Hôm nay,  

Ở Tù Hay Lưu Vong?

23/10/201400:00:00(Xem: 10232)

Ông Nguyễn Văn Hải, tức nhà báo Điếu Cày, vừa được đưa thẳng từ nhà tù ở Việt Nam sang Hoa Kỳ. Không có thân nhân đi cùng và gia đình cũng không được thông báo cho đến khi ông đã ra khỏi quê hương.

Sự kiện ông được thả là kết quả của những vận động từ cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, và các tổ chức nhân quyền quốc tế với chính phủ Mỹ nhằm đem lại ảnh hưởng tích cực trong khi hai nước đang có những bước tiến để nâng quan hệ lên tầm mức cao hơn.

Trường hợp ông Hải bị án tù 12 năm với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” đã được chính giới Mỹ quan tâm từ nhiều năm qua. Tổng thống Barack Obama phát biểu trong ngày Tự do Báo chí Thế giới 2012 đã nhắc đến Điếu Cày như một thí dụ về sự thiếu tự do báo chí ở nhiều nơi trên thế giới.

Ông Hải cũng đã được Hội Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalists) và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải tự do báo chí.

Trước những yêu cầu của Washington, Hà Nội thả Điếu Cày, như một tín hiệu tích cực để đáp lại việc Hoa Kỳ nới lỏng chính sách cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, để dễ dàng hơn cho Hà Nội trong việc thương thảo gia nhập TPP và xa hơn là để tạo cơ hội thuận tiện cho Tổng thống Barack Obama ghé thăm Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ.

Việc Việt Nam thả tù nhân lương tâm là điều khích lệ cho những ai đang dấn thân tranh đấu cho quê hương vì họ biết rằng thế giới không quên những khao khát tự do, dân chủ của dân Việt.

Nhưng để có nhân quyền, tự do dân chủ thì con đường vẫn còn dài và gian nan.

Từ bao năm qua, trước công luận và những yêu cầu của thế giới, Hà Nội luôn nói rằng họ không giam tù chính trị, mà chỉ bỏ tù những ai phạm luật.

Những tù nhân chính trị ở Việt Nam, các tổ chức bảo vệ nhân quyền gọi là “tù nhân lương tâm”, đã vi phạm những điều luật nào?

blank
Người Việt biểu tình đòi nhân quyền trước cơ sở ngoại giao của Việt Nam tại San Francisco. (ảnh Bùi Văn Phú)

Tòa án tại quốc gia này thường dùng các điều 79, 88 và 258 để kết án những ai phát biểu quan điểm bất đồng với nhà nước. Họ bị kêu án với tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay lợi dụng tự do dân chủ để phá hoại tình đoàn kết dân tộc.

Thực tế họ đã làm gì phạm luật? Điếu Cày xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Basam Nguyễn Hữu Vinh làm blog tổng hợp tin tức. Tạ Phong Tần, Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Bùi Thị Minh Hằng phản đối Trung Quốc hung hăng trên biển.

Trần Khải Thanh Thủy, Lê Quốc Quân bênh vực dân oan, nêu lên những tệ nạn xã hội. Những chức sắc tôn giáo Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Công Chính đòi tự do tôn giáo.

Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Trần Huỳnh Duy Thức lên tiếng kêu gọi cải cách chính trị. Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương cổ vũ thành lập công đoàn độc lập.


Nhờ can thiệp của quốc tế nhiều người đã được thả. Riêng Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý, Basam, Việt Khang vẫn còn bị giam giữ.

Theo các tổ chức nhân quyền hiện còn vài chục tù nhân lương tâm ở Việt Nam.

Đối với người trong nước Hà Nội sẵn sàng bỏ tù, sách nhiễu, cấm cản di chuyển. Với người Việt hải ngoại, Hà Nội phản bác lại việc tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ bằng cách nối kết những hoạt động này với biểu tượng cờ vàng.

Truyền thông trong nước cũng thường đưa ra luận điểm rằng người hải ngoại tranh đấu chỉ vì muốn khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng hòa đã chết từ lâu.

Trong thập niên 1980 và đầu 90 những người lên tiếng cho tự do, nhân quyền tại Việt Nam là nhiều người đã có những gắn bó với sinh hoạt tại miền Nam trong hai mươi năm, như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Văn Huy, Chân Tín, Đoàn Thanh Liêm, Nguyễn Đan Quế.

Sau có những tiếng nói từ miền Bắc của Trần Xuân Bách, Phan Đình Diệu, Trần Độ, Dương Thu Hương; hay từ những người miền Nam từng theo cộng sản như Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu, Bảo Cự, Tạ Bá Tòng, Lữ Phương.

Khoảng mười năm trở lại đây, nhiều bạn trẻ từ mọi miền đất nước đã dấn thân tranh đấu: Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Huỳnh Thục Vy, Đinh Nguyên Kha, Phan Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương.

