôi chùa, lớn nhỏ, đủ cỡ. Phần lớn các chùa này đã bị thời gian và chiến tranh tàn phá, bây giờ chỉ còn gạch vụn. Nhưng cũng vẫn thu hút du khách khi họ đứng trên đồi cao nhìn xuống cả ngàn ngôi chùa rải rác xa hơn tầm nhìn của mình.

Thứ nhì là gần thành phố Taunggy, có một hang động rất lớn và rất đặc biệt, trong đó có gần 10.000 tượng Phật, đủ kiểu, đủ loại, đủ cỡ, do Phật tử trên khắp thế giới cúng dường, được đặt ngổn ngang trên vách đá của động. Đại khái thì quý độc giả có thể đặt đúc một bức tượng Phật, cỡ nào cũng được, từ vài chục phân đến vài thước, bằng vàng, gỗ, đất, hay đá, rồi gửi đến đặt trong động, với bảng tên của mình.

Ngoài chùa ra thì trên đường phố, sư sãi lúc nào cũng thấy đi tới đi lui. Nhất là sáng sớm, khoảng 7-8 giờ là thấy hàng đoàn cả trăm chú tiểu bưng bình bát đi khất thực, xin tiền mặt hay đồ ăn cho nguyên ngày. Chỉ có chú tiểu thôi, trong khi các vị sư lớn tuổi không bưng bình bát đi đường. Sáng nào cũng đi khất thực, và dân chúng lúc nào cũng nhiệt tình kính cẩn cúng dường.

Trong các quán và tiệm ăn bình dân, không là chuyện lạ gì khi thấy có mấy vị sư tụ họp ngồi uống trà đá, thay vì thấy mấy anh thanh niên tụ năm tụ bẩy “một, hai, ba, dzô!” như ở VN. Trong xe hơi, gần như xe nào cũng có một tượng Phật nhỏ để sau kính trước. Tiệm buôn nào cũng có bàn thờ Phật.

Dân Miến rất sùng đạo. Có lẽ vì vậy, phần lớn cũng rất hiền lành, lễ phép và lương thiện. Suốt ngày cúi rạp người xuống chào hỏi, cám ơn hay xin lỗi đủ chuyện, khác với VN ta, nơi mà tiếng xin lỗi gần như đã biến khỏi tự điển. Ở Miến, không bao giờ có chuyện bị lừa gạt tiền hay cướp giựt. Đây là xứ an toàn nhất cho du khách.

Xứ Miến còn rất chậm tiến về phương diện tài chánh, phần lớn chi tiêu bằng tiền mặt, không xài thẻ tín dụng hay chi phiếu ngân hàng, một loại kinh tế tiền mặt. Mà tờ tiền giấy lớn nhất chỉ có mệnh giá tương đương với 10 đô, thành ra người ta có thể thấy mấy ông bà kinh doanh mang từng bao bố tiền đi xe taxi, mà không bao giờ có chuyện bị taxi cướp. Du khách có để quên tiền hay đồ đạc trên taxi, cũng không sợ gì, tài xế sẽ mang trả lại tại khách sạn hay tại sở cảnh sát. Trong chợ, các bà bán hàng để cả xấp tiền thu nhập ngay trên sạp bên cạnh, chẳng bao giờ sợ bị cướp giựt.

Tài nguyên chính của Miến là đá quý, đặc biệt là cẩm thạch và hồng ngọc. Các bà có thể vào chợ hay các tiệm, mua vòng cẩm thạch với giá từ 10 đô đến 30.000 đô. Có những tiệm đặc biệt bán vòng cẩm thạch tới bạc triệu đô. Có điều du khách từ Mỹ qua nên lưu ý vì Mỹ “trừng phạt” kinh tế Miến, cấm không cho mang đá quý từ Miến vào. Hải quan Mỹ sẽ tịch thu và phạt nặng.

