Hôm nay,  

Ơn người, ơn đời

21/11/202308:30:00(Xem: 3374)
nguyencau

Một chữ ơn tưởng chừng đơn giản và nhỏ bé, ấy vậy mà cả đời không đáp được, có chăng cũng chỉ hời hợt chút chút gọi là. Chữ ơn hàm ý cao cả và thâm sâu, dù nói thế nào cũng không tả hết. Con người ở đời tương tác với nhau, ơn nghĩa với nhau là lẽ đương nhiên, tuy nhiên với những cái ơn hoàn toàn chỉ có thi ơn mà không hề mong báo đáp bao giờ, chẳng hạn như: Ơn Phật, ơn ông bà cha mẹ. Phật và ông bà cha mẹ có bao giờ đòi hỏi chúng ta phải báo đáp, phải nhớ ơn mình? nhớ hay không là tự thân mỗi người chúng ta, điều này cũng thể hiện được nhân cách, văn hóa và giáo dục mà chúng ta có.
    Con người cũng như vạn vật trong trời đất tương tác qua lại lẫn nhau. “Cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt”, không hề có một cái gì là thực thể độc lập, tồn tại một mình. Con người cũng thế, không thể tồn tại độc lập mà không cần có môi trường sống chung quanh, không có nguồn cội… Tất cả do nhiều cái duyên hợp lại mà thành, mà đã do duyên hợp thì cũng ắt do duyên mà tan. Ơn người cũng thế, cũng không thể ngoài nhân duyên. Cũng do duyên mà có cái ơn trở nên cao quý được ghi nhớ, được xưng tán; cũng có mối ơn do duyên mà trở nên quên lãng, mai một thậm chí bị bội ơn.
Nói về ơn thì trước hết phải nhớ ơn Phật. Ngài đã đến thế gian này, khai mở con đường sáng cho mọi người, chỉ ra những nỗi khổ, nguyên nhân khổ, cách thoát khổ… Phật dạy tu phước, tu huệ, sống an hòa từ ái, tăng trưởng từ bi, tôn trọng sự sống muôn loài. Phật dạy con đường giác ngộ, dạy cách ra khỏi biển khổ sinh tử luân hồi. Không có Phật thì loài người sẽ mãi mờ mịt trong màn đêm vô minh, mặc tình tạo tác ác nghiệp. Phật đại từ đại bi chỉ dạy vô điều kiện, yêu thương không cần báo đáp, chỉ có thể nói là “Vô duyên đại từ”. Ngài đem lòng từ và trí huệ ra tận lực chỉ giáo con người mà không cần một điều kiện gì cả. Mình nhớ ơn Phật thì làm theo những gì Phật dạy, tùy phận, tùy sức, tùy thời, tùy duyên; làm với sự cố gắng cao nhất mà mình có thể, ấy cũng tạm gọi là báo ân Phật. Báo ơn Phật không phải dâng một ít trái cây và hoa rồi dập đầu lễ bái, báo ân Phật thì phải:
 
