Hôm nay,  

ĐÊM

21/04/201919:08:00(Xem: 7647)

   

ĐÊM
 

Ngự Thuyết

 

 

Thông thường phản ứng đối với một hành động sẽ tránh được tính cách nông nổi, bộp chộp, chủ quan, hoặc thiếu bình tĩnh, nếu giữa hành động và phản ứng ấy có một quãng thời gian trống. Phản ứng có thể là một hành động chống lại, hay chỉ là một thế đứng, một nhận định, một góc nhìn. Và quãng thời gian trống có thể được gọi là thời gian làm trái độn, một độ lùi, dài ngắn khác nhau, có thể tính bằng giây phút, hay ngày giờ, hay thậm chí tháng năm, hay nhiều năm, tùy theo tình huống của sự việc. Anh nghĩ đến điều vừa nói và một câu chuyện cũ của mấy mươi năm về trước. Thời gian làm trái độn như thế quả là khá dài, dâu biển đã xẩy ra, nhưng cũng có cái bất biến, hay chưa chịu đổi thay. Thì cứ kể lại, xem như một bằng chứng nhỏ nhoi, một tấm ván chìm nổi trong bão biển.  

 

Hôm đó, anh phải đi dạy học 12 tiếng. Đạp xe đạp quá lâu, quá nhiều để tới ba nơi dạy cách xa nhau. Đã thế, trên đường về, anh còn ham hố ghé nhà người bạn thân mượn cuốn băng nó tự thâu lấy  những bản nhạc nó thích. Hơn 9 giờ tối anh mới về tới nhà, mệt nhoài.

Tối hôm ấy không điện. Trong căn phòng chật hẹp, bên một ngọn đèn dầu hỏa tù mù đặt trên cái mặt bàn gỗ tạp sù sì, hai cái đầu kề nhau, một tóc húi “ca-rê” của đứa con trai, một tóc “bum bê” của đứa con gái. Đứa con trai ốm nhom, “xỏong”, chưa bao nhiêu tuổi mà má đã hóp; đứa con gái mắt đen, gầy gò, xanh xao. Chúng đang học bài. Kế đó, trên chiếc giường tre, hai đứa bé tí, hai khuôn mặt “chàu vau” thiếu sữa, nằm đùa giỡn với nhau, vô tư. Không có phòng khách, không nhà bếp, nồi cơm được bắc trên chiếc lò than bùn đặt tại góc phòng. Vợ anh đang nấu cơm. Chị hốc hác, quần áo cũ, nhiều miếng vá, rộng thùng thình.

Bỗng anh bủn rủn tay chân, gân cốt rã rời. Phải cố gắng mới dựng được chiếc xe đạp vào vách tường bên cạnh cái bàn học của hai con. Đó là cái bàn duy nhất trong căn phòng duy nhất chật hẹp ngỗn ngang giường ngủ, ghế bố, ghế đẩu, đòn, lò bếp, chén bát, nồi niêu.

Trước kia nhà anh rộng rãi, hai tầng, nằm trong khu yên tĩnh của thành phố. Có khu vườn nhỏ, có xe hơi và chiếc lambretta. Đi làm, anh dùng lambretta. Cuối tuần hay lúc nào cả nhà cần đi chơi đây đó, anh lái xe hơi. Vợ lo việc nhà và đưa hai đứa con lớn đi học tại một trường tiểu học gần nhà, chỉ đi bộ mươi phút là tới.

Anh đi tù lâu ngày. Đồ đạc trong nhà bán dần. Trước hết, bán chiếc xe hơi, tiếp theo chiếc lambretta, và nữ trang. Rồi bán gần hết mọi thứ đồ đạc, tháo hình ra bán cả cái khung ảnh, trước khi mua được một chiếc xe đạp cũ. Nhưng cái nhà thì chị nhất định không bán. Chị cắn răng chịu khổ cực trăm chiều, cố giữ lại cái nhà chờ anh về. Chờ mãi. Cuối cùng được tin nếu chị chịu đi Kinh Tế Mới thì anh được về sớm. Thì bán nhà vậy, và chờ tin vui. Nhưng tin vui không đến. Không sống nổi tại cái khu Kinh Tế Mới cằn cỗi “chó ăn đá, gà ăn muối”, chị đánh liều lếch thếch mang bốn con về Sài Gòn, về thành phố quen thuộc, thân yêu cũ. Chị biết may vá. Và tìm thuê được một căn phòng xập xệ ở Chợ Lớn, nay vắng teo, trước kia là nhà chứa “đồ lặc xon” của một gia đình người Tàu đã vượt biên. Nghe nói nhà cửa của người Tàu đó thuộc quyền sở hữu của Phường.