Thành phố lớn nhất, Yangon, có điểm đặc biệt là tuyệt đối cấm xe gắn máy, nên toàn xe hơi, xe nào cũng nhỏ xíu, giống như bên Âu Châu. Nhưng hầu hết đều là xe cũ, phế thải từ Nhật hay Hàn qua. Không có cảnh lưu thông loạn xà ngầu, vô trật tự, với xe tải, xe hơi, xe buýt, xe gắn máy như VN. Dân Miến rất kiên nhẫn ngồi chờ đèn xanh, không có vượt đèn đỏ ào ào như tại xứ “đỉnh cao trí tuệ”.

Bây giờ ta bàn đến chuyện chính trị.

Miến có 3 thủ đô, tương tự như VN. Cố đô Mandalay, thủ đô thương mại Yangon, và thủ đô chính trị Nay Pyi Taw, được thành lập 1997.

Miến bị Anh đô hộ hơn 60 năm. Anh bị Nhật hất cẳng thời Thế Chiến II. Sau khi Nhật thua, Miến được độc lập năm 1948. Đây là vùng đất chiến lược, là chiến trường lớn thời Đệ Nhị Thế Chiến, cửa sau để đồng minh xâm nhập vào Trùng Khánh, giúp các lực lượng kháng Nhật của liên minh Tưởng - Mao. Hơn 150.000 lính Nhật cùng với hơn 250.000 dân Miến bị chết trong cuộc chiến.

Năm 1962, tướng Ne Win đảo chánh, thiết lập một chế độ quân phiệt độc tài sắt đá thiên tả nặng. Miến bị cô lập hoàn toàn. Thế giới, do Mỹ và Âu Châu cầm đầu, áp đặt những biện pháp cô lập kinh tế để ép các tướng lãnh cởi mở, nhưng không mấy hiệu quả.

Vì bị Tây Phương cô lập nên các tướng quay qua tựa lưng vào TC, được vồn vã tiếp đón. Miến nối liền với TC như cuống rốn. TC trợ giúp kinh tế, quân sự, xây xa lộ, hải cảng, đường rầy xe lửa, tiếp trợ thực phẩm, dầu xăng, hàng tiêu dùng, chuyên viên kỹ thuật... Tất cả đều từ những tính toán chiến lược có lợi cho TC, mở cánh cửa cho TC vào vùng biển Bengal phiá đông Ấn Độ, bao bọc bởi Ấn, Bangladesh, Miến và Thái.

Năm 2011 tướng hồi hưu Thein Sein đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử sắp đặt kiểu các xứ độc tài. TT Thein Sein này được ví như Gorbachev. Ông Gorbachev là đảng viên CS trung kiên, leo thang từ trong, lên đến tột đỉnh quyền hành thì thay đổi chính sách 180 độ, “đổi mới” và “cởi mở”, đưa đến sự xụp đổ hoàn toàn của chế độ CS tại Liên Xô.

Tướng Thein Sein cũng xuất thân từ hàng ngũ các tướng lãnh độc đoán, làm thủ tướng khi ra tranh cử tổng thống. Nhưng khi lên đến tổng thống thì ông đảo lộn chính sách, chủ trương cởi mở, bình thường hoá. Ở đây, ta nên dùng danh từ “bình thường hoá” để nói về chuyện chấm dứt chế độ độc đoán, chứ chưa thể nói đến “dân chủ hoá” được.

Sang năm tới, tháng Chín 2015, Miến sẽ tổ chức bầu tổng thống. Đây là cái nhức răng lớn cho Miến. Bà Aung San Suu Kyi là người được thế giới ngưỡng mộ và toàn thể dân Miến tôn thờ. Bà ra tranh cử thì coi như khỏi cần tổ chức bầu bán gì cho mệt.

Nhưng theo Hiến Pháp hiện hành, bà không ra tranh cử được, vì có quan hệ ruột thịt với công dân goại quốc là hai cậu con trai của bà, đều có quốc tịch Anh. Hiến Pháp này do nhóm quân phiệt viết ra năm 2008 để ngăn cản không cho bà Suu Kyi ra tranh cử.

