Hôm nay,  

Bản dịch Anh, Pháp từ Hồi Ký: Ba, con không muốn là người CS

06/06/202500:00:00(Xem: 3972)
TN-ANH-bia-sach

Bìa sách 

 
Viết cho thế hệ trẻ là quan tâm lớn của nhiều nhà văn gốc Việt. Và mới trong tháng qua, nhà văn Trần Ngọc Ánh vừa ấn hành 2 bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp của tập hồi ký “Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản.”

Bản dịch sang tiếng Anh do dịch giả Kim Vũ từ California thực hiện, nhan đề “Daddy, I don't Want to be a Communist.” Bản dịch sang tiếng Pháp do dịch giả Bảo Hưng từ Paris thực hiện, nhan đề “Papa, Je ne voudrais pas être communiste.” Cả hai bản dịch này ấn hành chung trong cuốn sách dày 184 trang. Bìa sách thực hiện bởi hai họa sĩ: Trần Nho Bụi và Phan Trường Ân. Một số tranh trong sách là từ họa sĩ Nguyễn Tư.

Nơi trang 3, tuyển tập song ngữ Anh-Pháp này được giới thiệu bằng một câu tiếng Anh, nơi đây chúng ta dịch là: “Truyện viết bởi một phụ nữ bị tù hơn mười năm cùng với đứa con của chị khi em bé này chỉ mới một tuổi.”

Nơi trang bìa sau của sách là trích lời tác giả Trần Ngọc Ánh, trong bản tiếng Anh, nơi đây dịch ra tiếng Việt như sau:

Bài học đầu tiên mà người cha Cộng sản của tôi dạy tôi là bài học về SỰ PHẢN BỘI. Nhân danh Đảng của ông, cha đã phản bội miền Nam, nơi đã nuôi dưỡng ông trong suốt thời gian ông theo Cộng sản và hoạt động bí mật cho sự nghiệp Cộng sản của mình.
Nhân danh Đảng của ông, cha đã phản bội người em gái, người đã nuôi con gái ông từ nhỏ. Dưới sự áp bức của chế độ mới, miền Nam trở nên nghèo đói và khốn khổ.

Tôi nghĩ rằng thanh niên Việt Nam ngày nay nên thấy rõ bản chất đen tối của Chủ nghĩa Cộng sản và hãy cố gắng xóa bỏ nó ra khỏi quê hương, để Việt Nam có cơ hội vươn lên trong Tự do và Dân chủ.”

Trong sách này, nơi trang 7-13 của ấn bản dịch song ngữ Anh và Pháp, các trang này ghi là Ngược Dòng, có duy nhất vài trang tiếng Việt của tác giả Trần Ngọc Ánh, trích từ cuốn hồi ký "Ngày Tháng Buồn Hiu", như sau:

"Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sàigòn, nằm trong lòng "địch", cả nhà đều là những chiên sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho đến ngày "giải phóng". Má thì nuôi giấu cán bộ Việt Cộng, các chị em thì làm giao liên... Sau 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường. Còn tôi, tôi đã vào tù với cái tội "chống- kháng- chiến-chống-Mỹ," sự đời có những điều trớ trêu và đau lòng trong cảnh nồi da xáo thịt! Câu chuyện kể ra thì dài, nhưng đại để như lời khai trong tờ lý lịch của ba tôi khi viết về tôi, "...do thời buổi chiến tranh gia đình ly tán, tôi gởi con gái tôi cho cô em nuôi ăn học, nay đất nước hòà bình, tôi mang con về sum họp."

Nếu chiếc lá chỉ rụng về cội thì có lẽ không có gì để nói, nhưng đằng này tôi lại không giống như những đứa con trung hiếu của ông, mà lại giống "ngụy" (bởi lẽ gia đình cô tôi trước kia là sĩ quan trong chế độ cũ) như lời phê bình của chị tôi - một cán bộ tuyên truyền:

"Con Ánh nó quen thói tiểu tư sản, tại Cô Sáu cưng chiều nó quá nên tính nết nó ngoan cố bướng bỉnh như vậy."
Và Ba tôi cũng nhận xét trong một buổi họp gia đình: "Tư tưởng còn lệch lạc, nặng về chủ nghĩa cá nhân, bản thân cần phải tích cực rèn luyện để phấn đấu tiến bộ v.v và v.v ..."

