Hôm nay,  

Tờ lịch

22/06/201910:43:00(Xem: 5837)

Hồ Thanh Nhã

 

 

                          Tờ lịch

 

Em gởi cho anh tờ lịch năm nay

Nhắc lại ngày nầy năm ngoái

Chuyến xe đêm về phố núi mù sương

Trời trở lạnh trên đỉnh đèo bỏ lại

Đường Hai Mươi trăng trải sáng ven rừng

Xa thật rồi thành phố sau lưng

Về đất núi … nơi bình yên chim hót

Đây Lang Biang

Đỉnh trời cao chót vót

Người Tây ba lô thong thả bước du hành

Anh đưa em về đỉnh núi màu xanh

Cùng dạo bước

Thênh thang trong vùng mây trắng

Mây trắng trong thơ ngày xưa xa vắng

Còn dư âm một thoáng tiếng bên trời

Đà Lạt đây rồi !

Phố nhỏ xa xôi

Đất núi Cao nguyên hoàng triều cương thổ

Tiếng thác đổ

Lưng chừng trời còn đó

Lưng chừng trời con suối chảy quanh quanh

Nhịp cầu treo chênh vênh

Cây đỏ lá trên cành

Anh hỏi em ngày nầy thứ mấy ?

Chút nắng nhẹ vờn trên bờ tóc rối

Thứ mấy ngày nầy hoa nở trắng công viên  ?

Bờ khe nhỏ bên triền

Con chim hót bình yên

Lòng thấy nhẹ như mây trời phiêu bạt

Tháng Giêng cỏ non đồi xa bát ngát

Xanh mượt mà bên sườn núi xanh lơ

Tìm gì trong hẻm núi

Thấy gì trong hoang sơ ?

Hàng thông còn đứng bên bờ quạnh hiu

 

                               *

Đưa em thăm đất hoàng triều

Ngậm ngùi thay cho cuộc đời hưng phế

Nước chảy hoa trôi một thời dâu bể

Dinh thự im lìm mờ nhạt bóng hoàng hôn

Ta nhìn nhau lòng bỗng tự nhiên buồn

Cành lan tím…đong đưa theo đợt gió

Đàn ngựa gặm cỏ non

Bên hồ Than thở

Mây ngàn năm còn bay trắng lưng trời

Thật bình yên

Đàn vịt nước đang bơi

Hồ gợn sóng theo từng cơn gió nhẹ

Anh chợt nhớ như ngày xưa còn bé

Ngủ yên lành

Qua nhịp võng ầu ơ

Tiếng mẹ ru từ một thuở xa mờ

Nhẹ…rất nhẹ đưa con vào giấc mộng

Cám ơn em

Cho năm dài tháng rộng

Biết bao giờ

Trở lại rừng núi hôm nay ?

Những bước chân đi

Từ năm trước ngày nầy

Dấu giày cũ như in trên tờ lịch mới

Nhận tờ lịch năm nay

Lòng vui như mở hội

Năm ngoái ngày nầy vào đêm thứ bảy

Đà Lạt cuối tuần đón khách miền xa

Người hồi hương

Thấy lòng mình trẻ lại

Chào mùa Xuân mai nở rực sân nhà

Tờ lịch năm nay

Vào ngày thứ ba

Tháng Giêng rét đậm xám làn da

Thấy chưa…hơi nước hòa hơi thở ?

Càng lạnh càng thêm nỗi nhớ nhà

 

 

      Nét quyến rũ của thành phố Đà Lạt mộng mơ.

 

Trong không khí miền cao se lạnh, cao nguyên Lang Biang huyền thoại thích hợp cho những hoạt động du lich dả ngoại tham quan ngắm cảnh, cắm trại qua đêm, đi bộ qua những con đường nhựa nhỏ xuyên qua các cánh rừng thông kỳ vĩ.  Từ trên đỉnh núi, xa xa có thể thấy Suối vàng, Suối bạc và toàn cảnh Đà Lạt trên cao với màn sương giăng bao phủ níu chân du khách, không nở rời thành phố mộng mơ.

Với rừng thông bạt ngàn, nhiều hồ nước sông suối, Đà Lạt sở hữu một loại khí hậu tuyệt vời. Buổi sáng sớm là thời tiết mùa Xuân, buổi trưa mùa Hạ, buổi chiều mùa Thu và đêm là mùa Đông.  Do đó du lịch Đà Lạt thì lúc nào cũng mát dịu, nên thơ.  Hoa được trồng khắp nơi ờ thành phố mộng mơ nầy. Hoa nở trên dọc theo hai bên đường từ sân bay Liên Khương về trung tâm thành phố.  Hoa mọc đầy theo các sườn đồi, các con đường dốc dẫn đến những khu vực ngoại ô, làng xã ven thành phố.  Thiên nhiên ưu đãi Đà Lạt với khí hậu ôn hòa, thiên đường của nhiều loài hoa.  Người Đà Lạt từ lâu vẫn giữ thói quen đẹp là người người trồng hoa, nhà nhà trồng hoa.  Bước ra khỏi cửa khách sạn là thấy hoa ở khắp nơi, trong ngõ, ngoài phố.  Tất cả những hình ảnh đó đã tạo nhiều ấn tương tốt trong lòng du khách, đã tới nơi rồi thì không nỡ rời thành phố sương mù nầy.  Sau đây xin mời quí vị độc giả đọc tiếp một bài thơ khác của tác giả :

 

 

                              Hồng hạc

 

Hồng hạc bay về núi

Sương lam kín bóng chiều

Em về chi quá vội ?

Quên cái nhìn gởi theo

 

Hạt sương đầu ngọn cỏ

Ngại ngùng cơn gió qua

Tiếng hạc rền trong gió

Bàng bạc bóng chiều xa

 

Một lần tìm về nhà

Vườn xưa giờ thấy lạ

Giọt mưa còn trên lá

Cuộc tình đã bay xa

 

Em là chim hồng hạc

Nghỉ cánh bờ đá xanh

Vụng về chim bay mất

Bên cõi đời mong manh

 

Mai kia về cố quán

Chập chùng mây trắng bay

Đường đời chia mấy đoạn

Lấy gì cho nhau đây ?

 

Hồ Thanh Nhã    

 

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.