Ngược dòng thời gian, bà Aung San Suu Kyi, sanh năm 1945, là con gái tướng Aung San. Ông tướng này lãnh đạo cuộc đấu tranh dành độc lập cho Miến Điện khỏi tay Anh, rồi tham chiến bên đồng minh chống Nhật, nhưng bị thành phần quá khích ám sát chết năm 1947, khi ông mới 37 tuổi, gần một năm trước khi Miến dành được độc lập. Ông trở thành người hùng lớn của Miến, như một Washington của Mỹ. Tên của ông tràn ngập cả nước, đường phố, công viên, công thự, sân vận động, trường học,... vô số mang tên ông.

Sau khi ông chết, bà Suu Kyi khi đó 2 tuổi, qua Anh sống, lớn lên, lấy chồng bác sĩ người Anh, sanh ra hai cậu con trai. Năm 1988, nhân dịp bà mẹ bị đau nặng, sắp qua đời, bà Suu Kyi về nước thăm, và bị sốc nặng khi thấy quân đội và cảnh sát đàn áp dã man sinh viên đang biểu tình đòi tự do dân chủ. Bà quyết định ở lại, tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh. Đảng Liên Minh Quốc Gia Cho Dân Chủ (National League For Democracy) ôm chầm lấy bà, con gái của người hùng Aung San.

Năm 1990, bà Aung San Suu Kyi và đảng của bà đại thắng trong cuộc bầu cử, nhưng bị các tướng lãnh hủy kết quả bầu cử, bà Suu Kyi bị bắt.

Các tướng lãnh gãi đầu bứt tai không biết phải đối phó ra sao. Hầu hết họ là đàn em của tướng Aung San là người thành lập ra quân đội Miến, mà ông tướng này cũng được dân tôn thờ như thần thánh, nên các tướng không dám đụng đến bà Suu Kyi. Đành biệt giam tại gia. Tìm đủ cách khuyến khích, dụ dỗ, hăm doạ để bà về lại Anh, nhưng bị cự tuyệt. Cho đến khi TT Thein Sein chủ trương cởi mở, trả tự do cho bà năm 2011, và ngay sau đó bà được bầu làm dân biểu.

Hiện nay, Miến đang bị áp lực sửa đổi Hiến Pháp, cho phép bà Suu Kyi ra tranh cử tổng thống. Nhưng không dễ. Vì bà quá chắc ăn, nên khối quân đội với một phần tư quốc hội, và khối các đảng khác, không dễ gì chịu sửa Hiến Pháp, cho bà ra tranh cử để họ bảo đảm bị thua. Với áp lực từ trong nước ra đến ngoài nước, khó có thể cưỡng lại chuyện thay đổi Hiến Pháp.

Đây sẽ là một cuộc chiến mới trong năm tới. Một trong những lý do TT Obama đến Miến hai lần, chính là muốn tạo áp lực về chuyện này.

Câu hỏi là bà Suu Kyi làm tổng thống có phải là giải pháp tối ưu cho Miến Điện không? Câu trả lời là... chưa chắc.

Bà Suu Kyi là người có ý chí sắt đá, hết sức can đảm đương đầu với các tướng lãnh. Chấp nhận hy sinh cá nhân bị nhốt 20 năm để tranh đấu đến cùng. Khi ông chồng người Anh bị đau nặng sắp chết, các tướng lãnh cố thuyết phục bà về Anh chăm sóc. Bà hiểu là ra đi sẽ không có ngày về, nên nhất quyết không đi. Chỉ ngày ngày đến tòa đại sứ Anh để nói chuyện điện thoại với chồng trong nhà thương. Các tướng cho phép bà làm vậy để hy vọng bà ra đi, nhưng ông chồng lại luôn khuyến khích bà giữ vững lập trường (có cuốn phim rất hay kể lại cuộc đời bà, “The Lady” do Michelle Yeoh đóng; quý độc giả muốn biết thêm, nên xem).

