Hôm nay,  

Con Đường Tự Diệt

23/04/200600:00:00(Xem: 9188)

Năm 1984, bà Barbara W. Tuchman viết cuốn sách nhan đề: “The March of Folly” tạm dịch là: “Con đường tự diệt” (*) . Bà Tuchman nhắc lại những hành động điên rồ của con người qua lịch sử để chứng minh con người là một sinh vật có lẽ ngu ngốc và tàn ác nhất trong những sinh vật hiện hữu trên trái đất.<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Bà Tuchman nói đến sự độc đoán của con người, tham vọng quá đáng, sự suy thoái trước mắt ai cũng thấy (mà không làm gì cả) và nhấn mạnh đến sự “ngu xuẩn” và “ngoan cố” là hai tính chất mà theo bà Tuchman sẽ dẫn nhân loại đến bờ vực thẳm. Theo bà, trong chính trị tính ngu xuẩn và ngoan cố là cứ ù lì đi theo con đường ngược với quyền lợi của quốc gia.

 

Cuốn sách của bà Barbara Tuchman viết cách đây 26 năm, ít ai chú ý vì luận đề phức tạp. Bà Tuchman định nghĩa tính ngu xuẩn trong chính trị có hai tính chất. Thứ nhất nó không phải là sản phẩm của một cá nhân mà là sản phẩm của một tập thể, và thứ hai ngay trong thời điểm nó đang xẩy ra đã có nhiều người cảnh giác sự tai hại của nó, và đưa ra giải pháp giải quyết khác nhưng những người có quyền quyết định không chịu lắng nghe.

 

Tính ngu xuẩn chính trị, bà Tuchman viết, không lệ thuộc vào thời gian và nơi chỗ. Nơi nào, thời nào nó đều có thể xẩy ra dưới mọi hình thức trong suốt lịch sử có ghi chép của con người, dù đó là thời đại độc tài hay thời đại dân chủ.

 

Bà Tuchman đưa ra một vài thí dụ điển hình trong lịch sử như trong thời đại Renaissance (gọi là thời đại Phục Hưng) tại Ý, con người trở nên tin tưởng vào khả năng tự tạo hạnh phúc cho mình chứ không do một quyền lực siêu nhiên nào ban phát, thì trong vòng 60 năm từ 1470 cho đến 1530 sáu vị Giáo hoàng (trong đó có 5 vị gốc Ý) đã không chút quan tâm đến những biến chuyển tâm lý này và do đó mới có phong trào bỏ đạo để hình thành giáo phái Tin Lành kéo theo sau đó nhiều thế kỷ chết chóc cho thế giới Tây phương.

 

Một thí dụ khác là thái độ  kiêu ngạo và tự mãn của quốc hội Anh đã làm Anh quốc mất Mỹ châu. Bà Tuchman viện dẫn quyết định có tính quyết đoán kẻ cả mà quên nhìn vào thực tế của Quốc hội Anh quốc vào năm 1763 khi thông qua luật buộc người Anh ở thuộc địa Mỹ phải đóng thuế cho Anh hoàng. Vào thế kỷ thứ 18 người Anh sang định cư ở Mỹ vẫn xem mình là con dân của nước Anh, nhưng họ không chấp nhận quyền hành của quốc hội Anh vì họ không được phép bầu người đại diện vào quốc hội. Quyết định của quốc hội Anh đã làm cho toàn dân tại thuộc địa bắc Mỹ phẫn uất, kết quả làm nước Anh mất thuộc địa Mỹ và từ đó mất dần uy tín của một đại cường.

 

Khi bà Tuchman viết cuốn “The March to Folly” cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc đã 9 năm nhưng vết thương “hội chứng” gọi là hội chứng Việt Nam (Vietnam Syndrome) vẫn còn và bà Tuchman đã dùng trường hợp Hoa Kỳ dính vào cuộc chiến đó là một trường hợp “làm mà không biết mình đang làm gì” của những nhà chính trị một thời được mệnh danh là “the bests and the brightests” của nước Mỹ.

 

Trước khi cuộc thế giới chiến tranh thứ 2 sắp kết thúc tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt quyết định đã đến lúc chấm dứt chế độ thuộc địa trên thế giới, nhất là quyết ý ngăn cản sự trở lại Đông Dương của chính phủ de Gaulle, dù Pháp dọa rằng nếu Mỹ không giúp Pháp lấy lại Đông Dương Pháp có thể ngả theo phía Liên bang Xô viết trong cuộc tranh chấp của hai phe thắng trận tại Âu châu. Tổng thống <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Rooseveltđang do dự thì ông đột ngột qua đời (15/4/1945) và sau đó các chính quyền Truman, Eisenhower nhượng bộ Pháp. Chỉ có tổng thống John F. Kennedy là người thấy trước được sự khó khăn mà Hoa Kỳ sẽ lãnh lấy trên vai người Pháp và đã tính toán việc rút ra khỏi Việt Nam, nhưng sau khi ông bị ám sát chết tháng 11 năm 1963 thì việc nước Mỹ dính vào cuộc chiến Việt Nam không còn là một vấn đề bàn cãi nữa mà trở thành một phần trong chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Bà Barbara Tuchman kết luận cuộc chiến Việt Nam làm cho hơn 50 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và hằng triệu người Việt hai bên chiến tuyến chết là một cuộc chiến mà những người dẫn tới đó thật ra đã không ý thức rõ mình đang làm gì. Ông McNamara, một người trong cuộc đã bày tỏ sự trăn trở này trong cuốn In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vienam ông viết năm 1995.

