Hôm nay,  

Nước Lên

24/10/202015:20:00(Xem: 10084)

 

Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm. Nước lũ ngầu đục từ non cao đổ về, từ các đập thủy điện xả xuống, đẩy những dòng cuồng lưu ồ ạt đi về nơi trũng thấp, theo những nhánh sông hướng ra biển, chựng lại khi gặp mực biển dâng cao với cường triều gầm thét, sông nối biển biến vùng duyên hải thành một biển nước mênh mông.

Trong dòng nước ngầu đục, đã có trên trăm người thiệt mạng và mấy chục người còn mất tích; của cải, gia súc bị nhận chìm hoặc cuốn trôi. Dù đã được cảnh báo trước sẽ có lũ lụt lớn, nhiều gia đình vẫn không lường được sức nước khủng khiếp chưa từng có như vậy; hoặc cũng vì không biết phải lánh nạn ở đâu khi toàn vùng ngập tràn nước. Có thai phụ bị cuốn theo dòng lũ khi thuyền lật. Có cụ già mù trên chín mươi chẳng biết chạy đi đâu khi nước đến. Có gia đình không kịp chôn cất mẹ vừa mất khi lũ đến, phải treo quan tài mẹ lên trần nhà năm ngày mới có thuyền đến cứu hộ, đem chôn. Có bà cụ một mình ngồi trên những bao lúa chất cao, nhịn đói, thức trắng nhìn nước dâng từng giờ, không biết kêu cứu ai. Có người mẹ nằm bên cạnh xác hai con thơ chết đuối trong trận lụt, vuốt má ru con, lệ tràn. Có bà cụ vừa lo cho chồng bại liệt, vừa lo cho con bị hội chứng Down khi nước ngập nửa nhà mới kịp có ghe đến cứu. Có gia đình với đàn con nheo nhóc không kịp di tản, đành ôm nhau trên nóc nhà khóc la thảm thiết. Có bé thơ mếu máo khóc khi tìm ra sách vở học của mình ướt mem rách nát trong vũng sình. Có những dòng tin nhắn qua điện thoại, kêu cứu khẩn cấp, tuyệt vọng. Nhà nhà, nước ngập đến tận mái, đoàn cứu hộ biết đâu mà tìm.

Rồi hoang tàn để lại sau những trận lũ. Lềnh bềnh trên những vũng nước đọng và sình lầy hôi thối là xác gia súc gia cầm, cây rừng, gỗ mục, những bao lúa thóc, và tất cả vật dụng, bàn ghế, tủ thờ, quần áo, sách vở... của hàng trăm nghìn gia đình, phơi bày lên đó. Xác người được tìm lại và đã đem chôn, nhưng vẫn còn một số mất tích, không biết tìm ở đâu nơi bờ sông, khe suối lình xình nước đục. Vội vàng tìm về nhà xưa, những người già người trẻ mắt trũng sâu, thất thần, vô vọng. Cha mẹ tôi đâu, tuổi già sức yếu chắc không thể chống nổi dòng cuồng lưu vô tình phăng phăng đêm qua. Chồng tôi đâu, vợ tôi đâu, con thơ tôi đâu, có ai vớt được không khi nước lũ cuốn qua căn nhà xiêu vẹo này!

Sau một tuần mưa đổ ngày đêm, ngập lụt cùng khắp, rồi nước cũng rút dần. Nước rút về đâu? – Về nơi thấp nhất. Đổ về biển, hoặc thấm vào lòng đất. Nhưng nước mắt của khổ đau mất mát thì lăn mãi vào tận tim can.

 

Nước luôn đổ về nơi thấp trong khi lửa thì bốc lên cao. Nước hay lửa đều hữu dụng, không thể thiếu trong cuộc đời. Nhưng khi bạo phát thì trở thành tai họa.

