Hôm nay,  

Thước Đo

16/11/201900:00:00(Xem: 10894)

Căn nhà tịch mịch vô cùng, tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên tường nghe như tiếng nhắc nhở vô hình vọng laị. Cô Hoa thắp nén nhang trên bàn thờ  gia tiên xong lui laị tràng kỷ, giọng nhỏ nhẹ đượm buồn:

 - Uống hoài vậy sao con?

 Đạt lặng lẽ không trả lời, ngồi yên đối diện bên tràng kỷ, mắt nhìn xa xăm dịu vợi, nét mặt không vui cũng chẳng buồn… Dường như lạc vào một thế giới nào đó xa rời với hiện taị. Đạt uống như hũ hèm, tửu lưọng không thằng bạn nào sánh nổi, càng uống càng lặng lẽ và tỉnh hơn, uống bao nhiêu đi nữa gương mặt cũng chỉ ửng hồng , đôi mắt vốn long lanh laị sáng thêm ra, trong khi những người bạn: Tùng, Hải, Thái… thì lờ đờ buồn ngủ, đứa thì mặt đỏ gay như gà cồ đá. Đạt uống từ những năm cuối cấp, tuy nhiên lúc ấy chỉ uống chơi chơi thôi, từ khi Hạnh Đoan lấy chồng thì Đạt thành con sâu rượu. Đạt yêu Hạnh Đoan bằng cả tâm hồn. Hạnh Đoan cũng yêu Đạt lắm, nhưng sự đời nhiều nỗi cay nghiệt. Ba Hạnh Đoan muốn gả con gái cho người mà ông ta chọn, tất nhiên người ấy giàu và có địa vị trong xã hội.

 - Con phải lấy thằng Khanh, không có yêu đương gì cả! con phải bỏ thằng Đạt, thằng đó con sĩ quan ngụy, nghèo mạt rệp, lấy nó về thì cạp đất mà ăn à?

 Hạnh Đoan khóc lóc van xin, thậm chí toan tự tử ấy thế mà không thể lay chuyển được ông Khải, người cha sắt đá đã từng hai mươi năm cầm súng, ôm bom, cài lựa đạn…Cuối cùng Hạnh Đoan phải gạt nước mắt mà lấy người mình không hề thương yêu.

 Đạt hiểu hoàn cảnh của Hạnh Đoan, thông cảm cho Hạnh Đoan. Đạt thố lộ với bạn bè:” Ở vào hoàn cảnh ấy thì ai cũng phải vậy thôi!”

 Ba Đạt là chuẩn tướng của chế độ Sài Gòn. Ông đi cải tạo và chết trong tù, ngày ông đi người ta bảo chỉ hai tuần là về, thế nhưng sau hai tháng không thấy, rồi hai năm cũng bặt tăm và cuối cùng thành án mười năm, chưa đủ mười năm thì người ta bảo mẹ Đạt lên trại nhận xác chồng. Mẹ Đạt, một mình nuôi sáu đứa con nheo nhóc, cuộc sống túng thiếu thậm chí có lúc đói. Ngôi nhà mà cả gia đình đang ở vốn là dinh ông phủ Viễn, nội của Đạt. Ngày trước nó uy nghi, to đẹp lắm nhưng từ sau khi ba Đạt đi tù thì nó tàn tạ theo thời gian, tường vôi bong tróc, cữa sổ rụng rời, đồ đạc bán dần để sống qua ngày… giờ trống huơ trống hoác, duy có bộ trường kỷ là còn giữ được mà thôi. Đạt thi đậu đaị học cùng nhóm bạn, những người kia lên sài Gòn học. Riêng Đạt không được đi học, chính quyền địa phương không cắt hộ khẩu, không cho đi học. Từ đó Đạt càng chán đời, tiếp đến Hạnh Đoan lấy chồng thì Đạt suy sụp hoàn toàn, chìm sâu vào men rượu. Bạn bè cũng dần lảng tránh:

 - Người gì cứ say xỉn suốt ngày, người mà không có chí tiến thủ thì làm sao phát triển?