Có lần anh buông xuôi, nghĩa là không gồng mình chống chỏi, vừa dẫn xe vào được trong nhà thì chiếc xe đạp và anh ngã lăn kềnh xuống đất khiến vợ con hoảng hốt. Có bệnh tật gì đâu, chẳng qua “máu xấu”. Bụng đói, biết nồi cơm sắp chín, thế là té xỉu. Chỉ cần cố gắng định thần lại cầm cự, khoảng mươi phút thôi, cơn đói sẽ nguôi ngoai, anh sẽ hoàn hồn, đứng vững.

Nồi cơm vừa chín tới, chị đánh hắng một tiếng. Hai đứa lớn vội gấp vở lại, chuồi xuống dưới  bàn, sung sướng nhoẻn miệng cười, chạy nhanh đến mẹ giúp dọn bữa ăn. Hai đứa bé tí cũng ngừng chơi, vùng dậy, tranh nhau chỗ ngồi gần bố. Bố đi làm suốt ngày tối mới về, hai đứa nịnh bố. Trên mặt bàn, không khăn bàn, bốn cái chén, bốn đôi đũa, một chén nước mắm ớt, một tô dưa cải và nước khú. Hôm nay có cả một dĩa da heo luộc. Cạnh chị, nồi cơm độn bo bo vừa được dỡ vung, khói bốc. Chị dùng đôi đũa cả, lớn và dài hơn đũa thường, xới cơm cho mọi người. Và cầm cân nẩy mực.

               Anh ăn thong thả, cố nhai kỹ. Anh hai ba lần nhắc nhở đứa con trai tập nhai. Anh bảo nhai kỹ, thì dù chỉ có cơm với chút nước mắm mà thôi, cũng ngon lành như thường, mà lại không phí phạm, nghĩa là bao nhiêu chất bổ dưỡng trong cơm đều được hấp thụ trọn vẹn. Nhưng nó vô ý cứ láu táu ăn nhanh, chỉ một nhoáng ăn xong hai chén cơm lưng trộn bo bo. Hôm nay lại lơ đãng, ăn xong phần mình, nó chăm chú nhìn nồi cơm. Chị lừ mắt. Nó làm bộ giật mình, đứng dậy nhún vai. Chị ăn chậm hơn cả anh, lại còn phải dùng muỗng nhựa nhỏ đút cơm không bo bo cho hai bé. Hai bé sợ cay, có riêng chút nước mắm không ớt. Bữa ăn trôi qua nhanh.

Trước khi lo việc rửa nồi rửa chén, đứa con gái vói tay bưng cái nồi lên dòm xem có còn gì trong đó. Xong nó đút hai chiếc đũa cả vào cái miệng nho nhỏ, xinh xinh, cạp cạp, khới khới mấy hột cơm còn dính. Vừa nhai mấy hột cơm như nhai chơi cho vui, nó vừa nhí nhảnh liếc mắt nhìn anh hài tội:

“Anh Đăng dở ẹt. Lâu lâu mới có da ăn mà toàn da chay. Tới phiên em đi lần nào da cũng có dính lớp mỡ.”

Đăng gắt:

“Mày là con gái quen  năn nỉ, quen xin xỏ. Tao khác.”

Từ ngày được “ra trại”, tức là ở tù xong, anh còn bị quản chế thêm hai năm. Không được đi ra khỏi Sài Gòn. Lẽ dĩ nhiên tình nguyện dọn nhà đi Kinh Tế Mới thì được chấp thuận ngay. Nhưng cái này mới là vòng luẩn quẩn, tiến thoái lưỡng nan, đối với người được thả về từ nhà tù cải tạo: Phải có việc làm mới có hộ khẩu tại Sài Gòn, nhưng phải có hộ khẩu mới được phép xin việc làm. Vậy không sớm thì muộn sẽ bị tống khứ khỏi thành phố này. Cũng may, cái quyết định oái oăm đó chưa được thi hành một cách nghiêm nhặt. Trong khi chờ đợi lưỡi gươm Damoclès giáng xuống, cứ cuối mỗi tuần anh phải báo cáo sinh hoạt hàng ngày với công an Phường. Anh được quản lý chặt chẽ.

Biết báo cáo cái gì đây? Không lẽ ngày nào cũng “thành thật khai báo” y chang như nhau: ngủ dậy, đánh răng nếu còn kem đánh răng, kiếm chút gì bậy bạ để ăn sáng, rồi ăn trưa hay nhịn ăn trưa, rồi chờ vợ đi làm về ăn tối, cũng có khi anh về sau vợ, và cuối cùng trèo lên giường ngủ hoặc mất ngủ. Cho nên anh nghe lời bạn bè gia nhập cái gọi là Hội Trí Thức Yêu Nước nằm trên đường Nguyễn Thông với mục đích là để có một chuyện gì đấy viết vào cuốn sổ báo cáo hàng ngày.