Họ không có liên hệ đến quá khứ chiến tranh mà lớn lên trong một đất nước thống nhất. Sống dưới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù thông tin bưng bít, dù bị tuyên truyền, nhưng họ đã nhìn ra những sai lầm trong chính sách, những bức xúc trong xã hội và có những trăn trở về sự độc lập, vẹn toàn lãnh thổ.

Họ nhận ra rằng quyền căn bản của dân ghi trong Hiến pháp đang bị chà đạp. Họ nhìn thấy nguy cơ đất nước bị Trung Quốc xâm chiếm ngày một lớn. Họ đã lên tiếng. Họ muốn bày tỏ lòng yêu nước.

Và nhiều người đã phải vào tù. Nếu chưa bị bắt thì bị quấy nhiễu trong công việc, gia đình bị bao vây nhiều phía, từ đi lại đến đời sống kinh tế. Nhiều người khác bị buộc phải sống lưu vong.

Trong thập niên 1990, những người tù như Đoàn Viết Hoạt, Đoàn Thanh Liêm bị trục xuất khỏi Việt Nam trong khi đang thi hành bản án do nhà nước áp đặp lên.

Mấy tháng trước Cù Huy Hà Vũ đã bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Hôm qua, Hà Nội lại đưa Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thẳng từ nhà tù ra sân bay để đi Mỹ.

Xã hội Việt Nam ngày nay có tiến bộ và cởi mở hơn so với những năm ngay sau chiến tranh, nhưng cách đối xử của chính quyền cộng sản Việt Nam với những người bất đồng chính kiến, với tù nhân lương tâm vẫn không thay đổi.

Điều 4 Hiến pháp Việt Nam nay không phù hợp xu thế thời đại. Các điều 79, 88, 258 luật hình sự là phản tiến bộ.

Qua các vụ xử tù nhân lương tâm, những ép buộc người bất đồng chính kiến phải lựa chọn ở tù hay lưu vong, như sự kiện Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, lãnh đạo Hà Nội khó có được một cái nhìn thiện cảm của thế giới.

© 2014 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1991 tới 1996, tôi theo học đại học ngoại ngữ ở Tokyo. Sau đó, 1992-93, tôi qua học tiếng Việt ở Sài Gòn. Ngày đó những người ở SG rất dễ thương
Người Việt Được Cứu Giúp Sau Ngày Saigon Thất Thủ Tỏ Lòng Cảm Ơn Nước Mỹ Bằng Tượng Đài Ở Đảo Guam
Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm : 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xãy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792.
Lá cờ đỏ sao vàng, rõ ràng, không được người Việt nước ngoài chấp nhận.
Trong Thế Giới Phật Giáo Miến điện có ngôi chùa Swedagon cao nhứt Thế Giới, và một Quển sách Lớn nhứt Thế Giới.
Nói đến công tác dò mìn, ai ai cũng đểu nghĩ rằng đây là một công việc rất khó khăn và nguy hiểm chỉ dành riêng cho,những ,người đã từng được huấn luyện am tường rành rẽ,và tháo vát về khoa học, kỹ thuật tháo gỡ chất nổ để làm thế nào có thể hóa giải một trái mìn không nổ mà không an nguy đến tính mạng của mình nên được gọi danh xưng là Chuyên viên chất nổ, ngoài ra còn phối hợp thêm cây dò mìn liên hệ để định vị được trái mìn ở đâu.hầu dễ dàng trong công việc Vậy mà đôi khi chính Chuyên viên chất nổ còn phải gánh chịu hậu quả vô cùng thảm khốc“ sinh nghề tử nghiệp” là chuyện thường tình trong công tác đầy khó khăn và nguy hiểm này.
* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!” “ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.” - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.
Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai? (Vũ Hoàng Chương)
Hoàng Tử Siddhartha Gautama sinh ra và lớn lên tại thành Catilavệ. Ban đầu, Ngài có một cuộc sống xa hoa trong cung điện, không biết gì về những đau khổ và bệnh tật. Tuy nhiên, một lần Ông trốn ra ngoại thành, Ông chứng kiến sự đau khổ giẫy giụa và đầy hối hận. Một số câu hỏi hình thành trong tâm trí của Ông nên Ông muốn tìm một câu trả lời. Trong một đêm thanh vắng, Ông từ giã cung điện vào rừng tìm chân lý, về sau người ta tìm được nhiều chứng tích xác thật cho thấy Ông lên núi Pragbodhi mà bây giời gọi là Dunheswara. Ông ở trong một hang động bây giờ gọi là Pragbodhi Cave (Khổ Hạnh Lâm). Ông sống ở đây sáu năm để tu khổ hạnh. Sau sáu năm tu khổ hạnh Ông nhận thấy tu khổ hạnh không đưa đến Giác Ngộ, Ông rời nơi này đi qua (Bodh Gaya) Bồ Đề Đạo Tràng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.