Có lẽ chính vì vậy mà ba tôi đã cố gắng để cải tạo đứa con ngược dòng của mình bằng hình thức kiểm điểm, bất cứ một hành động gì sai trái ở gia đình hay trong cơ quan, nghe phản ảnh lại là ba tôi bắt làm tờ kiểm điểm, kể cả những lúc vô tình hát vu vơ một khúc "nhạc vàng".... Nên suốt thời gian đầu về đoàn tụ gia đình, tôi không thấy có một ngày vui, chắc cũng không khác gì những binh lính chế độ cũ bị cưỡng bức trong lao tù Cộng sản, ăn cơm bo bo và bị viết miệt mài để nộp cho ba tôi những bản kiểm điểm dài ngoằng, như luận văn để được tốt nghiệp vào trường "Cách Mạng", dĩ nhiên mỗi lần như thế là tôi đã khổ sở đến độ nào!

Chỉ vài tháng công tác xã hội, sinh hoạt tập thể vớ vẫn, tôi đã được chọn để kết nạp vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, điều này lại khiến tôi phản ứng dữ dội, chi đoàn méc về ba tôi và ông đã nổi giận thực sự, ông hét lên:

"Con có biết tại sao con được vào Đoàn không? Nhờ ba - nhờ lý lịch cách mạng của gia đình mình, con có biết mọi người vẫn mơ ước được đứng vào hàng ngũ vẻ vang này không, có những anh bộ đội đi suốt từ Bắc vào Nam để chiến đấu, đã đổ biết bao xương máu mà vẫn chưa được kết nạp, còn con, tại sao con không thấy được cái vinh quang đó?"

TN ANH va GS Nguyen Van Sam

Từ trái: nhà văn Trần Ngọc Ánh và phu quân là GS Nguyễn Văn Sâm nơi hiên nhà của phóng viên Phan Tấn Hải trong một ngày tưởng niệm 50 năm Miền Nam thất thủ.


Lúc ấy tôi đã cố bình tĩnh để nói với ba một câu khăng khái: "Thưa ba, chính vì con chưa đổ một giọt mồ hôi nào cho chế độ này, nên con không muốn trở thành người Cộng Sản!"

Không khí gia đình như nặng nề hơn kể từ khi có tôi hiện diện.

Cái khoảng cách mơ hồ nào đó giữa tôi và những người thân ngày thêm rộng dần ra, tôi càng chán nản hơn khi nhìn vào thực trạng xã hội của những năm đầu mới giải phóng, thành phố đầy những người thất nghiệp, hàng hóa khan hiếm, vật giá đắt đỏ, cuộc sống của từng gia đình bị đảo lộn bi thảm, tâm lý người dân luôn hoang mang giao động, có những sự mất mát không thể nào bù đắp được. Tôi nhớ đoạn nhật ký của cô em mới 13 tuổi lúc ấy:

"Bây giờ đến lớp buồn quá, bạn bè đứa nào cũng đòi bỏ học vì nhà nó nghèo, ba nó đi cải tạo, mẹ nó tần tảo không đủ ăn, mỗi lần vào lớp cô giáo hỏi ai là gia đình cách mạng, chỉ có mình rụt rè đưa tay lên giữa bao ánh mắt nhìn, tự dưng mình thấy kỳ kỳ, đâu phải tại mình mà ba nó đi cải tạo đâu, tại giải phóng chớ bộ..."

Không riêng con bé thấy kỳ kỳ mà cả tôi, cả bạn bè tôi nữa, chúng nó vài đứa cũng có hoàn cảnh giống như tôi: Ba đi tập kết trở về, gia đình đoàn tụ, tờ khai lý lịch được mở ra trang mới đầy sáng sửa, đi thì - được cộng thêm điểm, đi làm - chỉ cần gởi gầm các đồng chí là yên tâm ngay, mọi việc trong nhà ngoài phố đều êm xuôi thuận lợi... Và cũng không ít những đứa khác lận đận đủ điều bởi cái tội có người thân là ngụy. Tờ lý lịch trích ngang như bản cáo trạng giáng xuống hàng triệu con người những mức án khác nhau tùy theo mức độ tội lỗi của cha, của chồng, của con em đã từng tham gia trong bộ máy ngụy quân ngụy quyền cũ.

Bạn bè họ hàng đang thân thiết với nhau, tự dưng cái rào cản lý lịch làm cho mặc cảm mâu thuẫn, thành kiến thế này thế khác, anh em bà con khác chiến tuyến, bất đồng quan điểm chính trị cũng lạnh lùng lướt qua nhau vì sợ dính líu phiền phức, chưa kể những người ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản, lén lút cơm áo gạo tiền để gởi vô bưng tiếp tế cho cách mạng, khi xong chuyện, cách mạng đánh tư sản te tua sập tiệm, đang giàu có bỗng chốc thành kẻ khốn cùng, không một bàn tay nào dám đưa ra giúp đỡ sợ bị vạ lây.