Khóc thương dân tình khổ lụy, ở bờ này hay bờ kia. Buồn vời vợi, hận mình bất tài vô lực trước thiên tai, nhân họa ngút ngàn. Nhìn thế nước dâng, không khỏi nhớ về Nguyễn Trãi (1380 – 1442) với bài thơ ưu tư về vận nước:

Quan hải

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền

Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên

Phúc chu thủy tín dân do thủy

Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên

Họa phúc hữu môi phi nhất nhật

Anh hùng di hận kỷ thiên niên

Càn khôn kim cổ vô cùng ý

Khước tại thương lang viễn thụ yên.

 

Đóng cửa biển

Trước sóng biển, đóng cọc gỗ hết lớp này đến lớp khác,

Lại đặt ngầm xích sắt dưới sông, đều uổng công thôi!

Bị lật thuyền mới biết dân như nước,

Đã cậy thế hiểm thì khó tựa mệnh trời.

Họa phúc có duyên đâu phải chợt đến trong ngày,

Anh hùng đành lưu hận mấy nghìn năm.

Ý vô cùng của thiên địa xưa nay,

Hiện ra nơi sương khói trên hàng cây xa bên dòng nước.

(Lê Tư dịch nghĩa)

 

Đào Duy Anh dịch thơ như sau:

Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,

Khoá sông xích sắt cũng vầy thôi.

Lật thuyền mới rõ dân như nước,

Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.

Hoạ phúc gây mầm không một chốc,

Anh hùng để hận mấy trăm đời.

Vô cùng trời đất gương kim cổ,

Cây khói xa mù bát ngát khơi.

 

Lũ lụt trong thực tế là tai họa giáng xuống lương dân. Thế nước dâng trong chính trị là tai họa cho kẻ cầm quyền. Nước nâng thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền (1). Ý dân một khi đã tụ lại và thịnh nộ dâng lên như nước lũ thì sẽ không thuyền nào an toàn chèo chống. Đặt mình vào tình huống khó khăn để cảm cái khổ của người. Lòng thương luôn sẵn có nhưng cơ hội để bộc phát không phải là từng ngày. Hiểm họa của đời sống cũng không phải đột nhiên mà đến. Việc thịnh suy ở đời luôn có căn nguyên của nó. Cần học cách ứng xử thế nào khi tai họa đến với người khác, vì ngày nào đó có thể sẽ đến lượt mình. Khổ đau sẽ không chừa một ai. Giữ tâm lắng đọng như mặt nước hồ thu. Gạn lọc những cáu bẩn thường làm nhiễm ô dòng nước. Lắng tâm như lắng nước, đừng để sóng động. Rồi nước sẽ yên tĩnh, và bình an sẽ đến với muôn người.

 

California, ngày 24 tháng 10 năm 2020

 Vĩnh Hảo

www.vinhhao.info

 

_________

 

 

 

(1)  Theo Lê Tư, trang Nghiên Cứu Lịch Sử, “Khổng tử gia ngữ: “Phù quân giả, chu dã; thứ nhân giả, thủy dã. Thủy sở dĩ tải chu, diệc sở dĩ phúc chu.” Vua là thuyền, dân là nước. Nước để chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền (dẫn theo Trần Trọng Dương). Thiên “Vương chế,” sách Tuân tử có câu tương tự: “Quân giả, chu dã, thứ nhân giả, thủy dã; thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu.” Vua là thuyền, thứ nhân như nước; nước chở thuyền, cũng làm lật thuyền. Tuân tử (313 – 238 trước Tây lịch) không nhận lời này của ông mà nói rằng trích xuất từ “Truyện,” tác phẩm giải nghĩa kinh có trước đó.” (trích chú thích số 104, bài ‘Nguyễn Trãi, bề tôi của bốn dòng vua’: https://nghiencuulichsu.com/2018/01/18/nguyen-trai-be-toi-cua-bon-dong-vua/)


