Hôm nay,  

MẸ

09/05/201519:12:00(Xem: 7709)
MẸ
Lêtamanh
 
Hồi nhỏ, ở những lớp tiểu học, có lần tôi được thầy dạy một bài học thuộc lòng như sau:
Đêm khuya giấc điệp mơ màng
Kìa ai săn sóc bên giường của tôi,
Giấc sinh chợt tỉnh bồi hồi
Kìa ai bế ẳm, kìa ai dỗ dành
Ấy là công mẹ sinh thành
Làm con phải hiểu phận mình làm sao!
Có lẽ lúc đó tôi còn ít tuổi nên học cho thuộc bài nầy cũng đã rất khó khăn. Tuy cố công học thuộc để lên trả bài lấy điểm, nhưng tôi cũng không hiểu gì về những ý ẩn chứa trong những câu thơ lục bát nầy. Tôi mơ hồ hiểu đây là một bài thơ ca ngợi người mẹ của mình, người mẹ sớm tối vì con, lo cho con từ miếng ăn giấc ngủ... Thế nhưng, khi tôi đã trưởng thành, có vợ có con, tôi mới thấy hết được cái ý nghĩa của tình mẹ đối với con như thế nào. Hèn chi trong tục ngữ ca dao Việt Nam ta cũng đã có mấy câu:
Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ!
Người Việt Nam thường ít khi bày tỏ tình thương mẹ theo kiểu người Tây phương. Thậm chí cũng chẳng bao giờ ngó ngàng gì đến sức khỏe hay để ý mẹ mình muốn ăn gì, thèm thứ gì và cũng chẳng bao giờ cho mẹ quà cáp khi đi xa về. Thường thì chỉ mua quà cho vợ cho con mà quên bẳng rằng mẹ mình cũng cần an ủi... Ôi! càng về già ta mới càng thấm thía và mới thấy hết được những suy nghĩ của người có tuổi. Người ta ví von rằng: Đời người ta được biểu diễn bằng một đường Parabol, giống như một ngọn đồi, mới sanh ra là bắt đầu leo lên đồi. Đến 50 tuổi là đến đỉnh đồi. Từ đó là ta bắt đầu xuống dốc phía bên kia ngọn đồi. Gần cuối con dốc đó là tuổi già. Những ý nghĩ và thèm muốn trong tuổi ấy cũng giống như con nít vừa sanh ra đến 10 tuổi. Cho nên mới có câu: "Người già bằng con nít" là vậy.
Khi người mẹ già thấy con mình đi đâu về mà có món quà nhỏ, tuy chỉ là cái bánh ngọt hay một ít trầu cau cho mẹ... Người mẹ già sẽ vui sướng như đứa trẻ được quà! Cái tâm lý đó khi chúng ta còn trẻ không ai tưởng đến cả! Bây giờ, khi xa mẹ bao nhiêu năm mà không thể nào về Việt Nam một lần thăm mẹ, mới thấy hết được, cảm hết được những nghẹn ngào ! Ai cũng có một người mẹ và chỉ biết có mẹ mình lo cho mình mà không, hay ít khi lo ngược lại. Ông cha ta cũng thường nói, "giọt nước chảy xuống thì tình thương cũng chỉ từ trên nhỏ xuống mà thôi". Điều này cũng là qui luật cuộc đời. Khi có thai, mang nặng chín tháng mười ngày rồi sinh con, cho con bú, canh giấc ngủ cho con, lo lắng khi con ốm gió trở trời; ôm con vào lòng dỗ dành giấc ngủ... Thì chừng đó ta mới cảm nhận được mẹ của ta như thế nào. Tình thương tuy cứ ban phát dần xuống, nhưng nó vòng vòng trong một hành trình đầy lòng thương yêu, chỉ có người nào từng làm mẹ mới cảm nhận được một cách tuyệt đối!
Ông Bùi Bảo Trúc thường viết những chuyện trên trời dưới đất, có khi viết những mẫu chẳng ra gì như đi máy bay ngồi bên người hôi nách hay bị ngồi bên cô gái đẹp mà đánh giấm chẳng hạn... Nghe nó chẳng ra chi! Nhưng lần nầy, khi tôi nghe ông đọc trên đài bài có đề tựa hình như là "Người đàn bà rẻ tiền nhất" thì thật tình tôi cảm động muốn khóc. Trong câu chuyện ông kể về người đàn bà không bao giờ muốn nhận quà của con mà chỉ muốn cho quà. Người đàn bà lo cho ông từng miếng ăn, thức uống, may áo cho ông dẫn ông đi học những ngày còn thơ, trông ngóng đàn con khi ra đi hay về trễ... Đến cuối cuộc đời người đàn bà ấy, người mẹ ấy vẫn chỉ muốn lo cho con mình mặc dầu biết chúng đã lớn, đã có gia đình... Người đàn bà ấy chỉ làm không công, không đòi hỏi tiền bạc gì cả! Ông Bùi Bảo Trúc muốn chạy về ôm người đàn bà ấy mà riết cho thật chặc; nhưng bà đã là người thiên cổ mấy năm trước. Bây giờ, dầu muốn ôm mẹ vào lòng hôn cho thật lâu cũng không được...!