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
 
Ơn cha mẹ ai cũng biết, cũng hiểu nhưng vẫn cần phải nói, điều đáng nói ở đây là từ hiểu biết đến thực hành có một khoảng cách khá xa. Không có cha mẹ thì không có mình. Mẹ sanh cha dưỡng, cả đời chăm sóc nuôi nấng lo toan… Một khúc ruột của mẹ cắt ra để tượng thành hình người, từ khúc ruột ấy cha bỏ công sức cần lao nuôi nấng,dạy dỗ để rồi có ta hôm nay. Bởi thế mà thiên hạ vẫn ví cha mẹ như hai vị Phật đầu tiên trong đời của mỗi con người. Thiền tông Nhật Bản có câu chuyện anh thanh niên bôn ba khắp xứ để tìm Phật, tìm hoài không thấy, mãi cho đến khi có một vị thiền sư bảo: ”Anh hãy quay về nhà, người đầu tiên ra mở cửa cho anh đó chính là vị Phật”. Anh ta nghe lời, quay về nhà. Người mẹ già lập cập run run ra mở cửa. Anh ta chợt ngộ: ”Đây chính là một vị Phật”. Con người hiếu thảo, đền đáp công ơn cha mẹ là lẽ tự nhiên, là đạo lý và cũng là nhân cách của mỗi người.
    Trong nhà thì cha mẹ, anh em, vợ chồng, họ hàng tương tác qua lại với nhau. Ra ngoài thì ơn người, ơn đời đôi khi cũng rất diệu kỳ; đôi khi xa lạ nhau nhưng chỉ một lời nói, một cái nhìn, một hành động cũng có thể trở thành cái ơn nhớ mãi trong đời. Đừng nói là chỉ con người, con vật cũng biết ơn, có rất nhiều những câu chuyện thực tế cho thấy loài vật cũng biết ơn và nhớ ơn. Có những con chó nhớ ơn chủ cứ nằm bên mộ chủ nhân hoặc lẩn quẩn quanh nơi cũ của chủ mà chẳng chịu đi đâu. Có những con vật được cứu khỏi dòng nước hoặc đám cháy, nó cứ bám riết lấy người cứu nó. Mới đây nhất truyền thông và mạng xã hội đưa tin hình ảnh một con gấu Kaola ở xứ Úc cứ bám riết lấy người lính cứu hỏa vì anh ta đã cứu nó ra khỏi trận cháy rừng kinh hoàng. Trong sử sách thì có “Quỵ nhũ chi ân”kể chuyện con dê con cứ quỳ trước mẹ nó khi nó bú sữa, hoặc tích chim anh vũ ngày ngày đi tha thóc về nuôi cha mẹ bị mù lòa… Có rất nhiều chuyện vật thọ ơn và báo ơn, dẫu có viết bao nhiêu cũng không thể kể hết.
Ơn người kỳ diệu lắm, chữ ơn ảo diệu vô cùng, dù là vô tình hay hữu ý, chỉ một lời nói, một hành động nhỏ tạo ơn đã khiến cho người thọ ơn nhớ hoài, thậm chí dùng cả thân mạng để đền ơn. Trong sử cũ có vô số những câu chuyện thọ ơn và đền ơn như thế. Có rất nhiều những tấm gương anh hùng, nho sĩ, kỹ nữ… Chỉ vì một chút ơn mà sẵn sàng hy sinh thân mình để báo đáp ơn xưa, tỷ như: “kết cỏ ngậm vành”, “Bát cơn phiếu mẫu”…
    Người Việt chắc ai cũng ít nhiều biết truyện Tàu, sử Tàu, (những thế hệ 8x, 9x hoặc trẻ hơn nữa sanh ra và lớn lên ở hải ngoại chắc không biết). Hàn Tín thuở hàn vi vì quá đói khát mà xin bát cơm của người đàn bà giặt vải bên sông. Sau này khi công thành danh toại ông trở về bến sông xưa với cả ngàn vàng để báo ơn bà lão ấy. Bà lão giặt vải ấy cho Hàn Tín ăn vì thấy thương kẻ đói khát chứ bà nào có tâm tưởng được báo ơn, người ra ơn không mong cầu nhưng người thọ ơn thì nhớ mãi không quên. Có một câu chuyện ơn đời ơn người còn đẹp hơn nữa, hay hơn, ảo diệu hơn: Khi xưa Từ Hải đến lầu xanh chơi, gặp nàng Kiều. Nàng Kiều nhìn cốt cách Từ Hải rồi bảo: “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen”. Kiều không xem Từ Hải là lục lâm thảo khấu, không phải phường làm lọan như triều đình kết tội. Nàng xem Từ Hải ngang hàng với Lý Thế Dân, đến Tấn Dương gặp được rồng và mây ngũ sắc che đầu, điều này theo quan niệm xưa là điềm của anh hùng cái thế, là quân vương… Nàng đã xem trọng và đề cao Từ Hải như thế, cũng vì vậy mà gởi gắm tâm tình: “Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”.
Nghe thế có lẽ Từ Hải sướng rên cả người, sướng mê tơi. Cả triều đình xem mình là giặc ấy vậy mà ở chốn lầu xanh có gái má hồng xem mình ngang hàng với Đường Cao tổ, anh hùng khai nghiệp Đường triều thì còn gì hơn nữa. Từ Hải xúc động mãnh liệt, những lời của Kiều khắc sâu vào tâm khảm của chàng. Chỉ một lời, một cử chỉ của Kiều đã khiến Từ Hải hứa: “ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”. Không chỉ hứa suông, Từ Hải đã làm như thế và còn hơn thế. Sau khi công thành danh toại “rạch đôi sơn hà”. Từ Hải lập tức rước nàng về dinh, đưa nàng từ phận gái lầu xanh lên làm đệ nhất phu nhân: “Hai bên mười vị tướng quân/  Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu/ Cung nga thể nữ nối sau/ Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy/ Sẵn sàng phượng liễn loan nghi/ Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng”.