Hội cũng có sinh hoạt. Đọc sách báo, nghe đài, nghe thuyết trình, đánh cờ tướng, đánh banh bông (bóng bàn). Thỉnh thoảng có lệnh đi đắp ụ đại pháo, ụ tên lửa, hay là làm mấy công việc lặt vặt “khuyến nông” trồng trọt, cuốc đất, dọn sỏi đá, tại những ngoại ô. Anh không buồn tìm hiểu tại sao phải có những ụ vũ khí đó. Hòa bình rồi mà. Anh không cần biết gì thêm. Hoạt động như người máy.

Anh nhớ một lần thấy tận mắt tại Hội Trí Thức Yêu Nước một nhân vật nổi tiếng, ông Đào Duy Anh. Ông mặc áo bà ba, khăn choàng cổ rằn ri đen trắng, mắt mệt nhọc, trán cao, người dong dỏng. Ông thuyết trình về một đề tài liên quan đến Nguyễn Trãi, vấn đề “Công tâm”. Công tâm ở đây không phải là lòng ngay thẳng, không thiên vị, và chữ “công” là động từ chứ không phải tính từ. Cho nên “Công tâm” có nghĩa là tấn công về mặt tâm tình, tâm lý. Chợt trông thấy giáo sư Nguyễn Đăng Thục ngồi bên dưới hàng thính giả, thế là ông bước xuống khỏi khán đài trong khi ông Thục đứng dậy. Hai người bắt tay nhau. Anh ngạc nhiên. Họ ở hai chiến tuyến lại có biết nhau? Hay là sau ngày Miền Nam mất, họ mới có dịp gặp nhau, làm quen?

Anh nhớ cả mấy câu nói đầu tiên của bài thuyết trình. Đại khái, Lâu lắm tôi mới được trở lại đứng trên bục giảng, lại được hân hạnh đứng trước những Người Trí Thức Yêu Nước.

Nói như thế là đủ “làm khó” nhau rồi, ông còn nói thêm, Tôi không dám tự xem mình là Người Trí Thức Yêu Nước.

Anh không thể hiểu nổi những câu nói dẫn nhập đó. Mỉa mai chăng? Mỉa mai hội viên hay người đẻ ra cái hội đó? Hay mỉa mai cả hai? Hay vì bùi ngùi cảm khái?

Thỉnh thoảng Hội bán cho hội viên chút ít gạo hoặc nước mắm với giá rẻ hơn giá thị trường. Và tháng nào Hội cũng một vài lần  bán rẻ da heo. Thì hai đứa con thay nhau đi bộ lên Hội mua đem về luộc ăn cho có thêm chất đạm.

Anh giấu việc đi dạy chui, kiếm chút tiền phụ vào tiền lương tháng quá ít ỏi của vợ. Vợ là thợ tại một cửa hàng Hợp Tác Xã May Đo của Nhà Nước. Ủa, hình như Đo rồi mới May chứ. Anh dạy tiếng Anh cho mấy gia đình có “ý đồ” vượt biên. Anh cũng muốn vượt biên, nhưng đào đâu ra cây, ra tiền đóng cho bãi, cho ghe. Thật ra tiền để dành sau khi chị bán nhà đã nộp hết cho mấy tổ chức vượt biên. Và đều thất bại, cả nhà suýt bị bắt. Dễ bị đánh lừa, thì phải vượt biên nhiều lần, biết đâu có lần gặp may, gặp tổ chức “thứ thiệt” chứ không phải “đồ dỏm”. Và dù không bị lừa cũng không có gì bảo đảm rằng mình sẽ sống sót – con thuyền bé nhỏ, rách nát, quá tải, trên đại dương mênh mông! Thế nhưng tuyệt đại đa số người dân Miền Nam đều muốn bỏ nước mà đi. Tự do hay chết.

Mình cứ tưởng Sài Gòn bằng phẳng êm ru bà rù. Lái xe hơi, xe lambretta, chạy phon phon như chạy trên sân đá banh. Bây giờ hì hà hì hục đạp xe đạp mới biết có dốc, và lên dốc là gì. Mà xuống dốc càng muốn ói. Thắng không ăn, đưa gót chân kềm vào vành bánh sau, miệng làm còi hô to cho người ta kịp tránh, trầy da, văng dép, rách lai quần. Mà thành phố nào lại không có dốc. Dốc lên, dốc xuống, dốc cao, dốc thấp, nhiều dốc, ít dốc. Chứ riêng gì Đà Lạt.  

Gặp lúc ngược gió, bụng đói, kiệt lực, gò lưng đạp dưới nắng gắt, mồ hôi tuôn ra ướt đẫm cả lưng, cả phần dưới lưng, không cần nhìn ngược nhìn xuôi, anh biết ngay đang lên dốc trên con đường nào, ở quãng nào. Đạp không nổi nữa thì chỉ còn cách xuống xe dẫn bộ tìm bóng cây.

A, cây này được đây. Cao, nhiều cành, nhiều lá. OK.