 Chỉ riêng có Tâm là thân thiết với Đạt. Tâm là thằng không biết uống mà laị chơi thân với một thằng hũ chìm, kể cũng mắc cười thật! Có lần Đạt nhè nhè hơi men hỏi:

 - Ai cũng né tớ, cậu không ngại sao mà laị chơi với tớ?

Tâm bảo:

 - Nếu ngại thì tớ đâu có chơi với cậu!

 Đạt quờ quạng ôm lấy Tâm khóc:

 - Tớ thương và nhớ Hạnh đoan, đời này coi như bỏ, không biết kiếp sau có còn gặp laị?

 - Cậu không cần phải tự làm khổ mình như thế, hãy tỉnh laị và sống như mọi người. Cậu là con trai trưởng, dưới cậu còn năm đứa em. Cậu không thể vì một đứa con gái mà bỏ mặc mẹ và em mình như thế!  Tâm hơi sẵng gịong

 - Tớ biết- Đạt thầm thì

 - Cậu biết mà không chịu thay đổi thì biết cũng như không! Tâm cả quyết

 Đạt không nói gì, Tâm biết chắc không thể noí gì hay làm gì được hơn nữa, lòng thấy thương bạn pha lẫn chút tức giận:” Người gì mà say xỉn suốt, sống không tương lai, không mục đích.” Dù có giận bạn nhưng Tâm vẫn không bỏ bạn mình.

 Hạnh Đoan lấy chồng rồi theo chồng lên Sài Gòn nhưng tâm hồn của Hạnh Đoan chỉ có Đạt thôi. Hạnh Đoan nhẫn nhục sống, an phận với vai trò làm vợ của mình, cuộc sống vật chất phủ phê. Chồng Hạnh Đoan là giám đốc một doanh nghiệp lớn. Anh ta  cũng tử tế với Hạnh Đoan nhưng không hề biết nỗi đau khổ của vợ mình và có lẽ cũng không quan tâm đến tâm sự của Hạnh Đoan, đôi khi vậy mà laị hoá hay. Những lần Hạnh Đoan từ Sài Gòn về thì hai đứa laị gặp nhau. Đạt thì như con hổ đói. Hạnh Đoan như chim sổ lồng. Cuộc tình nồng rực lửa trong một thời gian ngắn mà họ có được. Dân quanh bờ hồ của thị xã ai ai cũng biết cả. Ông Khải, ba Hạnh Đoan cũng loáng thoáng biết nhưng giả tảng làm lơ. Cô Hoa, mẹ Đạt vốn buồn laị càng buồn hơn:

 - Con phải tính chứ sống vậy sao được con?

 Cô Hoa rất hiền và thương con hết mực, nay đã có tuổi nhưng nét đẹp sang trọng, quý phái vẫn còn phảng phất. Cô Hoa về làm dâu ông nhà ông phủ Viễn, làm vợ ông chuẩn tướng nào phải là hạng thường.  Chồng chết trong tù, địa phương kỳ thị, o ép gia đình sĩ quan ngụy đủ điều, cuộc sống tưởng chừng như chạm đáy đời. Sau này những sĩ quan và người cộng tác với chế độ Sài Gòn phần lớn đều được xuất cảnh diện H.O hoặc ODP cả. Có người đi vài năm trở về xênh xang lắm, quần áo se sua, ăn nhậu tưng bừng và nổ banh nhà lồng luôn. Ba Đạt ở tù mười năm, dư tiêu chuẩn để đi nhưng không hiểu sao mẹ Đạt không làm giấy để đi. Nhiều lúc Tâm muốn hỏi nhưng ngaị chạm nỗi đau của cô nên thôí.

 Tâm vốn người miệt ngoài, xa lơ xa lắc ấy vậy mà laị mang đậm tính cách của người miền sông nước này. Gia đình Tâm vào đây sinh sống và ở gần nhà của Đạt, từ đó hai đứa mới đi học chung và thành bạn tới bây giờ. Năm rồi Tâm theo ba về ngoài quê lo chuyện đất đai và mồ mả tổ tiên trong ba tháng. Mới có một tháng mà Tâm nhớ Đạt nên viết thư:

 “Đạt thân mến!