Đã mười sáu năm kể từ khi chúng tôi định cư ở Mỹ theo điện HO, chưa có lần về lại Việt Nam để hôn má, hôn ba. Ba tôi má tôi năm nay đã hơn 80, bà mẹ của vợ tôi trong tuổi 93! Thế mà chưa một lần những mong nhớ, chờ thương của họ được thỏa mãn. Tuổi già như chuối ba hương, Ba tôi năm ngoái bị xuất huyết não tưởng nằm liệt luôn, nhưng nhờ ơn phước, ông đang tập đi tập nói trở lại như hồi con nít... Má tôi cứ nói trong phône rằng "sao con không về cho má nhìn lần cuối..." Má đâu có biết con đang khổ như thế nào khi không được về thăm má một lần! Cách đây hơn 10 năm, nhân ngày mẹ của Hoa Kỳ, tôi có sáng tác một ca khúc tựa là " Suối Nguồn", nhưng cũng chỉ để hát cho các con tôi và bạn bè tôi nghe chứ chưa phổ biến. Lời ca như sau:
Mẹ bế con yêu, mẹ thức thâu canh,
ước mong con ngày khôn lớn,
Mẹ Hướng con đi, vào biển bao la,
Sóng vỗ như đời xót xa...!
Từ lúc con đi, từ đó phân ly,
Chiến tranh, căm thù, nước mặt!
Mẹ vẫn ước mơ, lòng nhớ khôn nguôi,
Mong sớm con về bên mẹ...!
DK
Mẹ! là tiếng hát ngọt ngào,
Là ánh sáng yêu thương, là sóng lúa nương dâu trong hồn,
Mẹ là tiếng nói yêu thương trong tim người suốt đời...
Mẹ vẫn xót xa, trời vẫn bao la
Trách ai chia lìa ngăn cách
Hẹn với quê hương, từ bến sông Thương
Con hứa có ngày quay về...
Tuần vừa rồi, tôi có di dự buổi tưởng niệm Bà Tùng Long mới qua đời tại Sai Gòn với tuổi 93 là cùng tuổi với má vợ tôi. Tôi là bạn Hướng Đạo với con của Bà Tùng Long, Trưởng Nguyễn Đức Lập và anh Nguyễn Đức Trạch. Tôi hỏi riêng các anh ấy rằng sao không về chịu tang mẹ. Anh Trạch nhìn tôi tâm sự: " Mẹ tôi sinh chín đứa con, chúng tôi đều được mẹ hãnh diện là những tác phẩm ưng ý nhất của Bà. Nhưng hiện giờ tôi có một đứa em đang làm việc cho báo Tuổi Trẻ. Mẹ chúng tôi qua đời, có lẽ sẽ có những người bên kia đến phúng điếu... Tụi tôi về chẳng lẽ bắt tay được với những bàn tay ấy hay sao?" Tôi nghe mà nghẹn ngào nghĩ đến hoàn cảnh của mình!
Nhân ngày của mẹ, tôi muốn nói với những người đang còn mẹ và, hạnh phúc hơn nữa là đang được gần mẹ rằng: " Chẳng có gì quý giá hơn khi mình đang có một người đàn bà hy sinh cả cuộc đời cho mình, không đòi hỏi phải đền bù, phải trả công lao. Hãy trân trọng và giữ gìn một món quà trân quí ấy, vì nó cũng có thể vuột khỏi tay bạn bất cứ lúc nào." Đối với những ai đang phải bôn ba lưu đày: " Cứ nghĩ rằng mình đang là những đứa con bất hiếu dù bạn đang làm đầy đủ bổn phận về tài chánh cho những người thân ở quê nhà! Hãy nhìn lại mình và hy vọng một ngày không xa ta sẽ về ôm hôn mẹ, riết thật chặc như ước mơ của nhiều người".
Má! Hãy ráng sống lâu chờ chúng con!
 
letamanh
.
,

Ý kiến bạn đọc
10/05/201502:37:55
Khách
Không có tiền về Việt Nam hả?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.