Hôm nay,  

Mây…

03/06/200500:00:00(Xem: 12091)
Không định tọa thiền mà tôi vẫn ngồi trong thế kiết già; không quán công án nào mà tôi cứ mãi nhìn mây. Một mình giữa vườn bưởi, tôi lặng lẽ ngước nhìn mây trắng, mây xanh, mây hồng … Nhìn, và rồi chỉ là mây thôi, trắng, xanh hay hồng sẽ thay mầu, nhưng mây thì vẫn lãng đãng bay. Nhìn, rồi không còn xanh hay hồng nữa, chỉ trắng thôi. Cả vạn hữu chỉ còn bao la mây trắng … Con-Mắt-Tâm nhìn cái bao-la-trắng đó, lặng im và nhìn mãi, nhìn mãi, tới đâu thì “Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”"
Một cánh chim bay ngang, để rơi lại âm thanh hững hờ, có thế thôi mà cũng đủ khiến người nhìn mây lại thấy mây có trắng, xanh, hồng; người và mây lại là hai thực thể, có người nhìn và vật bị nhìn!
Vươn vai, rồi mở nhẹ khóa chân, tôi thở mạnh và buông lơi, soải dài toàn thân trên nền đất ẩm. Vô hình chung, mặt đối diện trời và lại thấy mây ! Bây giờ thì mặc ! Mây là mây, ta là ta, hay mây với ta là một cũng mặc ! Nằm như vậy, với tĩnh lặng và hương bưởi thoảng quanh, ta có gì để chờ đợi đâu " Sao phải cố gắng để ta với mây là một " Chỉ cần khởi từ ý nghĩ muốn đạt tới “là một” sẽ chẳng bao giờ là một được rồi ! vì còn muốn là còn đối đãi, còn ta, còn người, còn vật. Chỉ thế thôi mà cứ chìm nổi trong lầm lẫn, mãi quên lời vô thỉ vô chung. Không quá khứ, chẳng vị lai, chỉ hiện tại. Hiện tại này đang có gì " Mây. Trước mắt là mây, chỉ mây thôi, không gì nữa cả, mây xứ người hay mây quê hương, thấy bằng mắt thịt hay mắt tâm, nào cần chi gạn hỏi ! Chỉ biết, mắt như không rời mây được nữa. Mây nhẹ hay ta nhẹ mà ta như cũng bay cùng mây …. Với mây, ta đang ở đâu mà nghe thấy âm thanh của đoàn tầu nặng nề lăn trên đường sắt. Đoàn tầu cũ quá, và đường sắt còn cũ hơn khiến bánh sắt siết trên đường, quằn quại hơn tiếng khóc:
“Ta sẽ rủ gió lùa trên tóc rối
Giọng ân tình năn nỉ bước đi mau
Còi rộn rã bởi hoang đường đã đổi
Bởi phiêu lưu ngày tháng vẫn con tầu”
Nhưng con tầu không có lựa chọn. Nó phải lăn bánh dù đã quá già nua. Khi thân tầu rung rinh, lắc lư, nó rung rinh và lắc lư tất cả khối người đông đảo, xô đẩy nhau trong lòng nó. Có người cằn nhằn, có người lặng thinh chịu đựng, có người chợt chắp tay, cúi đầu khi làn sóng xô người ấy lủi vào một thân người ốm yếu ngồi cuối toa. Người ấy vội vã chắp tay, cúi đầu, có lẽ vì thấy tấm áo nâu bạc phếch của người vừa bị xô. Tấm áo đó có đủ xác định người đang khoác nó là một thầy tu hay không, có lẽ chỉ người chắp tay cúi đầu và người nhận cái chắp tay cúi đầu là đồng cảm được thôi. Giòng cuồng lưu hung hãn, dập vùi xoáy hút những viên sỏi lăn trôi theo nhau, vẫn có những hạt cát biết mình đang chứa cả đại dương.
Con tầu từ miền Bắc, đang xuôi Nam. Tầu men dẫy Trường Sơn mà lăn. Gập ghềnh quá, cheo leo quá nhưng nó vẫn kiên nhẫn lăn bánh. Ông thầy tu ngồi yên lặng, nhiếp tâm, toàn thân ốm yếu toát ra sự khắc khổ, cô đơn tột cùng:
“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”.