  Tớ về quê mới có một tháng mà nhớ cậu quá. Tớ với cậu là bạn thân, có thể noí là thân nhất so với mấy người bạn kia. Tớ nhiều lần khuyên cậu bỏ rượu, tớ laỉ nhải hoài có làm cậu bực mình không? Tớ với cậu đều là những kẻ hậu đậu, lận đận trong đời. Cả hai không có khả năng cạnh tranh và cũng chẳng cạnh tranh nổi trong cuộc đời này! Trong tình yêu cũng như tình bạn, người ta thường lấy những giá trị: tiếng tăm, tiền bạc, gia thế, quan hệ làm ăn… làm thước đo mà hành xử. Tớ với cậu có lẽ là những kẻ thuộc loaị thiểu số coi khinh cái loại thước đo này, cũng vì thế mà chúng ta thành những kẻ lạ, những kẻ khác đời và lạc loài trong đời. Dù thế naò đi nữa tớ cũng không hối hận về những gì mình đã quyết định. Tớ nghĩ, cậu nên quên Hạnh Đoan đi, dù gì cô ấy cũng đã có chồng. Đừng gặp cô ấy nữa, nếu lỡ chồng cô ta biết thì có phải thêm khổ đau cho cô ta không? Cậu không thể sống mãi trong cái quá khứ với những kỷ niệm ấy nữa. Cuộc sống muôn màu, thời gian thay đổi mỗi phút giây, hãy sống với hiện taị, hãy sống có trách nhiệm với mẹ và đàn em của mình!

 Tớ có vài lời thật lòng, mong bạn đừng giận!

 Tâm

 Bạn của cậu”

Không biết Đạt tâm sự hay đưa thư này cho hạnh Đoan mà cô ấy nhắn tin cho Tâm: “ Cảm ơn anh Tâm, anh là người bạn thân nhất của anh Đạt và cũng là của em vậy! Mong anh gần gũi và nhắc nhở anh Đạt. Anh ấy uống hoài thì ruột gan nào chịu nổi. Hai đứa em bạc phước, không lấy được nhau nhưng lòng vẫn hướng về nhau. Em không biết dùng từ ngữ nào nữa ngoài hai chữ khổ đau! một lần nữa em cảm ơn anh đã quan tâm đến anh Đạt và em.”

 Rồi nhơn duyên đến, Tâm theo gia đình xuất cảnh, tiệc chia tay ai cũng vui vẻ nâng ly chúc mừng, ai cũng bảo sớm hoà nhập và thành công ở đất mới. Đạt lặng lẽ khkông noí gì, chỉ tì tì uống. Bạn bè không ai để ý và cũng không biết gì nhưng Tâm biết và đọc được tâm trạng của Đạt. Cậu ấy mất người yêu, giờ người bạn thân, chỗ tâm sự cũng sắp ra đi, thử hỏi ai không buồn? ngày ra sân bay không thấy Đạt tiễn đưa. Tâm thoáng buồn nhưng hiểu được tâm sự của Đạt. Cậu ấy sợ bịn rịn cầm lòng không đặng nên tránh mặt!

 Thời gian đầu cũng có thơ từ qua laị nhưng cuộc sống quá bận rộn nên thưa thớt dần, bẵng đi một thời gian thì mất liên lạc luôn. Chỉ một thoáng thôi mà đã mười lăm năm trôi qua, mười lăm năm như cơn say, như giấc ngủ chập chờn mộng mị.

 Thế rồi thời đaị hôm nay tân tiến quá, mạng NET nối mọi người trên thế gian laị với nhau. Một lần lên mạng, tình cờ gặp laị Hạnh Đoan. Tâm mừng rỡ biết bao, Hạnh Đoan cũng thế, hai người tâm sự suốt mất giờ liền. Hạnh Đoan cho hay:

 - Đạt chết rồi, anh ấy bị ung thư gan. Hai năm trước anh ấy kêu đau bụng, cô Hoa và mấy em chở vào nhà thương, sau khi xét nghiệm bác sĩ bảo: gan anh ấy tiêu tùng hết rồi!

