Hôm nay,  

Trò Chơi Hai Mặt

11/12/201500:00:00(Xem: 6038)
Nguyễn văn Sâm dịch
(Truyện ngắn của Alberto Moravia, Ý))

blank
Alberto Moravia, Ý.

Thằng Umberto làm được cái này; thằng Umberto làm được cái kia; thằng Umberto đứng nhứt lớp; má thằng Umberto khoe nó được thưởng huy chương; thằng Umberto chịu khó đi làm; thằng Umberto đem tất cả tiền lương về nhà; thằng Umberto mua được xe gắn máy bằng tiền của mình; thằng Umberto đã mua được xe hơi. Bất cứ lúc nào, từ khi còn là đứa trẻ ngồi ăn trên ghế cao cẳng, mang yếm trước ngực, bao giờ tôi cũng nghe chuyện thằng Umberto hay giỏi hơn tôi. Dĩ nhiên vì chúng tôi ở cùng trong một bin-đinh ở Via Candia, trong hai căn apartment chật hẹp. Một căn là của cha thằng Umberto, bán gà vịt, ở từng trệt, căn kia là của chúng tôi. Hai căn cùng đổ về một đầu cầu thang. Mẹ tôi và mẹ nó là bạn thân nhau, tôi và nó cùng lớn lên cùng chơi chung. Dĩ nhiên, khi tôi lớn lên, trở thành một thằng chuyên môn lánh nặng tìm nhẹ, làm biếng làm nhác, ăn không ngồi rồi thì mẹ tôi chỉ thằng Umberto biểu tôi noi theo gương nó. Thật ra, theo tôi thì thằng Umberto không bằng ngón tay út tôi; nó láu cá, hợm mình, ti tiện. Nhưng so sánh thì ích lợi gì chớ? Ai chẳng biết tất cả bà mẹ đều giống nhau; nếu thế giới nầy tạo ra đúng theo ý của các bà thì chắc sẽ gồm toàn kẻ vô danh tiểu tốt chỉ biết láu cá, hợm mình, ti tiện như thằng Umberto thôi.

Tôi tuy bực thằng Umberto nhưng khi gặp nhau, chúng tôi vẫn lịch sự chào hỏi, trò chuyện. Thật ra đó là cuộc chiến tranh lạnh giữa hai người, chỉ đợi dịp là gây nhau thôi. Dịp đó đã đến vào ngày tôi bị đuổi khỏi hãng cao su ở Via Dandolo vì làm việc kém hiệu quả. Khi tôi đang đi xuống cầu thang, bên tai còn văng vẳng tiếng của mẹ tôi: 'Con ơi, con làm mẹ buồn quá... Hãy nhìn thằng Umberto kia kìa, nó là đứa con hiếu thảo, con cần noi theo.....' Tình cờ, thằng Umberto đang đi ra. Lập tức tôi chận nó lại: 'Nói đi, phải mầy luôn luôn giỏi trong mọi chuyện không?' 'Bạn nói gì vậy hả?' 'Tao muốn nói, mầy không bao giờ làm điều gì sai quấy phải không, mầy chỉ làm những việc gì nên làm, mầy có khi nào đem tiền lương lãnh trong tuần nướng hết vô sòng bài không?' Có thể tin nổi không chứ? Người nào ở vị trí của thằng Umberto sẽ trả đũa liền. Vậy mà cái mặt ranh ma của nó lại tỏ ra độ lượng. Nó đặt tay lên vai tôi, nói: 'Bạn à, bạn làm theo tôi đi rồi sẽ giỏi thôi chứ gì.' Tôi giận dữ: 'Bỏ tay xuống...Không phải tao gặp mầy để được thỉnh giáo đâu. Chính tao là người muốn khuyên mầy đây: Hãy cắt đứt liên lạc với em Clara nghe không; em đã chính thức đính hôn với tao rồi đó.' 'Chính thức đính hôn à?' 'Em thuộc về tao rồi, mầy phải để em yên- hiểu không mậy?' 'Tôi phạm lỗi gì nếu...?' 'Thôi đủ rồi, báo trước để mầy liệu hồn đó.''