Anh dựng xe lại, quơ chân, quơ tay gom mấy chiếc lá rụng, xua đuổi kiến. Kỳ cục, anh ngẫm nghĩ, đâu đâu cũng có kiến. Khi mình no, kiến tới đã đành, khi đói kiến cũng không tha. Anh nhớ những năm ở tù, treo lủng lẳng lên sà nhà mấy món ăn vợ mang lên thăm nuôi cốt là để trốn chuột, thế mà kiến cũng biết bò tới ăn tranh. Đuổi, chúng nó lì lợm bám trụ. Có khi giận, ăn luôn kiến, ngứa ngáy cổ họng. Ngồi lên trên lá, lưng dựa vào gốc cây, lim dim mắt, không dám ngủ, sợ ngủ quên. Nghe lá sột soạt mỗi khi anh trở thế ngồi. Thấy êm êm đâm nghĩ vẩn vơ.

Hình dung lại những bữa ăn tối sum họp quanh chiếc bàn gỗ tạp xiêu vẹo. Cảnh khổ nhiều khi gieo vào lòng anh những tình cảm dịu dàng, bất ngờ. Anh vừa âu yếm vừa xót xa nghĩ đến vợ con nheo nhóc, những bạn bè sa cơ thất thế như anh. Anh cho rằng trong cảnh khổ, dường như tình thương dễ xuất hiện hơn; từ tâm, hay thử dùng ngôn ngữ Phật Giáo, lòng từ bi, có cơ hội đâm chồi nẩy lộc hơn.

Nhưng hãy coi chừng. Sách nói bần cùng sinh đạo tặc. Ừ, mình đã cùng khổ chưa? Gặp bước đường cùng liệu mình có biến thành kẻ cướp?

Rồi anh chột dạ.

Hay mình đang tự dối lòng, đang tự kỷ ám thị, đang bắt chước Ả Q của Lỗ Tấn, Ta yếu hơn nó, ta già hơn nó, ta đánh nó không lại thì phải sẵn lòng để nó đánh ta. Mà nó đánh ta thì có khác gì nó đánh bố nó. Thế là nó có lỗi. Nó thua, ta thắng. Thế là “tự sướng”?

Nghỉ ngơi dưới gốc cây chưa được nửa tiếng, lại sắp tới giờ dạy học tại một nhà khác tận vùng Chợ Thiếc cuối Chợ Lớn. Lần này dạy tiếng Anh cho một cụ già người Hoa, nói tiếng Việt “chút chút”, và chỉ biết chữ Hán mà thôi. Giướng mắt kèm nhèm hỏi, Chữ cái là cái gì, a bê xê là cái gì? Hầy, hầy? Anh ngán ngẩm. Nhổm dậy, phủi bụi bặm, lá cỏ khô dính trên quần, áo, năm ngón tay làm lược chải lại mớ tóc bù xù, chụp cái mũ lên đầu, anh lên xe. Đạp, đạp, và đạp.

Cứ thế, ngày nọ kế tiếp ngày kia, đều đều như cây kim đồng hồ ngày xưa quay. Đồng hồ ngày xưa? Đúng vậy, cái đồng hồ treo tường đã cùng với những đồ đạc khác rủ nhau chạy ra chợ trời từ thuở nào. Cuộc sống trước mắt khô khan, chai lì, buồn nản. Không thấy chút bóng dáng nào của tương lai. Quá khứ thì cố quên.   

 

Nhưng ban đêm, khác. Anh có một chút sở thích, nhờ vậy cuối ngày, trước khi đi ngủ, cũng được khuây khỏa phần nào. Vợ anh thì không. Ngày cũng như đêm, khác hẳn trước kia, anh không hề nghe thấy một tiếng cười của vợ. Anh để ý từ ngày anh ở tù về, chị cũng không hề thăm viếng bạn học ngày xưa, không hề đi chùa, hay đi về ngoại, nói gì đến chuyện đi đến những Tụ Điểm Giải Trí, Âm Nhạc, hay đi xem chiếu phim. Càng không mơ tới những chuyến đi xa Sài Gòn như trước kia để thỉnh thoảng tìm thấy lại hơi thở của ngoại ô, nhà lá, vườn tược, cây cối, sông nước, khói cơm chiều. Đi Thủ Thiêm, Thủ Đức, Lái Thiêu, Bình Nhâm, Phú Lâm, Nhà Bè, Chợ Đệm, Bà Điểm, Bình Chánh, Gò Đen, Cần Giuộc ...  Hay xa hơn nữa.   