 Tâm nghe lòng mình đau nhói, không ngờ mười lăm năm vô tình mà giờ thành vĩnh viễn. Tâm tự trách mình sao quá vô tình, bất chợt hai giọt nước mắt tự động rơi. Thế là Đạt đã ra đi mãi mãi! Tâm thẫn thờ, quên mình đang noí chuyện với Hạnh Đoan. Đến khi Hạnh Đoan hỏi:”Anh còn trên mạng không? Tâm mới giật mình và trở laị chuyện trò với Hạnh Đoan.

 - Anh Đạt tỉnh táo đến giây phút cuối cùng, lúc sắp chết còn nhắc tên anh.

 Tâm thấy lòng mình đau quá và hối hận vì bao năm tháng ấy đã lơ là với bạn. Tâm cũng có chút an ủi vì người bạn thân lúc sắp chết còn nhớ đến mình! Hạnh Đoan laị tiếp: “ Sau hai năm, kể từ ngày Đạt chết. Cô Hoa dường như lặng lẽ suốt ngày và hay ngồi ở trường kỷ, chỗ mà khi mỗi lần uống về Đạt vẫn ngồi.” cô Hoa có lần hỏi thăm anh:

 - Không biết thằng Tâm giờ lưu lạc chốn nào?

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, 7/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1991 tới 1996, tôi theo học đại học ngoại ngữ ở Tokyo. Sau đó, 1992-93, tôi qua học tiếng Việt ở Sài Gòn. Ngày đó những người ở SG rất dễ thương
Người Việt Được Cứu Giúp Sau Ngày Saigon Thất Thủ Tỏ Lòng Cảm Ơn Nước Mỹ Bằng Tượng Đài Ở Đảo Guam
Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm : 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xãy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792.
Lá cờ đỏ sao vàng, rõ ràng, không được người Việt nước ngoài chấp nhận.
Trong Thế Giới Phật Giáo Miến điện có ngôi chùa Swedagon cao nhứt Thế Giới, và một Quển sách Lớn nhứt Thế Giới.
Nói đến công tác dò mìn, ai ai cũng đểu nghĩ rằng đây là một công việc rất khó khăn và nguy hiểm chỉ dành riêng cho,những ,người đã từng được huấn luyện am tường rành rẽ,và tháo vát về khoa học, kỹ thuật tháo gỡ chất nổ để làm thế nào có thể hóa giải một trái mìn không nổ mà không an nguy đến tính mạng của mình nên được gọi danh xưng là Chuyên viên chất nổ, ngoài ra còn phối hợp thêm cây dò mìn liên hệ để định vị được trái mìn ở đâu.hầu dễ dàng trong công việc Vậy mà đôi khi chính Chuyên viên chất nổ còn phải gánh chịu hậu quả vô cùng thảm khốc“ sinh nghề tử nghiệp” là chuyện thường tình trong công tác đầy khó khăn và nguy hiểm này.
* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!” “ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.” - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.
Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai? (Vũ Hoàng Chương)
Hoàng Tử Siddhartha Gautama sinh ra và lớn lên tại thành Catilavệ. Ban đầu, Ngài có một cuộc sống xa hoa trong cung điện, không biết gì về những đau khổ và bệnh tật. Tuy nhiên, một lần Ông trốn ra ngoại thành, Ông chứng kiến sự đau khổ giẫy giụa và đầy hối hận. Một số câu hỏi hình thành trong tâm trí của Ông nên Ông muốn tìm một câu trả lời. Trong một đêm thanh vắng, Ông từ giã cung điện vào rừng tìm chân lý, về sau người ta tìm được nhiều chứng tích xác thật cho thấy Ông lên núi Pragbodhi mà bây giời gọi là Dunheswara. Ông ở trong một hang động bây giờ gọi là Pragbodhi Cave (Khổ Hạnh Lâm). Ông sống ở đây sáu năm để tu khổ hạnh. Sau sáu năm tu khổ hạnh Ông nhận thấy tu khổ hạnh không đưa đến Giác Ngộ, Ông rời nơi này đi qua (Bodh Gaya) Bồ Đề Đạo Tràng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.