Đây là toa tầu hạng ba, toa rẻ tiền nhất dành cho người cùng khổ, buôn gánh bán bưng, hàng hóa, thúng mẹt ngổn ngang với người, trong không khí ẩm mốc, tối tăm. Vậy mà, ở góc cuối toa đó phảng phất làn ánh sáng dị ảo, như ánh sáng từ một đốm nhang trầm, ấm và thơm. Nhang đâu mà đốt nơi khổ nhục nhớp nhúa này " Nhìn kỹ …. Và nhìn kỹ hơn thì không thấy cây nhang nào. Làn hương lặng thầm, kín đáo đó hình như tỏa ra nơi ông thầy tu ốm yếu mà từ lúc bước lên tầu vẫn an nhiên khép hờ đôi mắt, nhiếp tâm, quyện thành ngũ-phần-hương lan nhẹ khắp lòng toa:
“Khi tâm tư chưa là gỗ mục
Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời”
Ông như không quan tâm gì, ngay cả những lúc tầu dừng ở mỗi sân ga. Hình như ông có đến mà không đi, hay có đi mà chẳng đến. Nơi đến hay chốn đi cũng như nhau thôi khi ông đã từng thấy rồi, thấy ngôi nhà mà chúng sanh miệt mài khổ nhọc kiếm tìm. Chắc phải thế ông mới an nhiên tự tại như vậy được. Nếu ông đã thấy ngôi nhà Phật thì ông với Phật không hai, dù nơi thênh thang hay tận cùng tuyệt lộ:

“Nhất triêu cước lạc huyền nhai hạ
Thỉ bả chân không đối tịch hồng
Một sớm đưa chân vào tuyệt ngạn
Mới lấy chân không rọi đêm nồng”
Một vài người nghèo khổ ngồi gần, kín đáo nhìn ông, kín đáo chắp tay khi thỉnh thoảng ông hé mắt nhìn ra khung cửa toa tầu. Ông nhìn ra, chẳng vì chờ nơi đến mà chỉ muốn nhìn núi rừng. Thấy bóng núi cao đó, thấy cây xanh rừng kia, ông có thể đoán biết tầu vừa qua Nghệ An nơi có chùa Phổ Nghiêm, qua núi Dục Thúy nơi có chùa Sơn Thủy, qua Thừa Thiên, nơi có chùa Bảo Quốc, qua Huế, nơi Từ Đàm Từ Hiếu còn đứng đó với sương rêu …. Lòng ông chợt rung động. Hình như ông vừa bước ra khỏi thế giới của mình. Ông nhìn những người dân lam lũ xung quanh, nhìn những món hàng nhỏ nhoi dăm ký đường, dăm bó củi, rổ trái cây …. nhưng là gia tài của những người đang bương trải lượm từng hạt cơm về cho gia đình. Cả một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến, phút chốc, bỗng chỉ còn một thôi thúc duy nhất là đi kiếm thức ăn ! Ông thầy tu cũng rung động khi ý thức rằng ông đang đi về Chùa. Chùa, một tiếng thân thương ấy đã từ mười lăm năm nay ông nhớ tưởng. Chùa. Ông sẽ về nơi ấy. Chùa. Dù bất cứ ngôi Chùa đó ở đâu. Ông đang đi về Chùa, không phải là về lại ngục tối sau những lần bị thẩm cung, tra tấn. Ý nghĩ “Về Chùa” làm ông nôn nao và dạ dày quặn thắt. Thì ra, ông đã tuyệt thực mười ngày rồi. Ông tuyệt thực vì trước khi thả ông do áp lực Quốc Tế, kẻ cầm quyền đã bắt ông ký giấy xin khoan hồng rồi mới thả. Mang trong lồng ngực một trái tim chỉ biết đập nhịp Bi Trí Dũng nên ông đã lạnh lùng từ chối “xin tha” điều mình “chưa từng phạm”. Và để tỏ quyết tâm, ông thầy tu đã tuyệt thực, lặng lẽ tuyệt thực, chỉ ông biết và kẻ giam cầm ông biết mà thôi, đằng trước không tuyên cáo, tuyên bố; đằng sau không yểm trợ, ủy lạo gì cả. Ông im lặng trở về nhà giam, từ chối cơm tù. Thế thôi. Nhưng hẳn là trong im-lặng-sấm-sét đó đã lóe lên lằn sáng xanh biếc diệu kỳ của thanh gươm Bát Nhã, nên cánh cửa ngục phi luân đã phải mở ra:
“Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ
Uống sương khuya tìm sinh lộ viễn trình
Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ
Tôi yêu ai, trời rực sáng bình minh "”
Từ ngục tối nơi heo hút sơn lam chướng khí miền Bắc, ông thầy tu được đẩy lên toa tầu bẩn thỉu, xuôi Nam.