Còn con cái? Hai bé tí nhỏ xíu khỏi nói, hai đứa lớn làm gì cho hết ngày ngoài việc đi học? Tội nghiệp chúng nó, chỉ có những trò chơi thật nghèo nàn, đơn sơ, thô thiển. Đứa con trai cùng bạn bè trong xóm, hầu hết không đến trường lêu lổng suốt ngày, chơi trò tạt lon, đánh đáo, nhích hình, bắn bi – tất nhiên bắn bi chai, hay bi đá tự mài lấy, bằng mấy ngón tay dính đầy đất cát, chứ làm sao có súng đồ chơi. Đứa con gái thì ù mọi, đánh thẻ, nhảy dây -- nhảy vượt qua, nhảy xéo, nhảy lèo – không phải dây thừng, sợ vướng chân té u đầu, mà là dây kết bằng những sợi cao su vòng tròn dùng cột những gói quà nhỏ. Chỗ chơi chung cho con trai con gái là sân trường, lề đường, trước nhà, hay ngay trên mặt đường xe cộ thường qua lại. Chúng chơi say sưa bất kể trời đất.

“Ham chơi như thế xe ào tới biết đâu mà tránh?”

“Không sao cả. Xe tránh người chứ người đâu cần tránh xe.”      

Có lẽ chúng cảm thấy tội nghiệp cho cha mẹ hơn là ngược lại.

 

Vâng, ban đêm, khác.

11 giờ đêm lại có điện. Lũ trẻ đã ngủ say. Vợ anh soạn ra những món lỉnh kỉnh, mấy cây kim, những lọn chỉ màu, khung thêu, bút chì ... Ban ngày chị làm việc tại cửa hàng may đo, ban đêm lãnh thêm đồ về làm.

“Hôm nay coi bộ anh mệt lắm đó nghe. Ngủ sớm đi anh.”

“Định đi ngủ thì có điện.” Anh uể oải đáp. “Ờ, mà cũng đi ngủ cho rồi. Mai phải đi dạy sớm.”

Anh lên giường. Theo thói quen, anh mở cassette nghe nhạc trước khi ngủ. Chị dịu dàng:

“Không sao, anh. Em không cần nghe đâu. Cứ vặn nhỏ lại nghe một mình cho yên thân.”

Anh cười âm thầm, mở băng nhạc vàng mới mượn, mở thật nhỏ, nghe chui. Đó là thú vui lặng lẽ và duy nhất của anh. Anh biết vợ cũng thích nghe nhạc nhưng cẩn thận. Nhà kho này khá biệt lập, nhưng rủi có người nào tình cờ đi ngang qua nghe thấy. Hoặc công an. Nguy hiểm lắm. Khóm Phường luôn luôn nhắc nhở: Thấy ai làm điều gì sai trái, phạm pháp, phạm nội quy, phản động, phải báo cáo ngay lập tức. Nếu không, là đồng lõa. Nghiêm trị. Anh nhìn vợ, nói, Xin tuân lệnh.

Bản nhạc đầu tiên, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải. Tiếp theo, Xóm Đêm của Phạm Đình Chương. Rồi Cánh Thiệp Đầu Xuân của Lê Dinh. Và mệt quá, ngủ thiếp lúc nào không hay.

 

Những mảng tối rúc rích như chuột. Gián bu nâu mặt bàn. Và gió nhiều. Gió mang tiếng dế nỉ non đi khắp nơi. Gió làm cây cối ngả nghiêng, thậm thà thậm thụt, lấp ló. Những cặp tình nhân lén lút, buồn bã. Những tên ăn trộm không gặp vận hẹn gặp nhau sau hè, uống rượu, văng tục. Thì nó hiện ra. Trông quen quen, nhưng sao lại mù, mà tay thì cầm dao nhọn. Mình bị nó đuổi ra khỏi nhà, và đẩy vào một căn phòng nhỏ lạ hoắc qua cánh cửa rệu rạo. Cửa bỗng đóng sầm, nó bên ngoài, nhốt mình bên trong. Thử mở, chặt quá, không mở được.

Những chấm đỏ của mấy cây nhang leo lét từ bàn thờ ông Địa nằm ở góc phòng. Tiếng khóc trẻ con văng vẳng đâu đây. Lại nó, chẳng hiểu nó vào lúc nào. Nó đánh hơi như chó, lừ lừ tiến tới, tay cầm dao. Định giết người hả? Tháo chiếc dép ném, xem thử nó có thấy mà tránh hay không. Hay vẫn mù? Dép chưa tới đích đã hết đà rơi xuống đất trong khi con dao của nó chỉa ra đằng trước đâm đâm vào khoảng trống. Mình nín thở mong nó không đánh hơi ra mình, rồi nhón chân đi men theo vách tường lần lần từng bước. Nó quay đầu nghe ngóng, một tay sờ sẫm vách tường, tay kia quơ con dao. Đau.  Không dám nhúc nhích sợ nó nhận ra. Ô, mình bị trúng? Sao tự nhiên đứng gần nó quá thế, như cái kim bị nam châm hút, thì sẵn có cây búa trong tay, tự nhiên cây búa nằm trong tay lúc nào chả biết, thử nện mạnh một cái vào vai nó. Búa tuột tay rơi xuống sàn nhà. Tiếng búa chạm đất nghe rầm một tiếng như tiếng trống.