Để các bạn hiểu những lời trên, cần biết lúc đó tôi đang theo đuổi em Clara. Em cũng ở tại Via Candia, trong một bin-đinh giống như bin-đinh của tôi, nghĩa là cũ xì, cũng có sân rộng như một công trường và cũng có cầu thang mang chữ từ A đến F. Trên một cầu thang là apartment của mẹ Clara. Bà tên là Signora Dolores, làm nghề coi bói. Bà đâu khoảng năm mươi, gầy guộc, mặt trắng bệch như bôi bột. Hai con mắt đen làm cho mặt mày giống như cái mặt nạ bằng thạch cao. Lúc trước bà giàu -hay bà nói như vậy- nay thì phải xoay sở bằng nghề bói bài và coi chỉ tay. Người ta đồn bà bói hay lắm. Ngoài các bà ở Via Candia, còn có các cô, có chồng hay chưa chồng, từ khu khá giả lân cận đến xem. Em Clara thì trái hẳn với mẹ. Em khỏe mạnh, xinh đẹp, tươi cười. Đôi mắt như hai vì sao bất động. Cái miệng với đôi môi hồng nhạt là quá dễ thương đi thôi. Khi em cười để lộ những chiếc răng trắng như hột hạnh đào, cái miệng tự nhiên của một cô gái chưa biết làm điệu. Clara làm thơ ký đánh máy và tốc ký cho một văn phòng; em tỏ ra lành nghề. Khi em ở nhà mà mẹ bận tiếp khách, em xuống bếp, ngồi đánh máy và học tiếng Anh. Theo tôi biết, Clara tính tình trầm lặng. Tôi có thể nói, em trầm lặng quá, nhiều như tôi yêu em, tôi phải so sánh em với mặt nước phẳng lặng trường giang. Không quá giống như thành ngữ nước yên thì chảy sâu; mà là mặt biển yên bình tháng tám. Ban đêm, trăng sao lồng vào đáy nước làm người ta nhớ đến cách yêu đương thời xưa, tay trong tay; tay mình quấn lấy lưng em, đầu em tựa lên vai mình. Đúng vậy, em đúng là dòng nước êm ả, đúng cả hai nghĩa.

Cùng ngày hôm đó, tôi kể lại cho Clara nghe là tôi đã chạm trán với Umberto. Em mỉm cười: 'Sao anh lại ghen với hạng người như Umberto được chớ?' 'Thì, hắn là đàn ông mà.' 'Đúng, nhưng là hạng đàn ông gì!' Cảm thấy được an ủi phần nào, tôi yêu cầu em giải thích thêm. Vẫn tươi cười, duyên dáng, ngây thơ, em đáp: 'Ồ, em không biết nữa... Trước tiên, về dáng người, anh ta trông giống như thằng Fagiolino trong rạp múa hình, là người chuyên nhận những cái đấm, với cái mặt dài thoòng và đầu tóc như là cái gối cắm kim tua tủa. Anh có biết không, hắn là chán chết đi được! Chỉ nghĩ đến mình thôi: mình tài giỏi, mình thông minh, mình thế nầy, mình thế kia...Anh ta luôn nói về mình... Ngoài ra anh ta còn có ý nghĩ: Vợ thì phải ở nhà, nấu ăn, trông coi con cái, muốn yên thân thì đừng huyên thiên với người khác, dù rằng với anh em trai cũng không được nữa. Em mà lấy hắn hả, thà chết sướng hơn!' Tóm lại em Clara nói xấu Umberto thậm tệ, đủ điều nên cuối cùng tôi hoàn toàn yên tâm, tôi để em gặp hắn mỗi khi em muốn.

