Hôm nay,  

Thơ Cù Nèo

13/05/200000:00:00(Xem: 12765)
(Dân Việt, số ngày 4.5.2000: Phạm Văn Đồng, tên cựu thủ tướng ôn dịch lâu năm nhất của Việt Cộng đã "ngủm cù đeo" ngày 29.4.2000. Sau khi đọc tin này, đứa Nam Man bèn viết bài "Tống Ôn" dưới đây):

Chèn ơi cái lão Phạm Văn Đồng,
Nhắm mắt chầu trời, đúng vậy không"
Chẳng kịp chờ em về kể tội,
Không cần đợi tớ đến bình công"
Ắt là lịch sử đâu tha hắn,
Chắc hẳn nhân dân vẫn oán ông.
Kẻ đã nhiều năm làm thủ tướng,
Của phường hại nước, hại non sông.

**

Biếm Dịch Nha

(Dịch Nha là tay đầu bếp của Tề Hoàn Công. Được Tề Hoàn Công rất mực thương yêu chiều chuộng vì ông ta đã dám cầm dao "thịt" đứa con vừa mới lên 3 của ông để.... "nấu nướng" thành những món ăn ngon dâng lên cho vua thưởng thức)

Thằng con của bác mới lên ba,
Bác nỡ cầm dao giết nó à"
Dẫu bác không đau lòng xót dạ,
Nhưng bà đã xẻ thịt banh da"
Thịt con, bác nấu dâng vua nhỉ,
Xương cháu, ông hầm đãi chúa a"
Cái nghĩa "quân thần" tuy có nặng...
Nhưng, tình cốt nhục nhẹ sao cha"

**

Biếm Thụ Điêu

(Thụ Điêu, là tên quan nội hoạn của Tề Hoàn Công, vì quá hâm mộ Tề Hoàn Công nên ông đã tự thiến "dzế" để xin được tiến cung hầu hạ)

"Liền ông", cậy bởi có.. con cu,
Bác thiến đi rồi, chắc bỏ bu.
Ạ, để thăng quan và tiến chức,
Ồ, mong bợ đít mí nâng khu"
Nhà em mắng bác: thằng sao dại,
Bố đĩ cười ông: đứa quá ngu.
"Của quý" như vầy mà thiến bỏ,
Sao chưa xuống tóc... kiếm chùa tu"

**

Biếm Khải Phương

(Khải Phương, là công tử nước Vệ "tình nguyện" xin được ở lại Tề để "nâng khăn sửa trấp" cho Tề Hoàn Công. Người đương thời, đã gọi bộ ba Dịch Nha, Thụ Điêu và Khải Phương là "Tam quý", rồi cũng chính bộ ba "tam sênh" này về sau đã giết Tề Hoàn Công...)

Cái nghĩa "quân thần" thật thấy mê,


Nên ông nhất định chẳng xin về"
Điều này, khiến tớ e dè quá,
Chuyện đó, mần em áy náy ghê.
Bác đã không lòng lo nước Vệ,
Ông đâu có ý phục vua Tề,
Hành vi của bác em ngờ lắm
Ngặt nỗi vua Tề đã quá "phê".

Nam Man

**

Mồm Ngang Miệng Dọc

Cũng là nết cũ vẫn không chừa,
Bản tánh lưu manh thật khó ưa
Dạo trước hành nghề rình "đá cá",
Bây giờ học thói lén "lăn dưa".
Mồm ngang, chót lưỡi hay luồn lách,
Miệng dọc, đầu môi khoái đẩy đưa.
Còn nữa: ăn dơ và nói dại,
Cũng là nết cũ vẫn không chừa!

Cô Gia

**

Thi Rớt I

Thôi thế là thôi hết một kỳ
Mỏi mòn cho bõ kiếp đi thi
Gào như cóc gọi trời không chuyển
Gắn tợ sam đeo chẳng dính gì
Có lúc cũng cầu cho tới số
Đôi khi nhìn lại đếch cần chi
Ban sơ đã nếm mùi cay chát
Hải Lục Không thời bộ chiến y

Tùng Darlo

**

Đi Câu

Cuối tuần thơ thẩn biết đi đâu
Hò hẹn cùng nhau vác cần câu
Lênh đênh sóng nước con thuyền nhỏ
Thế gian mong cởi bỏ ưu sầu.

Chợt nhớ chiều chiều bến Vân Lâu
Non nước đắm chìm cảnh bể dâu
Cung vàng điện ngọc hay tù ngục,
Thành Thái buông câu lệ thảm sầu.

Câu thời câu vận, miệt mài câu
Khương Thượng Tử Nha bạc tóc râu
Áo mão cân đai trò múa rối,
Phải đấng minh quân mới chịu hầu.

Câu hết sông Đông đến biển Âu,
Hemingway buồn suốt cả đêm thâu
Ngư ông nhỏ bé ra biển cả,
Cá lớn, sức người dể được đâu.

Thời thế bao người cắm cúi câu
Mồi ngon, nhợ chắc thả thật sâu
Thừa nước đục mong tìm cá lớn,
Danh vọng, quyền uy lẫn sang giầu

Thấp thoáng mỹ nhân tựa bên cầu
Mồi hồng mắt liếc tận đâu đâu,
Buông cần, phao động đâu tha thiết,
Tìm cá kỹ sư, cá nhà thầu.

Nghĩ ngợi liên miên mãi phát rầu,
Ta buồn ta cứ vác cần câu
Ngàn người ngàn cảnh, ngàn tâm sự
Nghĩ lắm chỉ thêm tóc bạc mầu.

Kim Châu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
Hai bên cách nhau khoảng mười thước, thấy nhau bằng mắt thường, nên, mọi người trên đoàn giang đỉnh đều thấy Việt-Cộng nhốn nháo, tán loạn... địch từ bờ bắn ra dữ dội với đủ loại súng, có cả 82 ly không giật và 12 ly 8. Phía Lực-Lượng 99, vũ khí nặng trên chiến đỉnh đều xử dụng tối đa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.