Anh choàng thức, mồ hôi lạnh ướt đầm cả người. Đó là tiếng trống nhịp mạnh của nhịp “ba bốn”, và bài hát là bài Thuyền Mơ của Dương Thiệu Tước. Êm đềm, xa xôi, thơ mộng:

 

Làng ai bên dòng sông vắng

Kề bên núi lam miền Trường Sơn

 

Dưới ánh điện mờ mờ, chị vẫn còn ngồi chăm chú thêu, bóng chị lung lay in lên vách. Anh nhận ra cả bàn tay hơi gầy, ngón út chìa ra, thỉnh thoảng đưa lên đưa xuống cây kim. Rồi cánh tay trần. Anh thích nhìn cái nách của chị từ đằng sau. Anh ngẩn ngơ ngắm chị cả người lẫn bóng di động khi nhanh khi chậm. Bản Thuyền Mơ tiếp tục ngân nga. Ai hát nhỉ, chắc là Minh Trang. Cô này mà hát nhạc Dương Thiệu Tước thì là ... thì là ... Anh lười biếng tìm chữ. Cơn ngủ từ từ trở lại như đám mây trôi lờ đờ trên bầu trời xám đen rồi che khuất mảnh trăng khuyết. Bầu trời đen hơn. Và anh, hai mắt nhắm trít, vẫn còn lơ mơ nghe khúc hát tiếng được tiếng mất:

 

               Bến sông ... tiêu  ... gì nhỉ ... Thuyền xa ... ai nhớ ... gì gì nhỉ ...

 

Lại nó. Anh mơ hay tỉnh? Giấc mộng dữ tiếp tục hay sao? Trông nó chậm chạp hơn, mập ù ra. Con dao đâu rồi? Trong tay nó là cái gì vậy? Hình như con dao vẫn còn? Anh giữ một khoảng cách e dè nhìn nó. Tiếng ho khẽ, anh nghe rõ, từ chị vợ. Lạ quá, chị nhìn anh như nhìn cái bàn, cái ghế, cái lò, nói lầm bầm những gì anh không nghe rõ. Anh cố giướng mắt nhìn lại chị, thấy lờ mờ, chị vẫn còn ngồi thêu xeo xéo dưới ánh đèn. Bóng đèn khuya lạ quá, vàng khè, bệnh hoạn. Anh nghe tiếng mèo gào từ một nơi xa nào, rất ma quái. Thế ra mình vừa thức vừa ngủ vừa mơ? Có lẽ đã khuya lắm, hay gần sáng? Anh cố gọi chị, giọng ú ớ không ra khỏi miệng. Bỗng tiếng gì rù rì bên tai, anh nhận ra tiếng máy cassette. Một bài hát mới khe khẽ ngân lên, bài đó mình biết, và giọng hát nghe quen thuộc quá:

 

               Rồi mai có một lần tôi đưa em

               Về trên đỉnh yên bình hiền hòa

 

Nốt nhạc thấp, thì tiếng hát nghe hơi khàn khàn, chứ không rè rè mệt nhọc như giọng Juliette Gréco hiện sinh Sartre trắng đêm Paris ánh đèn màu. Hay Đêm Màu Hồng Sài Gòn? Hay Mỹ Phụng? Chân ngứa muốn nhảy đầm. Đâu những thằng bạn ngày xưa? Còn mất? Thắng, Ân, Nhiếp, Du? Thỉnh thoảng có Phong, Oanh, Thọ, Ngẫu ... Tiếng hát này hẳn không phải của Juliette. Nó khác. Nó là ... nó là cô gái tuổi teens vừa qua cơn bệnh nhẹ, một chút uể oải, một chút thèm muốn, một chút lơ đãng, và một chút đau đớn còn đọng trên đôi mắt. Rồi cao dần, cao dần, lung linh, bềnh bồng, lâng lâng. A, Khánh Ly:

 

Một mùa xuân lên cao

Hôn lên làn tóc xõa

Theo mây trôi bềnh bồng

 

Thế ư. Thế là đã dìu nhau lên tới đỉnh bình yên rồi chăng, đỉnh hạnh phúc rồi chăng, hỡi người làm ra bài hát. Trí óc sáng ra dần. Đúng, Từ Công Phụng là tác giả. Và anh chàng mù cũng có vẻ muốn nghe nhạc, nhưng tay vẫn không buông con dao nhọn. Tóc nó cắt ngắn như tóc lính, mặt mày méo mó, dị dạng, sắt máu, bước đi nặng nề. Kệ nó, đừng bận tâm vì nó nữa, được không? Bỗng nhận ra, ô hay, nhạc sỹ ơi, quả là nhạc sỹ chưa có cái diễm phúc đó. Cái câu chuyện đó đã xẩy ra đâu. Chỉ là mong ước, hy vọng, hứa hẹn.  Rồi mai mà. Rồi mai mới sẽ có được một lần. Nhưng nhạc sỹ vô tình hay cố ý bỏ đi chữ “sẽ”.