 

Những chính thể cộng sản, nói là chính quyền của giới công nhân cũng hành động không khác gì các chế độ thời phong kiến, nếu không muốn nói tệ hại hơn. Dưới chính thể dân chủ quốc xã, Hitler và tập đoàn của ông đã giết 6 triệu người Do thái. Mao Trạch Đông với chương trình “bước nhảy vọt” đã có ảo mộng làm lò luyện thép trong từng ngôi xóm nhỏ để sản xuất cho kịp người Mỹ, nông dân bỏ đồng bỏ ruộng làm ít nhất từ 20 đến 30 triệu người dân chết đói. Và cái giá dân Nga trả để thiết lập thế giới đại đồng mộng tưởng của Lenine và sau đó là Stalin có lẽ đã nặng hơn những lỗi lầm và sự quá đáng của Nga hoàng nhiều (lúc bà Barbara Tuchman viết cuốn sách, Liên bang Xô viết chưa sụp đổ). Bà Tuchman không quên nhắc đến cuộc cách mạng Pháp năm 1789, cuộc cánh mạng dân chủ mẫu mực làm mất bao nhiêu bút mực trên thế giới cũng mau chóng trở thành một chế độ độc tài dưới danh nghĩa bảo vệ dân chủ khi luật sư Maximilien Robespierre nắm chắc được chính quyền.

 

Đặt vấn đề như vậy, bà Tuchman tự hỏi: Nếu biết bản chất của con người và chính quyền là như vậy tại sao những người hiền (the wise men) không tính trước để tránh những hậu quả tai hại đó.Theo bà Tuchman, nhà hiền triết Plato đã nghĩ đến vấn đề này và ông đề nghị đào tạo một lớp chuyên viên lãnh đạo chính trị, những người không phải chỉ được huấn luyện về nghệ thuật chỉ huy mà còn phải được huấn luyện và có truyền thống về một triết lý sống tốt đẹp.

 

Barbara Tuchman nói cái tồi tệ nhất trong chính trị là những đầu óc gần như gỗ đá, tin tưởng vào suy tưởng cho là tuyệt đối của mình. Nếu bà Barbara Tuchman có cơ hội quan sát hiện tượng về cái gọi là đại hội 10 của đảng Cộng Sản Việt Nam đang họp tại Hà Nội bà sẽ không ngần ngại ghi vào sách của bà đây là trường hợp đặc thù nhất của tính gỗ đá của trí tuệ. Trong thời gian chuẩn bị kéo dài hơn một năm, đảng Cộng Sản Việt Namnói sẽ thay đổi để hội nhập vào thế giới văn minh đang trên đà toàn cầu hóa. Một số người Việt có lòng trong và ngoài nước “tưởng thật” cũng đóng góp ý kiến với tất cả nhiệt tình và thiện chí. Nhưng “con voi đẻ ra con chuột”. Bản báo cáo chính trị của đại hội tái xác định nguyên tắc đi theo con đường “Mác Xít – Lêninít”, nói cách khác là vẫn đi theo con đường độc đảng, không đa nguyên, đa đảng, không bỏ điều 4 Hiến pháp. Và cái đại hội ồn ào đang diễn ra tại Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 4 sẽ không khác gì hơn một hội đồng con nít “nói mà chơi”.

 

Cái điều lạ lùng mà những ai từng qua sát tình hình đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam không khỏi không ngạc nhiên là trước đại hội của đảng Cộng sản Việt Nam khoảng hai tuần lễ có một phong trào “tuyên ngôn dân chủ” và điều này cũng trùng hợp với  thời gian (từ ngày 12 đến ngày 17/4/20) một phái đoàn dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ do chính ông chủ tịch Hạ nghị viện Dennis Hastert hướng dẫn đến thăm Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn người ta thấy xuất hiện ba văn kiện liên quan đến việc đòi hỏi dân chủ, và quyền lập hội. Ngày 6/4/2006 là một bản gọi là “Lời kêu gọi đảng Cộng sản Việt Namcho phép thành lập chính đảng ở Việt Nam” do 116 người trong nước ký tên mà đứng đầu là các linh mục Công giáo. Hai ngày sau (8/4/2006), một bản văn khác chỉnh đốn hơn gọi là bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cũng lại được phổ biến từ trong nước (có lẽ vì thấy bản tuyên bố đòi lập chính đảng quá nặng mầu sắc tôn giáo). Chưa hết, ngày 15/4/2006 tại San José, California đảng Nhân Dân Hành Động lại họp báo và cho phổ biến một bản văn gọi là “Tuyên Ngôn Dân Chủ” do Phong Trào Dân Chủ Việt Nam ký tên và sau này được giải thích là do ông Trần Khuê soạn thảo.