Mười lăm năm khổ sai, mười ngày tuyệt thực, ba mươi sáu tiếng đồng hồ liên tục trên con tầu cũ kỹ gập ghềnh, ông thầy tu không còn sức nữa. Ông dùng tàn lực đứng dậy khi con tầu chầm chậm ngừng ở một sân ga. Không cần biết là ga nào, ông phải bước xuống thôi. Có người nào đó đưa tay ra đỡ ông, dìu ông xuống hẳn mặt đường:
- Thưa thầy, thầy về đâu "
- Chùa.
- Thưa thầy, đây là tỉnh Nha Trang, có Phật-học-viện Hải Đức.
- Hải Đức.
Ông thầy tu lập lại hai tiếng ấy cùng với âm thanh đại hồng chung gióng lên từ ba ngàn thế giới. Nương theo âm thanh đó, ông bước đi như mơ, cứ thế mà bước, xiêu vẹo, ngả nghiêng, vấp ngã nhưng vẫn bước. Trong tâm ông rộn rã câu chú: “Gate. Gate. Paragate. Parasamgate. Bodhi. Svaha.”.
Ông thầy tu quỵ xuống trước cổng tam quan, mơ màng thấy một bóng áo nâu chạy ra và rồi xôn xao nhiều bước chân ào tới:
- Trời ! Thầy ! Bạch Thầy !
- Ai đó " Chuyện gì đó "
- Bạch Thầy, Ngài đã về.
- Ai về "
- Bạch thầy, Thượng Tọa Tuệ Sỹ. Thượng Tọa Tuệ Sỹ đã về. Ngài đã về.
Phút chốc, cả không gian như cùng vang lên câu chú Bát Nhã:
Gate.
Gate.
Đã về.
Đã tới ….
Đó là ngày đầu tháng 9 năm 1998.
Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Diệu Trân
Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629
* Thơ trích từ thi tập Giấc Mơ Trường Sơn của thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Miền Tây bị cơn thiếu nước hành thê thảm… Báo Con Người & Thiên Nhiên kể: Mấy tháng nay, người dân ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang khổ sở với đợt hạn hán gay gắt. Họ mòn mỏi chờ mưa xuống do không thể sạ lúa
Bên cạnh niềm vui không thể tranh cãi khi nuôi một con thú yêu, nuôi một chú chó còn có thể làm tăng sức khỏe, phát triển nhân cách cá nhân bằng nhiều cách.
Các nhà khoa học đều đồng thuận rằng, người cao niên cần ăn thêm thực phẩm giàu đạm khi giảm cân, khi điều trị bệnh mãn tính, cấp tính, hoặc đang phải nằm bệnh viện.
Gần hai phần ba thế kỷ qua, họ vẫn mang tương lai của cả dân tộc này ra đánh cược đều đều. Lần nào họ cũng thắng và nhân dân thì luôn luôn đại bại.
hai đại diện của PTGDVNHN là TS Nguyễn Bá Tùng và KS Đỗ Như Điện đến từ California đã trao bản tuyên dương tượng trưng cho Giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2019 cho vị đại diện của HT Thích Không Tánh là BS Đỗ Văn Hội, và vị đại diện của của MS Nguyễn Hồng Quang là MS Huỳnh Quốc Bình
Mấy ngày qua tin giật gân phổ biến trên liên mạng làm cho thiên hạ lưu ý và bàn tán rùm beng, đó là vụ quán bún, tạm gọi là quán bún "không bán nước" bị "giới hữu trách của cộng sản Việt Nam (csVN) cưỡng chế".
Trên mạng bỗng nhiên thiên hạ bàn ngang tán dọc về chữ Bậu chữ Qua, thôi thì mình cũng bàn qua chơi theo thiển ý... bậu nghĩa là em, dùng trong cách nói thân mật. Người Thái có tiếng phậu cũng theo nghĩa tương tợ.... Tại sao người VN ở Miền Bắc không có tiếng bậu thân thương như ở Miền Nam?
Thành kính tưởng niệm Ba tôi nhân Father’s Day... Cụ Điệp Linh Nguyễn Văn Ngữ – người đã từ bỏ cuộc sống an nhàn, đầy tiện nghi của một công chức trong “vùng bị chiếm” thanh bình, theo tiếng gọi thanh niên, ra “vùng giải phóng” để chống Tây.
Người Việt chúng mình ở Montreal thường gặp cộng đồng da đen ở thành phố này. Nếu gặp người da đen ở Montreal, từ người lái taxi cho đến cô y tá hoặc cảnh sát viên, thì xác suất đúng đến 90% đó là người Haiti
Có thể sẽ tới một lúc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thấy cần chiến tranh để củng cố quyền lực nội bộ? Trong trường hợp đó, sẽ ra lệnh quân đội Trung Quốc ra tay tấn công Việt Nam? Hay tấn công Đài Loan trước? Không ai tiên đoán chinh xác những ngày sắp tới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.