Từ đó trở đi, tôi thấy như trả được mối hận mà ngày nầy qua ngày khác, mẹ tôi luôn luôn cho rằng Umberto là mẫu mực tôi phải noi theo. Mẹ tôi đã đặt hắn lên cái bệ; ngược lại Clara đã ném hắn xuống đất bùn. 'Em đâu thích anh ta. Em đi với anh ta vào nơi anh ta làm đốc công, anh ta thị người làm như cỏ rác. Nhưng khi ông kỹ sư đến thì anh ta biến thành người khác ngay - khúm núm, chăm chú, bợ đỡ.' Hoặc là: 'Để em kể cho anh nghe chuyện mới đây: Anh ta dám cho người ăn mày tới một trăm đồng lận á, anh biết tại sao không? Đó là tờ một trăm giả. Còn điều nầy nữa: Anh ta có tật xấu mà em chịu hết nỗi: Lúc nào thấy em ngó lơ là anh ta cạy cứt mũi.' Clara nói xấu Umberto tàn tệ đến nỗi đôi lần tôi muốn bào chữa cho Umberto, nếu tôi chỉ có cái thú là nghe em nhai đi nhai lại mãi. Tôi nói: 'Nhưng anh ta là đứa con ngoan mà.' Em đáp: 'Nhưng anh ta coi mẹ mình như nô lệ vậy.' Tôi nói: 'Anh ta đem trọn tiền lương về cho mẹ mà.' Em đáp: 'Đem tiền về nhà à? Bây giờ hết rồi, anh ta bỏ riêng vô nhà băng hết trơn thì có.' Tôi nói thêm: 'Anh ta chịu khó lắm mà.' Em đốp chát: 'Hắn mà chịu khó làm việc? Hắn chuyên né việc. Hắn thích sai biểu người khác làm, ngồi mát ăn bát vàng đó ông ơi!'

Thế rồi vì quá tin Clara nên một ngày kia tôi đề nghị điều chỉnh lại sự liên hệ giữa tôi và em tức là hứa hôn chính thức. Em đáp ngay: 'Em đã nghĩ đến điều đó rồi nhưng chưa dám nói với anh thôi. Để mọi việc danh chánh ngôn thuận, anh phải đến thưa với Mẹ em; anh biết mẹ em mà.' Thế là chúng tôi đồng ý là tôi đến trình với mẹ em còn em được phép gặp Umberto lần cuối cùng buổi chiều hôm ấy. Em nói: 'Em không chịu nỗi hắn nữa, hắn làm em mệt quá rồi.' Tôi chấp nhận kế hoạch nầy, không mảy may thương xót thằng Umberto, tội nghiệp, nó đâu biết việc gì sẽ xảy ra. Và khoảng bảy giờ tối thì tôi ra khỏi nhà, băng qua cư xá Via Candia, đi vào cổng của dãy nhà có căn apartment của Clara.


Trên từng ba của cầu thang chữ D, cánh cửa nhà bà Signora Dolores đang khép hờ, tôi đẩy cửa, bước vào. Căn phòng chật hẹp, chật kín khách chờ tới phiên mình. Hai bà đầu trần, dân ở vùng lân cận của Via Candia; một cô da đen xinh đẹp ở cùng khu vực với tôi vì tôi thấy cô nàng quen quen; một bà xồn xồn, mặt mày phờ phạc, trét đầy phấn, mặc áo lông màu nâu. Tôi nghĩ bà Signora Dolores làm ăn khấm khá. Tôi ngồi xuống, lấy tờ tạp chí có nhiều tranh ảnh lên xem. Một lát sau, cửa mở, một bà trẻ đẹp bước ra, hôn bà Signora Dolores một cách thắm thiết, nói: 'Đa tạ, đa tạ người đẹp.' Mẹ của Clara, trong bộ quần áo kiểu Nhựt bằng lụa, góc áo có thêu con rồng đủ màu, miệng ngậm cái ống điếu dài thườn thượt, liếc mắt ngó tôi, nói: 'Cháu Rinaldi, chờ chút nữa nhé, sẽ tới phiên cháu.' Bà đưa bà xồn xồn, mặc áo lông nâu vào. Qua giọng nói của bà, tôi nghĩ bà không biết trước điều tôi sắp trình với bà. Lúc ấy tôi bỗng nảy ra một ý hay hay: Sẽ nhờ bà ta bói thử xem bà có thấy được chuyện hôn nhân giữa tôi với em Clara nằm trong bàn tay tôi không; sau đó thì tôi mới trình chuyện ấy. Lấy làm vui với ý tưởng đó, tôi sốt ruột chờ đến phiên mình. Chừng mười lăm phút sau, bà mặc áo lông bước ra và đi thẳng, vẻ vội vã, đăm chiêu. Bà Signora Dolores ngoắc tay ra dấu cho tôi vào.

