Hôm nay,  

Mỗ

21/11/201900:00:00(Xem: 6609)

 Ngấp nghé bước lên hàng năm, mắt nhiều vết chân chim, da cổ chùng, da bụng nhão… Mỗ cảm nhận cái già đã hiện tướng, cái vô thường đã lãng đãng… nên phát tâm tu học đặng kiếm chút phước huệ về sau. Ban đầu Mỗ cũng bố thí, ăn chay, đi chùa… một sự cố gắng phi thường, vì xưa nay Mỗ chỉ ăn nhậu chơi bời thả giàn, giờ chịu giảm bớt hưởng lạc để cho đi; việc ăn chay kể cũng khá vất vả. Mỗ than:

 - Trời, sao mấy ông thầy giỏi quá! đồ chay nhạt nhẽo, ăn cứ như bò nhai rơm, đã vậy còn mau đói bụng thấy mồ!

 Nói thì nói vậy, nhưng Mỗ quyết tâm ăn chay vào những ngày vía trong tháng. Nhiều lúc Mỗ mong sao cho những ngày ấy qua nhanh một chút:

 - Những ngày vía thời gian sao trôi chậm thế? có hai mấy tiếng mà sao dài dễ sợ.

 Vợ Mỗ trêu:

 - Anh ăn chay ngày viá mà còn mong cho qua mau, vậy là chưa chứng quả đâu! ráng cố gắng đi, mai kia còn phước thì laị làm quan tiếp!

 Con gái lớn của Mỗ cười ngặt nghẽo:

 - Mẹ ráng tu theo ba, nếu không ba có phước nhiều, kiếp sau laị làm ông lớn. Mấy con nhỏ chân dài nó đu theo là mẹ thua đó.

 Mỗ thấy người mình rất quý kinh Pháp Hoa nên cũng tụng theo. Ngày đầu được mươi trang là đuối, thở hổn hển, mồ hôi ướt cả mặt và lưng áo. Mỗ cố gắng lắm nhưng cái thân ngũ tuần không còn dễ dàng điều khiển theo ý nữa: Bụng thì phinh phính, ngồi rất khó khăn; còn khớp gối cứng đơ không sao xếp bằng được, chỉ mươi phút là phải đổi tư thế, khi thì quỳ, lúc thì quặt ra sau…Quả thật khó khăn để bắt đầu ở cái lứa tuổi này! Nhưng phải công nhận Mỗ thật sự quyết tâm, sau một thời gian thì Mỗ cũng tụng xong bộ Pháp Hoa. Mỗ thú thật không hiểu gì mấy, miệng lẩm bẩm:

 - Thầy dạy, tu học phải dùng lý trí chứ không dùng cảm tình, sao Bồ tát Thường Bất Khinh ngớ ngẩn thế? sao cứ suốt ngày đi bái người ta chi cho họ giận dữ đến độ chửi mắng và đánh đập, thế thì vô tình làm cho người ta tạo nghiệp xấu. Bồ tát phải biết điều này chứ! Rồi còn tháp của Phật Đa Bảo, bay lơ lửng trên không trung, sao giống như tháp của Lý Thiên Vương trong Tây Du Ký thế!

 Mỗ cố công tìm hiểu, phân tích, chia chẻ… nhưng càng nghĩ thì càng thấy rối trí, một hôm Mỗ lên chùa lễ Phật và thăm hoà thượng đã truyền giới. Hoà thượng hỏi thăm thì Mỗ thật thà thưa:

 - Con bỏ công sức làm việc thiện thì thấy cũng dễ, duy có việc tụng kinh sao khó quá, có lẽ do thâm sâu và cao siêu quá nên con không thông, dù có tụng qua nhưng như nước đổ lá môn.

 Hoà thượng trầm ngâm một lúc rồi bảo:

 - Lỗi một phần tại ta, Phật pháp như biển cả, kinh điển nhiều như núi, căn cơ mỗi người mỗi khác…Ấy vậy mà ta cứ bảo chung chung, cho nên Phật tử chẳng nắm được cái cốt lõi của giáo lý, cũng như không biết cái căn bản của việc tu học. Chả trách các Phật tử hiểu đạo lơ mơ lắm, trong khi các tín đồ của đạo khác họ nắm vững giáo lý của họ! Việc này kéo dài đã lâu, càng ngày càng tệ. Bây giờ các Phật tử đến chùa chỉ chăm chăm cầu siêu, cầu an, dâng sớ, giải hạn…Những người khá hơn chút thì tụng thời kinh, đốt nén nhang, bỏ ít tiền vào thùng phước sương… thế là xong! Mấy ông thầy danh văn lợi dưỡng, mượn đạo tạo đời và mấy ông thầy dựa quyền lực thế tục, xu phụ quyền thế…Cũng chỉ mong thế thôi! Bọn họ đang ngày đêm phá hoại chánh pháp, chăm chăm xây chùa to Phật lớn để thoã mãn cái hiếu kỳ của người ta, nhằm mục đích làm du lịch chứ nào phải để tu. Thứ nữa là để tô vẽ cho bộ mặt của quan quyền. Sư tử trùng cấy khắp nơi, từ cao đến thấp, từ xa đến gần; nhân danh Phật sự nhưng làm việc ma!