Điều đáng bàn là bà Suu Kyi không phải là một chính trị gia có tài kinh bang tế thế. Bà là một bà nội trợ có quyết tâm. Nhưng như vậy dĩ nhiên chưa đủ để có thể lãnh đạo cả nước.

Vấn đề này đã nổi bật trong hai năm qua, thời gian bà làm dân biểu. Người ta thấy rõ ràng vai trò rất lu mờ của bà trong tư thế dân biểu. Không đưa ra luật nào, không tích cực “đấu tranh chính trị” trong hậu trường quốc hội, không lên tiếng trước những biến cố trọng đại, như những vụ xung đột giữa Phật giáo và Hồi giáo, cuộc nội chiến giữa chính quyền với các sắc dân vùng biên giới với Thái, với Tầu, và với Bangladesh muốn tự trị.

Nếu bà làm tổng thống, đảng của bà sẽ phải cung cấp những nhà lãnh đạo chính trị và chuyên môn thật sự để giúp bà điểu hành chuyện nước. Nhưng đảng của bà cũng lần đầu tiên được phép hoạt động giới hạn, nên cũng không có ai có khả năng hay kinh nghiệm điều hành cả nước.

Ở đây, nhìn vào thực tế sẽ thấy bà vẫn cần sự hợp tác của các tướng lãnh, cần họ chịu sửa luật cho bà ra tranh cử, rồi giúp bà cầm quyền sau này. Dù sao, quân đội cũng đã nắm quyền gần nửa thế kỷ, tất cả guồng máy chính quyền đều là quân nhân hay đồng minh. Do đó, bà đã có thái độ có vẻ thân thiện với các tướng lãnh gần đây.

Miến đã dứt khoát áp dụng chính sách “thoát Tầu”, mới đây đã đơn phương hủy vài dự án lớn của TC, như dự án tân trang các hải cảng, lập nhà máy thủy điện lớn, và xây đường xe lửa từ biên giới TC-Miến đến tận biển Bengal phiá Nam Miến. Trái với những đấm ngực khoe công của chính quyền Obama, “thoát Tầu” là chính sách xuất phát từ TT Thein Sein, không phải do thúc đẩy của Mỹ, tuy Mỹ khuyến khích mạnh. Miến Điện chấp nhận bà Suu Kyi là cái giá phải trả để thoát Tầu.

Chiều hướng này đi song song với những cởi mở trong nước (như chấm dứt kiểm duyệt báo, cho dân tự do dùng điện thoại và vào internet), và xích lại gần Mỹ. Những cố gắng móc nối Mỹ–Miến đã từng được cựu thượng nghị sĩ Virginia, Jim Webb phát động, sau đó được bà Ngoại Trưởng Hillary tiếp tục. Bây giờ TT Obama muốn đẩy mạnh thêm cho tiến trình chạy nhanh hơn. Nhưng TT Thein Sein đi rất chậm rãi, không muốn đi theo con đường quá mau của Gorbachev, đưa đến xụp đổ toàn diện. Các tướng lãnh Miến chấp nhận thay đổi, nhưng không ai muốn tự vẫn.

Thoát Tầu, xích lại với Tây Phương, cấm vận sẽ được tháo gỡ, đô-la và Euro sẽ đổ vào, chuyên gia, cố vấn sẽ tràn ngập. Miến Điện sẽ qua mặt CSVN trong vài năm. Không phải vì giỏi gì hơn, mà chỉ vì thật tâm hơn.

TT Thein Sein thật tâm muốn cải đổi tận gốc rễ, xoá bỏ độc tài xã hội chủ nghiã, khác với CSVN chỉ muốn thay đổi về kinh tế để các quan có dịp kiếm tiền trong khi vẫn bám víu vào quái thai “định hướng xã hội chủ nghiã”. Liên Xô có Gorbachev và Yeltsin, Miến Điện có Thein Sein và Suu Kyi, Việt Nam có ai? Một câu hỏi người Việt nào cũng muốn biết câu trả lời. (16-11-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
19/11/201415:03:58
Khách
Một bài viết với nhiều chi tiết đáng biết về xứ Miến Điện .
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.