Dẫu biết trước vì chỗ nơi chật hẹp bà phải hành nghề trong phòng ngủ, vậy mà tôi cũng phải ngạc nhiên. Đó là một căn phòng tranh tối tranh sáng, với chiếc giường đôi rộng phủ vải vàng mà tôi chắc mẫm là nơi Clara ngủ với mẹ. Cửa sổ phòng có treo màn thêu một đàn chim và mấy giỏ hoa. Một cái bàn cạnh cửa sổ, trên có đặt bộ bài và một cái kiếng lúp. Toàn phòng chật ních với những bàn ghế nho nhỏ, đồ đạc linh tinh, tranh ảnh mang chữ ký của những vị tai to mặt lớn, tặng phẩm lưu niệm... Bà Signora Dolores không nói gì, ngồi vào bàn, ra dấu cho tôi ngồi đối diện. Việc trước tiên là lấy ra cái hộp quẹt, bật lên, đốt một mảnh giấy đen; mảnh giấy cháy, phát ra làn khói trắng thơm phức. Giọng mệt mỏi nhưng thanh tao, bà nói: 'Hương armenia đấy, cháu thấy thơm không? Cháu Rinaldi, cháu cần gì nào?' Tôi trả lời là tôi đến để coi vận mạng. Bà đặt cái ống điếu dài lên cái gạt tàn, cầm bàn tay tôi, nhìn qua kính lúp coi đi coi lại rất kỹ lưỡng.

Một lúc khá lâu, bằng một giọng ngài ngại, bà nói: 'Chỉ tay nầy của hạng người nào vậy cà?' Tôi cảm thấy bối rối, hỏi: 'Có gì vậy bác?' Bà đáp: 'Tại vì đây là chỉ tay của hạng đàn ông khoái- rất khoái - đàn bà con gái.'' Tôi nói: 'Thanh niên mà bác!' Bà đáp: 'Phải, nhưng có giới hạn trong việc săn đuổi chớ. Mà cháu thì không có giới hạn đó. Tim cháu giống như trái ar-ti-sô.' 'Nếu bác nói là...' 'Đó là do chính bàn tay của cháu nói lên thôi: Cháu là một tên Sở Khanh thứ thiệt.' 'Bác ơi, bác đừng nói quá!' 'Bác không phóng đại chút nào đâu; hãy nhìn vào đường tình yêu của cháu xem, nó giống như chuỗi dây xích- mỗi mắt xích là một người đàn bà.' 'Còn gì nữa hở bác?' 'Ngoài ra, không còn gì. Làm ăn may mắn chút đỉnh, làm việc không chăm chỉ lắm, tính tình không mấy đứng đắn, thiếu tinh thần trách nhiệm.' Tôi bắt đầu bực, nói: 'Bác chỉ thấy điều không tốt của cháu thôi!' Bà nói: 'Đó không phải là những điều không tốt. Đó là những đặc tính con người của cháu. Nếu bác là mẹ, chắc chắn bác không gả con gái cho cháu đâu.' Nghe vậy tôi phát giận ngang, tôi nói với bà: 'Vậy bác xem giùm đường gia đạo của cháu coi.' Bà cẩn thận cầm lấy kính lúp xoay xoay bàn tay tôi khắp mọi hướng rồi nói: 'Còn nhiều cuộc săn đuổi đàn bà nhưng không có chuyện hỏi được vợ.' Tôi nói: 'Bác Signora Dolores nè, nói rõ ra là cháu đến đây không phải để coi chỉ tay mà đến để báo với bác là con gái của bác và cháu đã yêu nhau, hôm nay chúng cháu đã quyết định hứa hôn với nhau.'

Khi nghe những lời đó, bà lặng lẽ để kính lúp xuống, nói: 'Nhưng, đứa cháu tội nghiệp của bác ơi...' 'Gì hả bác?' 'Cháu à, bàn tay bao giờ cũng nói lên sự thực; cháu không cưới được vợ đâu.' 'Rõ ràng là Clara và cháu đã đồng ý mà.' 'Cháu chưa được đồng ý...Cháu thì đồng ý với Clara, nhưng Clara thì đâu có đồng ý với cháu đâu.' 'Ai nói vậy?' 'Bác nói đó: Clara đã đính hôn rồi.' 'Nhưng mà lúc nào vậy...?' 'Nó đính hôn đã được cả tuần nay rồi, với Umberto. Clara không đủ can đảm nói thật với cháu vì tánh nó nhút nhát, cũng không muốn gây đau khổ cho ai vì nó có lòng nhân. Nó lo lắm; cháu không biết nó lo như thế nào đâu. Và nhân đây, bác muốn nói rằng thằng Umberto đã tỏ ra người quân tử: Clara đã xin Umberto cho nó gặp cháu thêm vài ngày để có dịp giải thích với cháu, Umberto đồng ý ngay. Không biết có bao nhiêu cặp đã đính hôn trong tình huống như vậy mà làm được điều đó.'