    Cái vinh hiển, cái danh dự của Kiều cao ngất trời, thiên hạ được mấy người? Một lời nói ngày xưa ở chốn lầu xanh mà giờ thành phu nhân, lại được trọn quyền báo ân báo oán. Công hiệu của chữ ơn thật khó mà nghĩ tưởng nổi. Ngày ấy nàng nhìn Từ Hải khác với khách làng chơi, nói với Từ Hải những lời khác với khách làng chơi, để rồi ngày sau vinh hiển tột bậc. Ơn người ơn đời kỳ diệu làm sao, đẹp làm sao! Đọc xong những vần thơ của truyện Kiều, nhất là những lúc Kiều và Từ Hải gặp gỡ nhau, đối đáp nhau… Khiến không ít gã du tử mơ màng: ”Giá mình cũng có tài làm nên động địa kinh thiên, rạch đôi sơn hà, triều đình riêng một góc trời... như Từ Hải để mà có dịp tạ ơn người ơn đời”. Khổ một nỗi ở đời, gà vịt thì vô số chứ chim bằng, phượng hoàng có bao nhiêu. Cá chốt, lòng tong đầy đặc chứ cá côn , cá kình được mấy mống. Bởi thế những gã du tử vẫn ngẩn ngơ đời, ôm phận mơ chứ đâu đáp được ơn người ơn đời.
    Đời thường, trong sử sách, trong văn chương có biết bao nhiêu tích, chuyện ơn đời ơn người. Đôi khi chỉ một lời nói, một hành động chìa tay ra… mà khiến cho người ta nhớ suốt đời. Đời thường, có những trường hợp con người ta vì một vấn đề gì đó mà tuyệt vọng nhưng vô tình gặp được sự khích lệ hay một bàn tay ai đó xìa ra… và họ đã đứng dậy, để rồi sau đó thành công và họ nhớ mãi cái ơn khích lệ, cái bàn tay xìa ra lúc tuyệt vọng ấy. Mặc dù người nói lời khích lệ hay xìa bàn tay ra chẳng nghĩ mình đã làm ơn và cũng chẳng nhớ gì cái việc mình đã nói hay đã làm nhưng người thọ ơn thì không thể nào quên. Cái đẹp là ở chỗ này, tính nhân văn là đây, sự ảo diệu của chữ ơn là vậy!
    Ơn người lớn lắm, đôi khi một bữa ăn cũng có thể làm ta nhớ hoài, một lần được nhìn nhận cũng khiến người nhớ không quên. Cải lương Việt Nam có tuồng: ”Dự Nhượng đả long bào”. Dự Nhượng là nhân vật thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu, vì thọ ơn chủ cũ mà hoại hình, hủy thân, nuốt than hồng… để tìm cách tiếp cận kẻ giết chủ mình. Mấy bận hành thích mà không xong, vua mới tuy tha nhưng sự việc quá tam ba bận nên mới giết, trước khi bị giết. Dự Nhượng xin một ân huệ cuối cùng là được đánh long bào vài roi để trả thù và cũng là báo ơn chủ cũ. Câu chuyện thật tuyệt vời về lòng trung, về sự hàm ơn và báo ơn…
    Ơn đời ơn người đôi khi chúng ta không thấy, nó ẩn trong sự tương tác cộng sinh. Ví như có người bảo:” Tôi ăn, tôi mặc nhưng chẳng thọ ơn ai, vì tôi bỏ tiền ra mua” nói thế là không phải, sai rồi! Để có được món ăn ấy phải có bao nhiêu người cộng tác làm ra, từ nuôi, trồng, sản xuất, chế biến, mang đi trao đổi, mua bán...và cái mặc cũng thế, bao nhiều người tương tác cùng nuôi tằm, dệt vải, cắt may, tẩy nhuộm. mua bán, vận chuyển. Mỗi miếng ăn món mặc đều có công sức tương tác của nhiều người. Bởi thế mà ca dao Việt Nam mới có câu: “ Ai ơi bưng bát cơm đầy/   Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”.
    Ơn người với người tương tác cộng sinh, ơn người với vật tương tác sinh tồn, ơn cỏ cây cho dưỡng khí, ơn trời đất cho ánh nắng và sự sống, ơn quốc gia bảo bọc, ơn dòng tộc duy trì… Thiền sư Nhất Hạnh viết: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
    Sống không chỉ nhận mà phải biết cho đi, cái cho mới trân quý và cao đẹp biết bao. Đôi khi chỉ cho nhau một nụ cười, một cái ôm cũng đủ để thấy đời đẹp, đời đáng sống và đủ để ơn nhau.
    Những năm cuối thập niên bảy mươi đến thập niên tám mươi của thế kỷ trước, khi mà người Việt vượt biên lên đến đỉnh điểm. Hàng vạn người chết vì chìm tàu, đói khát, bão tố, hải tặc…Có một vị phóng viên người Đức là Rupert Neudeck đã vận động quyên góp và dùng con tàu Cap Anamur cứu vớt thuyền nhân trên biển đông. Họ đã cứu được 11.300 thuyền nhân. Ông Rupert Neudeck quả là có tấm lòng đại bi của bậc bồ tát, với năng lực của một phóng viên, trái tim nhân ái, một tinh thần qủa cảm của một chiến binh. Ông và con tàu ra khơi cứu hàng vạn người đang chơi vơi giữa biển. Ông không nao núng và không bỏ cuộc khi đối mặt với sự bài ngoại của xã hội lúc đó và sự đe dọa truy tố của chính quyền. Ông đã vượt qua tất cả, hàng chục ngàn thuyền nhân đã được cứu sống, đã đến được bến bờ tự do. Rupert Neudeck và đồng đội đã cứu thuyền nhân với tấm lòng nhân ái vô vị lợi và dĩ nhiên chẳng cần ai báo đáp, không mong gì báo đáp. Những người Việt ở hải ngoại hôm nay, nhất là những người và con cháu những người được cứu sống bởi con tàu Cap Anamur (hay những con tàu tương tự như thế) không biết bây giờ có còn ai biết ơn đời ơn người?

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 11/23)

 

 

Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.