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau khi Saigon sụp đổ, CS cưỡng chiếm hoàn toàn miền Nam VN, ai nấy đều nghĩ rằng Saigon sẽ không tránh khỏi một cụộc tắm máu theo như lời nhận định của một số báo chí ngoại quốc lúc bấy giờ bởi.vì khi họ liên tưởng đến thời điểm CS tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 , CS chỉ mới tạm chiếm thành phố Huế có 1 thời gian ngắn ngủi mà chúng đã để lại biết bao niềm đau thương mất mất cho người dân Huế vô tội với những mồ chôn tập thể rải rác khắp mọi nơi .
Sujata Garth là ái nữ của ông Thôn Trưởng làng Bakraur(Sujata-Kuti) gần Buddhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Nhà của Cô ở phía bắc con sông Niranjana. Làng này ngày xưa mang nhiều tên khác nhau như: Sujata Kutti, Sulatagarth và Sujata Quila, tất cả đều đặt theo tên Sujata con gái của ông thôn trưởng. Bên sông Niranjana có cây cổ thụ, tàng cây rộng lớn che bống mát quanh năm, dân làng sùng kính như thần linh, dân làng thường đem hoa quả cúng bái, đem bình sửa rưới chung quanh để vun xới gốc rể cây cổ thụ.
biên soạn quyển sách này không những chỉ để đưa lên tiếng nói của những người Việt Nam thuộc Đệ Nhị Cộng Hoà trước khi bị tắt hẳn, nhưng cũng để cho người Mỹ có cơ hội cuối cùng, sau gần nửa thế kỷ, để hiểu rõ hơn
Chuyến công tác tại Mimasaka chỉ là một hành động khởi đầu trong xâu chuỗi công tác giải nọc độc Cộng Sản cho các chính giới tại Nhật Bản . Việc làm lâu dài này cần sự kiên trì của cộng đồng người Việt trên thế giới .
Từ một thực tại linh động, từ cái mà chị gọi là “bức tranh sắc mầu cuộc sống,” chị đã nâng niu nuôi nấng cảm xúc rồi phó thác nó vào chiêm bao thơ mộng
Nữ Nghị Viên Garden Grove Thu Hà cho hay rằng buổi hội thảo chia làm 3 phần nói về quá khứ, hiện tại và tương lai. Quá khứ là lịch sử Việt Nam, hiện tại là các hoạt động của giới trẻ và tương lai mà các em muốn thấy là gì.
Giáo hội này do Ahn Sahng-hong sáng lập năm 1964 và được tiếp nối bởi Kim Joo-cheol và Jang Gil-ja vào năm 1985. Giáo hội này đã bị Hội Đồng Toàn Quốc của các Hội Thánh tại Hàn Quốc lên án là “phạm thương, dị giáo và cuồng giáo”
Nguy cơ rối loạn dòng chảy hạ lưu là có thật và có thể nhìn tử thượng nguồn... với thời gian có thể đưa tới một tiến trình đảo ngược, một Đồng Bằng Sông Cửu Long / ĐBSCL còn non trẻ có thể từ từ tan rã.
Nếu TQ tấn công Đài Loan, VN có thể lợi dụng cơ hội, tái chiếm Đảo Ba Bình- lớn nhất ở Trường Sa mà Tưởng Giới Thạch đã cưỡng chiếm từ tay Miền Nam vào năm 1956. Sau Đệ II Thế Chiến, mọi cuộc khủng hoảng chính trị đều giải quyết bằng chiến tranh chứ không thương thảo như cuộc chiến Kosovo, A Phú Hãn, Iraq, Libya, Ukraina, Syria và ngày nay có thể là Đài Loan
43 năm nay, nếu có chút thông minh thì người Việt có lẽ đã không còn cái trò hề vênh-váo-thắng hay ủy-mị-than-khóc-thua, để mà dồn hết sức lực tìm cách xây dựng lại ngay trên những đổ nát, yếu kém của mình, và bảo vệ những gì cha ông để lại?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.