Chủ nghĩa lý lịch nó khốn nạn thế đó!

Tôi lại nghĩ đến câu chuyện An Tiêm và những quả dưa đỏ (sự tích của thời còn nhỏ nghe Bà kể chuyện đời xưa) và bâng khuâng tự hỏi tại sao mình không thể có những vụ mùa bội thu mà không cần phép lạ, để chủ nghĩa lý lịch không còn cơ hội tồn tại, không là điều kiện tất yếu để quyết định công hầu khanh tướng cho bọn đương thời? Thực tế của cái thiên đường Xã hội chủ nghĩa đã làm tôi điên tiết chán chường, trong nỗi thất vọng phẫn nộ tôi không biết đặt niềm tin vào ai bây giờ ngoài cách viết nó ra cho đỡ ấm ức, thể là những trang "Nhật Ký Mực Tím" hình thành trong lao tù cách mạng, cái nhà tù lớn nhất của cả miền Nam từ sau tháng Tư đáng nguyền rủa ấy. Trong đôi mắt của một cô học trò tỉnh nhỏ như tôi lúc bấy giờ hoàn toàn không có một thế lực thù địch nào đứng sau lưng để xúi giục manh động, tôi viết ra tất cả những gì mà tôi biết, tôi thấy, khi sống trong chế độ giả trá có quá nhiều bất công và nghèo khổ nầy, sự cảm nhận có thể chủ quan nhưng không có nghĩa là không trung thực, khi vẽ nên bức tranh xám xịt phô bày thực trạng tệ hại của xã hội mà tôi đang từng ngày đối đầu với nó. Tôi đã viết trong nỗi xót xa bất lực của chính mình.

Cuốn nhật ký được chuyển ra Mỹ năm 1979 và được in làm nhiều kỳ trong tạp chí "Việt Nam Hải Ngoại" tại San Diego, California cùng năm.

Cuối cùng thì tôi thoát ly cái gia đình cách mạng của mình để trở thành vợ tên phản động. Mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân của nó. Thật ra tôi cũng chẳng có tham vọng gì về chính trị, chỉ muốn sự công bằng và bình đẳng, đòi hỏi niềm hạnh phúc ấm no thực sự đến với mọi người. Ngay từ đầu, cái lý tưởng Cộng Sản của Ba tôi đã làm tôi thất vọng, thực chất nó chỉ là những giáo điều rỗng tuếch gian dối, Cộng sản đã lạm dụng cái từ lý tưởng để bơm căng bầu nhiệt huyết của chúng tôi khi họ nói "vận mệnh đất nước đang nằm trong tay các bạn trẻ hôm nay..." nhưng đằng sau đó là Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ.

Ôi! Những ông chủ tội nghiệp! Họ đang bị phá sản vì một xã hội tồi tệ với những khó khăn nghèo đói hàng ngày.

Sự lừa bịp trắng trợn đã làm tôi chán ngấy, và tôi nghĩ đó là mục đích để tôi quyết định dấn thân khi cùng chồng "Âm mưu lật đổ chính quyền Cộng Sản".
Tổ chức của chúng tôi bị tan vỡ khi mọi việc chỉ mới bắt đầu và hai vợ chồng đều bị bắt ...

Giai đoạn còn khai cung, tôi gặp một ông cán bộ già đã giảng cho tôi nghe bài học về luân lý khi ông ví tôi như công chúa Mỵ Châu, đã đem nỏ thần trao cho giặc, để nước phải mất, nhà phải tan, ngồi sau lưng An Dương Vương, bị Thần Kim Quy chỉ vào mặt "giặc ngồi sau lưng mi chứ giặc ở đâu?"
Nghịch cảnh nồi da xáo thịt quả là điều đau xót!

Ngay sau khi tôi bị bắt, Ba tôi đã nghiêm khắc từ con. Tôi không trách thái độ cứng rắn của ông bởi vì ông đã hành động đúng với tư cách một người Cộng Sản "Trung với Đảng, Hiếu với Dân, và chuyên chính với kẻ thù."

