Hôm nay,  

Thơ Thơ

16/12/200100:00:00(Xem: 11389)
Em Yêu
Mến tặng vợ hiền

Ngày ấy em yêu tuổi tròn mười sáu,
Còn tôi vừa mười tám tuổi thanh niên.
Đón em về do bác mẹ hỏi xin,
Nên chồng vợ bởi ông Tơ bà Nguyệt.

Mười tám tuổi nhìn em tôi đẹp tuyệt
Mắt bồ câu đôi má nõn bồ quân
Suối tóc đen buông tận tới kheo chân.
Môi thắm đỏ em căng tròn lồng ngực.

Sống bên nhau những tháng ngày loạn lạc.
Năm lần sinh em mang nặng cả năm lần
Cho dung nhan em giảm bớt đôi phần,
Ôi vợ hiền em, người đẹp tuyệt trần.

Triệu Nam

*
Nhà Em

Nhà em
một xã hội vui
party dán nhện
giao duyên kiến ruồi.

Nhà em
một quán trọ buồn
độc thân
lừng lẫy
ăn xong là chuồn.

Niêu nồi
bát đũa ngẩn ngơ
tách ly
xoong chảo
bơ vơ giữa nhà.

Vườn em
một đóa vô thường
cỏ sân si mọc
ngút ngàn thiên thu.

Trăng khuya vũ khúc nghê thường
thênh thang nỗi nhớ
ngậm ngùi quê hương

CPM 41201

*
Tý Của Anh Ơi!

Anh chưa về như lời anh đã hứa
Bởi những áo cơm từng bữa hôm nay
Bởi sông, bởi núi, bởi kiếp lưu đày
Cuộc nhân thế,
Anh vẫn còn vòng xoay trong cuộc đời lận đận
Anh vẫn nhớ, và chưa hề lú lẫn
Những con đường,
đêm vắng bước chân đi
Quán sông xanh,
Ngồi nghe bờ đập đá thầm thì
Anh bên nớ, em bên ni
Tình ơi! Sao ngộ nghĩnh
Tý của anh ơi! Ta chẳng cần toan tính
Như thuở học trò,
Như tà áo tím thơ ngây
Như chiều mưa mắt lệ đong đầy
Như anh đến, anh đi
Em chẳng cần tiễn biệt
Trưa Tràng Tiền, dưới dòng Hương xanh biếc
Đỉnh Nam Giao, mây biền biệt chưa về
Dãy phố quen - anh bỗng thấy ngô nghê
Chân Mường Mán, đường quê chừ đã mất
Tý của anh ơi!
Hồn anh chất ngất
Bao yêu thương, anh dồn cất trong trái tim này
Dù mưa đến,
Dù mây bay,
Huế của ta ơi!
Tý của anh ơi!
Vẫn ngàn năm vĩnh cửu.

Thy 2000

*
Hôn Em

Hôn em lên trán, lên vai;
Hương tình nhớ mãi, nhớ hoài ngàn thu.
Hôn em khóe mắt ưu tư;
Long lanh giọt lệ... chừng như u buồn!
Hôn em môi thấm lệ tuôn;
Làn môi chín mọng nỗi buồn thời gian.
Hôn em trao gởi bình an
Vỗ về hạnh phúc... chứa chan ân tình!

Joseph Duy Tâm

*
Mùa Sao Sáng

Đêm buồn về với đất đen
Mây giăng than trách thế gian ươn hèn
Mịt mờ trần thế đảo điên
Người người trỗi dậy bon chen lọc lừa
Hai ngàn năm cũng đã vừa
Mà sao cứ ngỡ Chúa vừa Giáng Sinh
Bết Lê Hem trời đất hữu tình
Thiên Thần máng cỏ Thánh Kinh sáng ngời
Tình thiên phủ kín đất trời
Xóa đi tăm tối giữa đời điêu ngoa
Jesus nước Chúa hiền hòa
Một vì sao sáng chói lòa trong đêm
Noel đã xuống êm đềm
Trái tim thánh giá bên thềm đợi ai"

Như Sơn - Giáng Sinh buồn

*
Đôi Mắt Thủy Tinh

(Viết để chia xẻ nỗi bi ai mất mát của phụ huynh trước căn bệnh trầm kha thời đại)

Đôi mắt con tôi
Ôi! Cửa ngõ tâm hồn
đang trải rộng
mênh mông vùng ngục tối

Đôi mắt bi ai
ngập ngừng oán trách
Có lẽ nào con!"
Con gái (trai) nhỏ của ta!

Ánh mắt xa xăm
tia nắng hãi hùng
con van xin
hay đang thù hận"

Xã hội mất đi
bàn tay xây dựng


lại phải cưu mang
một xác rữa thân tàn

Đâu tiền tài
đâu danh vọng về đâu"
Hay đêm tối hãi hùng
trong ác mộng.

