Hôm nay,  

Đồi Gió

03/05/201400:00:00(Xem: 13096)
Lời tác giả: Suốt hai tuần qua, khí hậu đột ngột thay đổi khắp nơi đã tạo nên nhiều thảm trạng. Nơi thì gió lốc, nơi mưa lụt, nơi bão giông.Riêng miền Nam Cali, tuy chỉ bị ảnh hưởng thôi, nhưng nóng và gió mạnh cũng đủ thay đổi nhiều sinh hoạt bình thường. Khi loay hoay cột mấy nhánh bồ đề, phòng xa khỏi bị gió lớn làm gẫy, tôi bỗng nhớ tới một bài viết cũ. Xin chia sẻ bằng tất cả niềm ngậm ngùi và lòng tôn kính. Huệ Trân.

* * *

Mới quá trưa, trời bỗng tối sầm, mây đen ở đâu kéo đến nhanh quá, và không bao lâu, mưa bắt đầu rơi. Tôi ngồi trước ban thờ Phật, lặng lẽ nhìn mưa rạt rào ngoài khung cửa kính, lòng lắng trong, an tịnh sau thời kinh Kim Cang.

Nhưng mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn, rồi gió vần vũ ngả nghiêng những nhánh hồng, đập vào cửa kính, phút chốc, cuốn giạt tâm tĩnh lặng trong tôi, lên tới một vùng đồi tầm tã bão giông và đầy gió nổi!

Mấy ngày nay, khi tọa thiền, tâm tôi lại lang thang về đồi gió đó, một nơi chốn tôi chưa từng được biết, được tới. Chỉ vì tờ tạp chí tình cờ có được, trong đó có bài của ngài Huyền Không nhắc đôi giòng về ngôi chùa cổ rất nghèo, rất khuất lánh, trên ngọn đồi Kim Sơn nhìn xuống phía bắc sông Bạch Yến. Chùa thuộc làng Lựu Bảo, gần chùa Linh Mụ ở Huế.

Sau khi bị trấn động vì một vài chi tiết trong bài viết đó, tôi lục tung cả hai kệ sách, giở tất cả những cuốn có di tích về chùa chiền miền Trung, tìm thấy hàng trăm tên chùa, trừ chùa Kim Sơn! Ngôi chùa nhỏ - dường như cố tình khiêm tốn - nhưng tinh thần Bi Trí Dũng của đạo Phật vẫn thể hiện rực rỡ trong ngôi tháp tại khuôn viên chùa, nơi thờ xá lợi của một nhà sư, mà những sự kiện xảy ra thời đó đã được tôn vinh trong sử sách.

Tuy không tìm được hình ảnh xưa, về chùa Kim Sơn nhưng những chi tiết đọc được qua tờ tạp chí đã không ngừng thôi thúc tôi quán chiếu về bao dữ kiện lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam thời đó, thời người Pháp đã thẳng tay tiêu diệt những phần tử cách mạng yêu nước, tiêu biểu nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nổi dậy từ thập niên ba mươi.

blank
Không riêng gì Việt Nam, lịch sử thế giới đã chứng minh từ ngàn năm là khi không còn gì để mất thì không còn gì để sợ! Bao nhiêu năm dưới ách thống trị của người Pháp, người dân Việt Nam đã không còn gì để mất nữa, nên người Việt Nam vẫn tiếp tục đứng dậy đòi lại quyền làm người.Cũng từ ngàn xưa, người Phật tử hiểu rằng Đạo Pháp với Dân Tộc là một.

“Đạo như Trời đất
Vận hành mang mang
Lặng thinh dũng mãnh
Rạt rào thơm ngát Kim Cang….”

Thế nên, vào những năm cực kỳ đen tối của Đạo Pháp và Dân Tộc thì Thất Hiền đã tùy duyên mà cứu độ chúng sanh. Đó là những năm 1946, 1947 bẩy vị Thầy ưu tú nhất, tốt nghiệp Phật Học Đường Báo Quốc tại Huế (tương đương với bằng đại học Phật Giáo đầu tiên thời ấy) đã nương hạnh Bồ Tát Quán Âm mà tải đạo giúp đời. Có vị lánh vào Nam, âm thầm củng cố Giáo hội Tăng già, có vị cởi áo cà-sa tham gia kháng chiến, theo đúng tinh thần Quán Âm, nghe tiếng kêu thương quằn quại của cuộc đời là tìm đến bằng mọi cách, bằng bất cứ hình dáng nào thích hợp “Ưng dĩ trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân đắc độ giả, tức hiện trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ đồng nam đồng nữ thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam đồng nữ thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, atula, cẩn na la, ma hầu la già, nhân phi nhân đẳng thân đắc độ giả, tức giai hiện chi nhi vị thuyết pháp”, chỉ còn một thầy tình nguyện ở lại với ngôi chùa xiêu vẹo để cùng chia xẻ gian nguy và làm nơi nương tựa tinh thần cho dân nghèo quanh vùng. Đó là thầy Trí Thuyên, một trong Thất Hiền ưu việt của Phật giáo Việt Nam thời đó.

Với lưới tình báo bủa vây khắp nơi, người Pháp đã nghe phong phanh về ngọn đồi khô cằn sỏi đá, trên đó có ngôi chùa đổ nát đã đào tạo những nhà sư trí tuệ, có thể sẽ là những người lãnh đạo tinh thần, hướng dẫn dân chúng đòi lại nhân quyền.