Mặc dù tôi biết Ba tôi cũng rất thương tôi, ông có cái lý của ông và tôi thì không thể chọn con đường nào khác...
Tôi muốn có những quả dưa đỏ như An Tiêm!
Những năm tháng ở trong tù, tôi nghĩ nhiều về những câu chuyện đáng buồn đã qua, thấm thía nỗi đau của sự mất mát, chồng tôi bị tử hình, và Ba tôi cũng qua đời sau cơn bệnh nặng. Người chết là hết, chẳng còn oán thù hay giận dữ ...
Rồi trong một cõi vô hình nào đó, Ba tôi và anh ấy sẽ gặp nhau, hai người sẽ nói với nhau điều gì về tôi, liệu ba có nói được câu "Ba rất tiếc!" như một nhân vật trong "Love Story" khi mọi việc đã muộn màng.
Vâng, thưa Ba - con cũng rất tiếc, hãy tha lỗi cho con.
(Trích trong cuốn hồi ký "Ngày Tháng Buồn Hiu" của Ngọc Ánh)" (hết trích)

Độc giả muốn tìm đọc sách này, xin email tới tác giả Trần Ngọc Ánh: [email protected]

Tập hồi ký rất cảm động. Sách này sẽ cho giới trẻ đọc tiếng Anh và Pháp một cơ hội nhìn thấy một phần lịch sử quê nhà, về chuyện thật, đời thật của tác giả Trần Ngọc Ánh. Rất hiếm khi độc giả gặp được một tập hồi ký đầy xúc động như vậy. Hãy mua sách này để tặng cho con em trong nhà, hay cho giới trẻ quan tâm về lịch sử rất thật và đau thương của dân tộc Việt những ngày sau tháng 4/1975.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Sân khấu từng là nơi người Mỹ cùng nhau mơ mộng. Ngày nay, ngay cả chỗ ấy cũng bị chính trị chia cắt. Trước cửa Trung tâm Nghệ thuật Kennedy — nay mang danh mới Donald J. Trump và John F. Kennedy — người ta giương bảng phản đối, ca sĩ hủy buổi diễn, và nền văn hoá từng tôn vinh tự do phản biện dường như đang co rút lại trong những vòng tin tưởng hẹp hòi của mỗi phe. Cuộc tranh chấp này nghe quen thuộc. Ba bốn mươi năm trước, khi hình ảnh cảnh sát Nam Phi đánh đập người da đen tràn ngập truyền hình, giới nghệ sĩ bên Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi lương tâm: “Tôi không hát ở Sun City.”
Mùa xuân năm nay, trên công viên trên không High Line của thành phố New York sẽ xuất hiện một tác phẩm điêu khắc quy mô lớn: pho tượng Phật bằng sa thạch cao 27 bộ Anh, mang tựa The Light That Shines Through the Universe (Ánh Sáng Soi Thấu Vũ Trụ), do nghệ sĩ Việt–Mỹ Tuan Andrew Nguyen thực hiện. Tác phẩm sẽ được đặt tại Plinth, không gian dành cho các dự án điêu khắc luân phiên của High Line, thay thế cho pho tượng chim bồ câu khổng lồ Dinosaur của nghệ sĩ Iván Argote, đang trưng bày từ tháng 10 năm 2024.
Trên trang mạng Psychology Today có bài viết về lợi ích của việc bắt đầu học nhạc ở tuổi già. Người cao niên thường phải đối diện với nhiều thách thức như suy giảm nhận thức, cô lập xã hội, trầm cảm. Suy giảm trí nhớ, đặc biệt là suy giảm trí nhớ theo từng giai đoạn và trí nhớ làm việc, là một dấu hiệu của tiến trình lão hóa bình thường, những cũng có thể là dấu hiệu sớm của lão hóa bệnh lý. Tập thể dục, các hoạt động kích thích não bộ có thể giúp duy trì trí nhớ của người lớn tuổi.
Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.
Nhạc sến và nhạc vàng đều hay. Mỗi bên có chất hay riêng, có vẻ đẹp khác nhau, như những thiếu nữ hoa hậu của các trường trên tỉnh so với những cô thôn nữ dưới quê trong hội trăng rằm. Một điểm thường thấy nhất là gái quê thành thật hơn gái tỉnh. Nhạc sến gây xúc động hơn nhạc vàng. Tháng Sáu ấy, ở trong trại Fort Chaffee chờ người bảo trợ, đêm đêm nằm trong căn phòng san sát nhau, cách một vách mỏng. Nghe đủ thứ chuyện trên đời. Nghe cả đủ thứ loại nhạc bởi những giọng ca cảm hứng. Nhạc vàng thường làm tôi lâng lâng lắng nghe rồi băn khoăn buồn buồn, dù người hát thường không đủ tiêu chuẩn. Rồi một lần, giữa đêm hè nóng nực, một anh lính Biệt Động Quân, người trấn đồn biên giới, cất giọng ca sai cả nốt cao lẫn nốt thấp. Anh hát, “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / khi thấy mai đào nở vàng bên nương…”(1) tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, rồi chảy thành dòng, không thể nào ngưng được. Đó là chất sôi nổi của nhạc sến.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.