Cũng có thể trong quá khứ, nhạc sỹ đã chạm được hạnh phúc, và mong muốn những ngày vui sống mãi, tuổi thơ không bao giờ phai, mùa xuân không bao giờ dứt. Rồi mai, rồi mai... Hãy ôm trọn, ôm trọn tuổi xuân. Nhưng liệu sở nguyện đó có trở thành sự thật, không phải chỉ riêng cho tác giả, mà chung cho cả con người trên thế gian đầy đau khổ này. Cho nên, lẫn trong âm thanh dìu dặt, lời ca êm đềm, có tiếng thở dài rất nhẹ nhưng cũng rất ảo não:

 

Rồi mai có một lần tôi đưa em

Đưa em về miền nắng ấm

Những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm

 

Giọng người ca sỹ, Khánh Ly, lên cao như cánh diều gặp gió. Lên cao nữa đi. Như cụm mây trắng lồng lộng trên bầu trời xanh. Như cánh hạc vút tận trời. Cao mà không chua lét, không khét rẹt. Cao trong veo. Và âm thanh tròn như hạt móc đậu trong ngọn lá hoa súng trên mặt hồ một buổi sáng sương mù.

Anh cố cựa mình. Không bị trói, không bị đè, nhưng anh không thể nào vùng dậy được. Tai thì  vẫn nghe rõ mà mắt thì nhòe nhoẹt. Có ánh đèn, thấy lờ mờ khung vải, kim thêu, thấy chị luôn tay không biết mỏi. Nghe được cả tiếng cười của đứa con gái út. Nó cười trong giấc ngủ như vẫn thường cười, anh nhớ.

Tiếng hát, lời và nhạc, cứ thế vang vang dìu dặt, khi thủ thỉ, vỗ về, lúc réo rắc, xao xuyến. Nó đi vào tận đáy lòng, nó xoáy sâu vào trái tim:

 

               Trên đỉnh yên bình

               Một mùa xuân ôm kín khung trời

               Của tuổi thơ thôi rã thôi rời

 

Anh cố mở to mắt, khó khăn quá, thấy chấp chới ánh đèn vàng. Anh cố nói một câu, vẫn không thành lời. Có một bàn tay vô hình chẹt cổ mình chăng? Thở thì nghẹt. Ruột thì quặn. Tim thì thắt. Tay chân thì bất động. Tuyệt vọng, anh muốn gào, muốn thét, muốn vùng vẫy. Muốn buông xuôi nhận một nhát dao của thằng mù. Nhẹ thôi nhé. Hãy đâm vào cổ họng.  

Bỗng như hơi gió lướt nhẹ trên mặt hồ im, tiếng hát Khánh Ly nghe thì thầm những lời van vỉ, an ủi, vỗ về:

 

               Có một lần vui thôi em

               Đừng cho chết hương tình ngọt ngào

 

Anh buông được một tiếng thở mạnh, và biết thế là thoát. Tỉnh giấc, anh thấy chị đã đứng bên giường từ bao giờ, cúi xuống gần anh.

                                                                                                                           4/2019

                                                                                                                                              