Tôi chết điếng trong lòng. Bà còn có vẻ đạo đức giả: 'A, thử bói bài thêm xem sao; cam đoan lật lên là thêm nhiều hình các bà.' Như kẻ vô hồn, tôi móc ra tờ một ngàn đồng đặt lên bàn, bước đi, không nói lời nào. Choáng váng. Thay vì coi chỉ tay cho tôi, bà Signora Dolores đã giáng lên đầu tôi cả cái búa tài xồi. Trong cảm gíác bàng hoàng, tôi vẫn còn hồ nghi nhiều điểm giống như đám rắn lay tỉnh dần dần trong đống rơm, dưới nắng ấm. Vậy là trong khi tôi nghĩ rằng tôi hào hiệp đối với thằng Umberto là để cho hắn được phép gặp Clara, thật ra hắn là người hào hiệp đối với tôi khi cho phép Clara gặp tôi. Trong khi tôi khoái chí nghe em nói xấu Umberto thì chính lúc ấy hắn đang khoái chí nghe em nói xấu tôi. Vậy là Clara luôn luôn chơi trò hai mặt; cuối cùng chỉ mình tôi là người bị lừa gạt phĩnh phờ.

Trong lúc thoáng qua đầu những suy nghĩ đó, chắc tôi lộ vẻ bối rối vì ngay lúc đó cô gái da đen xinh đẹp đang chờ đến phiên, vừa ra dấu vừa xì xì kêu tôi như người ta gọi con mèo. Tôi khom người xuống, em hỏi: 'Có chuyện gì vậy? Bà ta đoán toàn chuyện không tốt lành hả?' Tôi đáp: 'Xấu đau xấu đớn.' Cô em đứng bật dậy: 'Vậy em không thèm vô coi đâu. Em sợ nghe điều xấu lắm.' Như kẻ vô hồn, tôi bước ra khỏi phòng, cô em cũng bước theo sau.

Đến đầu cầu thang, tôi nhìn sang người đẹp: nước da đen bóng, tóc cắt ngắn như con trai, những lọn tóc lòa xòa quanh khuôn mặt tròn, đám tóc măng xuống tận má và cằm như bóng râm. Tôi thấy cô em quá là xinh và dường như đoán biết tôi đang nghĩ gì, cô em quay về phía tôi, mỉm cười: 'Anh thì chẳng biết em đâu, nhưng em biết anh! Chúng mình ở trong cùng một bin-đinh mà.'

Thình lình từ cầu thang bên dưới vang lên tiếng cười ngây thơ, trong như tiếng hạc bay qua; đó là tiếng cười của Clara. Lúc ấy cũng có tiếng nói the thé của thằng Umberto nữa. Tôi liền đặt tay ôm eo ếch người bạn mới: 'Cưng tên gì ?' Cô em đáp: 'Em tên Angela.' và nhìn tôi không chút ngượng ngùng. Đúng lúc đó, Clara và Umberto đi ngang qua chỗ hai đứa chúng tôi. Tôi biết em đã nhìn thấy chúng tôi ôm nhau nhưng em lặng lẽ ngó xuống đất. A, thấy chưa, tôi cũng có bồ vậy chứ, nhưng cảm giác cay đắng. Họ đi lên cầu thang, chúng tôi thì đi xuống. Tôi bỏ tay khỏi lưng Angela, nói: 'Angela yêu dấu, mình đi uống nước để mừng duyên gặp gỡ nhe!' Cô em nắm lấy tay tôi, chúng tôi cùng nhau xuống phố....

Port Arthur, 2000

Nguyễn Văn Sâm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.