Ngày 23 tháng 2 năm 1947, người Pháp được chỉ điểm đã bất thần kéo lực lượng võ trang hùng hậu tràn lên đồi Kim Sơn, xông vào chùa khi thầy Trí Thuyên đang tọa thiền trước chánh điện. Chúng lên đạn rầm rập, định bắn thầy ngay. Thầy chỉ điềm đạm yêu cầu để thầy tụng xong một thời kinh rồi hãy bắn, cũng không muộn. Chúng đồng ý. Và hầy khai chuông mõ, an nhiên tụng kinh.

Khi thời kinh dứt, Thầy điểm chuông, lạy ba lạy. Tiếng chuông còn ngân dài mà tiếng súng đã chát chúa vang lên !

Thầy Trí Thuyên gục xuống trước Tam Bảo trong hồi chuông Bát Nhã khi thầy chỉ vừa hai mươi bốn tuổi!

* * *

Kính lạy Mười Phương Chư Phật

Tiếng chuông cứu độ quyện vào tiếng súng oan nghiệt đó, tới nay đã hơn sáu thập niên, có lúc, có kẻ tưởng rằng cát bụi ta-bà đã phủ lấp Chân Như; nhưng không, trên ngọn đồi Bi Trí Dũng đó, gió có bao giờ ngừng thổi, mây có bao giờ ngừng bay, mặt trời có bao giờ ngừng mọc, trăng có bao giờ ngừng sáng, mưa có bao giờ ngừng rơi, nắng có bao giờ ngừng chiếu... nên thầy Trí Thuyên có bao giờ mà không còn đó với Kim Sơn, khi gió chính là mây, mây chính là mặt trời, mặt trời chính là mặt trăng, mưa lạnh chính là nắng ấm và thầy Trí Thuyên chính là Đạo Cả, là Chánh Pháp, là trùng trùng duyên khởi của vạn hữu bất sanh bất diệt. 

Với tất cả tấm lòng hướng về Chư Phật, con tin chắc thầy Trí Thuyên còn đó, con tin chắc không bao giờ thầy Trí Thuyên lại không còn đó.

Không phải thầy chỉ còn đó mà thầy vẫn đang tụng kinh. Thầy chỉ mới dứt kinh Bát Nhã, đem trí tuệ Phật soi tâm thế gian; Thầy còn tụng Phổ Môn cứu khổ cứu nạn, còn tụng A Di Đà đưa người nhất tâm bất loạn về Tịnh Độ, còn tụng Địa Tạng chuyển nghiệp cho kẻ đọa trầm luân….

Bạch Chư Phật, tiếng chuông hôm đó vẫn còn ngân vang, tiếng chuông đó chưa dứt, tiếng chuông đó không bao giờ dứt vì đó là tiếng đại hồng chung trong lòng Phật tử Việt Nam, những người con Phật hướng về Đạo Pháp trong tinh thần tải đạo cứu đời, thể hiện hạnh nguyện Quán Âm độ thế.

Thương thay cho những kẻ vô minh, vì nếu biết được điều đó, họ đã không lên đạn để diệt cái bất diệt.

Huệ Trân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1991 tới 1996, tôi theo học đại học ngoại ngữ ở Tokyo. Sau đó, 1992-93, tôi qua học tiếng Việt ở Sài Gòn. Ngày đó những người ở SG rất dễ thương
Người Việt Được Cứu Giúp Sau Ngày Saigon Thất Thủ Tỏ Lòng Cảm Ơn Nước Mỹ Bằng Tượng Đài Ở Đảo Guam
Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm : 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xãy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792.
Lá cờ đỏ sao vàng, rõ ràng, không được người Việt nước ngoài chấp nhận.
Trong Thế Giới Phật Giáo Miến điện có ngôi chùa Swedagon cao nhứt Thế Giới, và một Quển sách Lớn nhứt Thế Giới.
Nói đến công tác dò mìn, ai ai cũng đểu nghĩ rằng đây là một công việc rất khó khăn và nguy hiểm chỉ dành riêng cho,những ,người đã từng được huấn luyện am tường rành rẽ,và tháo vát về khoa học, kỹ thuật tháo gỡ chất nổ để làm thế nào có thể hóa giải một trái mìn không nổ mà không an nguy đến tính mạng của mình nên được gọi danh xưng là Chuyên viên chất nổ, ngoài ra còn phối hợp thêm cây dò mìn liên hệ để định vị được trái mìn ở đâu.hầu dễ dàng trong công việc Vậy mà đôi khi chính Chuyên viên chất nổ còn phải gánh chịu hậu quả vô cùng thảm khốc“ sinh nghề tử nghiệp” là chuyện thường tình trong công tác đầy khó khăn và nguy hiểm này.
* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!” “ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.” - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.
Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai? (Vũ Hoàng Chương)
Hoàng Tử Siddhartha Gautama sinh ra và lớn lên tại thành Catilavệ. Ban đầu, Ngài có một cuộc sống xa hoa trong cung điện, không biết gì về những đau khổ và bệnh tật. Tuy nhiên, một lần Ông trốn ra ngoại thành, Ông chứng kiến sự đau khổ giẫy giụa và đầy hối hận. Một số câu hỏi hình thành trong tâm trí của Ông nên Ông muốn tìm một câu trả lời. Trong một đêm thanh vắng, Ông từ giã cung điện vào rừng tìm chân lý, về sau người ta tìm được nhiều chứng tích xác thật cho thấy Ông lên núi Pragbodhi mà bây giời gọi là Dunheswara. Ông ở trong một hang động bây giờ gọi là Pragbodhi Cave (Khổ Hạnh Lâm). Ông sống ở đây sáu năm để tu khổ hạnh. Sau sáu năm tu khổ hạnh Ông nhận thấy tu khổ hạnh không đưa đến Giác Ngộ, Ông rời nơi này đi qua (Bodh Gaya) Bồ Đề Đạo Tràng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.