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tiếng Việt của ta rất phong phú và có ý nghĩa thâm sâu. Khi áp dụng vào chính trị thì nghĩa chữ càng tím ruột, lộn gan lên đầu. Tỷ dụ như khi báo Nhân Dân, tiếng nói chính thức của Đảng và Nhà nước CSVN nghêu gao rằng “dân chủ là bản chất chế độ xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” (ngày 10/07/2020) thì dân Nam Kỳ Lục Tỉnh biết ngay đó là xạo ke, ba xạo, ba đía, hay là chuyện tào lao thiên địa, bá láp bá xàm.
Trong lịch sử cách mạng tranh đấu giành Độc lập Việt nam gần đây, có 2 Đảng Cách mạng có tuồi thọ cao nhứt là Việt nam Quốc dân Đảng và Đại việt Quốc dân Đảng. Đảng cộng sản tuy xuất hiện năm 1930, sau Việt nam Quốc dân Đảng, nhưng không phải là đảng tranh đấu cách mạng cho Độc lập dân tộc, mà tranh đấu cho quyền lợi của phong trào cộng sản quốc tế. Vì người cộng sản không có dân tộc và không có đất nước riêng của họ.
Đại dịch Vũ hán do virus cộng sản Bắc Kinh gây ra chưa dứt thì nhiều tổ chức, nhiều nước đã lập hồ sơ kiện Xi và đảng cộng sản Trung Quốc về tội dấu xử thật. Trong lúc đó, chánh phủ một số các nước khác cũng bị dân chúng khiếu kiện về tội không bảo vệ hữu hiệu xửc khỏe và đời sống dân chúng.
Sự tăm tối và độ hoang tưởng của các chú – xem ra – cũng ngang ngửa với các bác, chứ chả kém cạnh gì. Cỡ Lê Duẩn, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc… e cũng chỉ “ngoan cố” và “ngu dốt” đến cỡ đó là cùng. Tuổi trẻ và những năm du học, ngó bộ, không giúp cho các chú đỡ “gù” hơn các bác bao nhiêu. Vậy mà các chú vẫn được coi như những ngôi sao đang lên (rising stars) trên chính trường nước Việt, một đất nước là vô phúc. Thiệt là họa vô đơn chí!
Trump có tâm tính độc tài nhưng nhiều cử tri vẫn ủng hộ tin rằng nền dân chủ Mỹ sẽ tiếp tục đứng vững cho dù có phải chao đảo thêm bốn năm nửa do những quyết định độc đoán của Trump. Cho nên bỏ phiếu cho Trump là cái giá cần phải trả vì Trump chống Tàu và sẽ ngăn chận khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của phe cấp tiến trong đảng Dân Chủ. Điều này chẳng khác gì bán linh hồn cho ác quỷ vì không kẻ nào thương lượng với quỷ dữ trước đó nghĩ rằng mình sẽ suốt đời trở thành nô lệ cho cái ác.
(Lời người dịch: Là một trong những nhân vật cuối cùng còn sót lại của nhóm Big Six, sáu lãnh tụ chính yếu của phong trào dân quyền Hoa Kỳ vào thập niên 60, Dân Biểu John Lewis vừa qua đời vào ngày 17/07/2020 vừa qua, hưởng thọ 80 tuổi. Tốt nghiệp Thần Học và trở thành Mục sư, Dân Biểu John Lewis đã sát cánh cùng Mục Sư Luther King Jr. để trở thành một biểu tượng của phong trào dân quyền và nhân quyền Hoa Kỳ, cũng như là một dân biểu Quốc Hội có tầm ảnh hưởng lớn lao trong suốt hơn 30 năm qua. Tang lễ của ông được tổ chức trang trọng với sự tham dự và phát biểu của các tổng thống tiền nhiệm như Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama. Chúng tôi xin lược dịch bài điếu văn của Tổng Thống Obama đọc trong tang lễ của ông vừa được tổ chức tại thành phố Atlanta, Georgia hồi cuối tuần qua).
Ngày 24/6/2020, Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nêu lên một sự thật phũ phàng là gần nửa thế kỷ qua các chính trị gia cả hai đảng, các nhà khoa bảng, nhà giáo dục, nhà báo, nhà kinh doanh Mỹ đều thụ động và ngây thơ (passivity and naivety) trước Trung cộng. Người Mỹ không biết sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, một tổ chức theo chủ nghĩa Marxist-Leninist, mà Tập Cận Bình là hiện thân của Joseph Stalin.
Giống như hầu hết các nước trên thế giới, Hoa Kỳ đang cố gắng vượt qua trận đại dịch COVID-19 và cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng do lệnh đóng cửa của chính phủ. Tính theo tỷ lệ thường niên, nền kinh tế Mỹ đã giảm 5% trong quý đầu năm 2020 và trong quý hai vừa kết thúc, có thể giảm đến 40%, mức suy sụp mạnh nhất kể từ thời Đại Suy thoái năm 1930. Hơn nữa, hàng chục triệu công nhân đã mất việc, khiến tỷ lệ thất nghiệp trong tháng Tư tăng vọt lên mức cao sau Đại Khủng hoảng là 14,7%. Dù 70% những người bị sa thải hy vọng sẽ được gọi làm việc lại, nhưng không phải tất cả sẽ có việc, vì nhiều doanh nghiệp sẽ sát nhập, di dời hoặc tổ chức lại. Đúng vậy, lúc đầu, sự mở cửa lại của nền kinh tế đã dẫn đến tình trạng phục hồi mạnh mẽ, nó được dự kiến là sẽ tiếp tục trong quý ba. Việc làm đã tăng 2,5 triệu trong tháng Năm, trong khi dữ liệu từ các thẻ tín dụng và theo dõi di động cho tháng Năm và tháng Sáu cho thấy, mức phục hồi khá lớn từ lúc thấp trong tháng Tư, với hoạt động trong
Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã kín đáo bắn tiếng muốn Mỹ nhảy vào giải quyết xung đột ở Biển Đông, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Cộng đã cảnh giác Việt Nam “không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài”. Đề nghị bán chính thức của Việt Nam đưa ra ngày 17/7/2020, bốn ngày sau khi Bộ trưởnng Ngoại giao Mỹ, Mike Pompeo gọi hành động đe dọa các nước nhỏ để chiếm đoạt và mưu toan cướp chủ quyền nguồn tài nguyên ở phần lớn Biển Đông của Trung Quốc là “phi pháp”.
Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ. Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của face booker Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.