 Thầy nói một hơi rồi ngưng, hình như thấy mình hơi vô lý khi không xổ cả tâm tư với Mỗ nên nói:

 - Ta lan man quá, đi lạc đề mất, giờ quay laị chuyện của anh nhé! Với người khác thì ta không nói làm gì, nhưng anh đã quy y và thọ giới với ta thì ta phải có trách nhiệm. Ta nói với anh một lời này: Khi con người ta có quyền thế trong tay thì dễ tạo nghiệp xấu lắm, chỉ vì chút danh lợi, địa vị mà họ sẵn sàng haị người, haị vật… để giữ lấy cái vị trí của mình với bất cứ giá nào. Anh đã quy y, đã là Phật tử thì hãy nhớ lấy: Danh lợi chỉ một thời nhưng hậu hoạ của nghiệp xấu thì vĩnh kiếp, đừng vì chút danh lợi mà phải trả giá về sau. Việc học Phật của anh cứ theo chỉ dẫn này nhé! Anh về nhà, lúc rảnh rỗi pha một bình trà và đọc cuốn sách mỏng này “ Phật Pháp Căn Bản”. Anh hãy đọc thật chậm, thật kỹ để hiểu tại sao Phật dạy đời là khổ, nguyên nhân của khổ, cách hết khổ, con đường đi đến hết khổ. Anh phải biết căn bản về những gì gọi là chân chánh của sự thấy biết, suy nghĩ, nói năng, hành động, sanh kế, cố gắng, niệm, định…Sau đó, hằng ngày tụng kinh ít laị, dành thời gian ngồi lắng tâm, lắng hơi thở, tưởng nhớ Phật ( về hình tướng và những đức tính), quán xét hành vi và tâm tư của mình.

 Sau đó thầy đưa cho Mỗ những bản kinh ngắn như: kinh Hạnh Phúc, Châu báu, Nghiệp… và bảo:

 - Anh về làm theo chỉ dẫn của tôi và tụng những bản kinh này, sau vài tháng hoặc khi nào cảm thấy có sự thay đổi từ tâm đến hành thì lên cho tôi biết.

 Mỗ về và làm theo lời hoà thượng, một thời gian sau thì Mỗ thấy khá thoải mái, không còn khó khăn như lúc đầu. Một ngày nọ Mỗ lên chùa khoe với hoà thượng:

 - Những bản kinh ngắn thầy đưa hôm nọ, con thuộc hết rồi. Kinh văn ngắn, lời lẽ dễ hiểu, dễ đọc tụng và dễ thực hành. Những bản kinh ấy khác với Pháp Hoa hay Bát Nhã… quá đồ sộ và thâm sâu khó hiểu..Sau khi tụng thuộc lòng, ngày ngày con đều tụng cả. Con cảm nhận sự an lạc, thâm tâm nhẹ nhõm rất nhiều, nhìn vật nhìn người rõ ràng hơn; có thể buông được ít nhiều những thứ mà trước kia cứ ôm đồm bám víu… Nhưng giờ thì laị có một vấn đề khác xảy ra. Gần đây có người bảo con lẫn lộn giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. Họ còn bảo: đi bên nào thì đi một bên, chứ đi hai bên thì sẽ không đi được! giữa hai bên có nhiều khác biệt, cần phải chọn một!

 Hoà thượng cười hoan hỷ:

 - Vậy thì dễ, chẳng có chi là vấn đề cả! Anh cứ thế mà làm, anh đã có được chút pháp hỷ thì hãy giữ gìn và làm cho nó tăng trưởng, đừng dừng laị, mỗi ngày một chút, mỗi đời một chút…Lâu dần cũng sẽ có lúc ngộ. Còn việc người ta nói thế nào đó thì mặc kệ họ. Anh không thể xây lâu đài mà không có nền móng, còn nếu như anh chỉ có nền móng không thì cũng chẳng tới đâu! Anh cứ vững tâm mà tiến bước, nếu ai còn nói nữa thì anh bảo với họ rằng: Tôi chẳng biết nhỏ hay lớn chi cả, tôi chỉ tu theo giải thoát thừa mà thôi!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 8/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.