CPM 171101

*
Thương Bạn Quê Nghèo

Trời mưa nhớ bạn quê nghèo
Ra tù quản chế gieo neo tháng ngày
Thân giờ như gã ăn mày
Ngày xưa một thuở mày ngài tướng quân
Anh xưa một thuở vang lừng
Đánh đông dẹp bắc đã từng lập công
Làm thân cải tạo tù gông
Thân tàn ma dại về không cửa nhà
Gia tài chỉ giấy tạm tha
Sống là may phước kêu ca nỗi gì
Thôi đành an phận cu li
Sớm hôm gá nghĩa với dì nó thôi
Bà con tiếp sức xây chòi
Đồng cam cộng khổ mồ hôi luống cày
Hái rau bắt ốc qua ngày
Cày sâu cuốc bẫm đêm dài thở than
Nhìn bông điên điển nở vàng
Anh mơ thấy bóng cờ vàng tung bay
Chí trong kiệt lực hình hài
Mong sao được góp chút tài cho quê
Để còn nhớ mãi lời thề
Gặp nhau đoàn tụ ngày về vinh quang.

Vĩnh Hòa Hiệp

*
Đà Lạt

Riêng tặng người xưa

Phố xá chiều nay vắng thưa người
Sương mù bao phủ khắp nơi nơi
Lá hoa cây cỏ mờ hơi nước
Nỗi nhớ nhung nào bỗng dậy khơi"

Đã có một chiều ta với em
Cùng nhau sánh bước giữa trời êm
Gót ngà xua nhẹ trên đồi vắng
Từng cánh thông rơi đậu vai mềm.

Ta vẫn nhớ lần đến Cam Ly
Dưới thác ghềnh nghe nước rầm rì
Trầm mình ta tắm bên dòng thác
Một thoáng bây giờ đã phân ly.

Có những buổi chiều quá nên thơ
Ngồi trên thủy tạ dưới trăng mờ
Tâm sự đầy vơi theo năm tháng
Bên hồ Than Thở với tình mơ.

Nghĩ đến chiều Thu ghé suối Vàng
Nhìn đàn cá lội nhớ mênh mang
Lá vàng từng chiếc rơi từng chiếc
Bỏ lại trên cành tiếng thở than.

Kỷ niệm lưu tràn khắc xác thân
Mạch máu phồng căng gấp nghìn lần
Dư hương nồng thắm trong rừng vắng
Dấu vết ân tình với Ái Ân.

Mặc dù bao năm sống miệt mài
Làm thân du mục chẳng bằng ai
Tuổi đời cứ mỗi năm chồng chất
Nhưng Đà Lạt ơi! Vẫn nhớ hoài...

Nguyễn Như Sơn

*
Phượng Xưa, Còn Gốc Sân Trường

Tặng Việt Thanh, Đào, Ánh, Tất

Nhỏ ơi trời đã sang hè
Trên hàng phượng vĩ tiếng ve vang rền
Tan trường về có mình ên
Coi chừng có kẻ muốn quen theo hầu
Cho anh xin nói một câu
Ngày mai mình hẹn ở đâu để chuồn
Ngồi hoài trong lớp cũng buồn
Lâu lâu mình cũng trốn trường đi chơi
Học hoài cũng phải xả hơi
Ngồi giờ hóa học chẳng xơi nổi rồi
Thêm giờ vật lý lôi thôi
Phương trình toán học rối bời tâm can
Nghe anh phủ dụ ăn hàng
Em đây cảm động mơ màng món ăn
Trước tiên là món bánh canh
Uống đồ tráng miệng đậu nành một ly
Thơm mùi ớt, tỏi, hành phi,
Dĩa nem bánh ướt lâm ly quá chừng
Em đây trong dạ lừng khừng
Nửa đi cũng muốn nửa dùng dằng thôi
Bãi trường cũng sắp đến nơi
Thôi em đành chịu một hồi cúp cua
Xa rồi tiếng guốc mộc khua
Nhớ hoài cái đám húi cua mà buồn
Phượng xưa, còn gốc sân trường
Tiếng ve nức nở người phương trời nào"
Nhớ trường còn nhớ đến nhau
Một thời hoa bướm chìm vào hư không.

Vĩnh Hòa Hiệp

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
Hai bên cách nhau khoảng mười thước, thấy nhau bằng mắt thường, nên, mọi người trên đoàn giang đỉnh đều thấy Việt-Cộng nhốn nháo, tán loạn... địch từ bờ bắn ra dữ dội với đủ loại súng, có cả 82 ly không giật và 12 ly 8. Phía Lực-Lượng 99, vũ khí nặng trên chiến đỉnh đều xử dụng tối đa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.