 

Người Việt Nam trong và ngoài nước đã vui mừng khi đọc bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ ngày 8/4, nhưng còn hy vọng và chờ đợi hơn ở bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến tại San José, hy vọng rằng nó báo hiệu một bước nhảy vọt trong cuộc tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam giống như bản Hiến chương 1977 của hơn 200 nhân sĩ Tiệp Khắc đã tạo ra cuộc cách mạng nhung tại xứ này gần 30 năm trước. Nhưng mọi người đã hết sức thất vọng vì nội dung bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến ngày 15/4 tại Hoa Kỳ quá nghèo nàn và không nói được gì. Qua những gì ông Trần Khuê đã viết trong quá khứ (xem tập Đối Thoại do Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng phát hành năm 1993) không ai tin ông Trần Khuê, dù cho trong sự vội vàng tuyệt đối, là tác giả của một bản văn nghèo nàn như vậy.

 

Chưa thấy ai trong số 118 người ký yên trong bản Tuyên Ngôn Dân Chủ Tự do bị làm phiền phức, ngoại trừ ông Đỗ Phương Nam. Và linh mục Nguyễn Văn Lý (một người đấu tranh có nhiều “vấn đề” chưa được giải thích thỏa đáng trong thời gian ông ở tù và ngay cả trong nội bộ Giáo hội Công giáo) lên tiếng thay, giải thích về các phong trào dân chủ và tại sao lại có hai bản Tuyên Ngôn trong một thời gian ngắn như vậy. Bản giải thích của linh mục Nguyễn Văn Lý không giải thích được gì ngoại trừ muốn nói lên rằng hai nhân vật chính yếu của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam trong nước là ông Hoàng Minh Chính và Trần Khuê không còn chơi với nhau nữa. Ông Nguyễn Chính Kết giải thích thêm qua một lá thư gởi chung ra hải ngoại rằng có sự lỉnh kỉnh trong Phong Trào Dân Chủ là do quan niệm chính trị, tính quyết đoán và lề lối làm việc có tính cách cá nhân của linh mục Nguyễn Văn Lý.

 

Một giả thuyết cho rằng Phong Trào Dân Chủ Việt Nam muốn khai thác cơ hội, thứ nhất là sự bận rộn của đảng Cộng sản Việt Nam với đại hội 10 gần kề, thứ hai là áp lực do cuộc thăm viếng của phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ nên đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không thể hay không dám hành động gì. Nếu giả thuyết này đúng thì quả thật phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ còn phải phải học hỏi nhiều, trước hết là hiểu mình hiểu ta, thứ hai là tính ỷ lại vào ngoại bang. Và điều quan trọng hơn cả là qua những gì đã xẩy ra chúng ta không thể gạt bỏ gỉả thuyết rằng đảng Cộng sản Việt Namđã gài người và đang thao túng phong trào dân chủ mà mục đích chính là làm mất sự tin tưởng của người dân.

 

Cuốn sách của bà Barbara W. Tuchman là một cuốn sách đáng đọc, nhất là những nhà đấu tranh dân chủ cho Việt Namtrong và ngoài nước để tránh cho phong trào dân chủ đang đi gần tới đích lại tự dẫn nhau vào con đường tự diệt. 

 

Trần Bình Nam

 

April 21, 2006

 

[email protected]

 

www.tranbinhnam.com

 

(*) Thật ra ý của bà Barbara Tuchman là: “Con đường ngu ngốc”.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường. Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế...
Viễn cảnh một ĐBSCL khô hạn và sa mạc hoá, không lẽ đây là “gia tài của mẹ”, một di sản thế hệ này để lại cho các thế hệ con cháu trong tương lai. Đây là cái giá rất đắt mà Việt Nam phải trả cho chuỗi những con đập thuỷ điện thượng nguồn và các dự án chuyển dòng lấy nước từ con sông Mekong, trong đó có con Kênh Phù Nam Techo... Một vấn đề nhức nhối và hết sức trọng đại hiện nay được nhà văn Ngô Thế Vinh, với cái tâm tha thiết luôn hướng về sinh mệnh đất nước và dân tộc Việt Nam, phân tích và nhận định trong bài viết công phu sau. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
✱ NARA: Thượng viện mở cuộc điều tra về Hoạt động Tình báo của Chính phủ nhằm điều tra âm mưu ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài của CIA, và sau 40 năm vào ngày 7.7.2015 bản văn được công khai ✱ NARA: HĐQMCM hội họp tìm cách giải quyết số phận của 2 anh em ông Diệm-Nhu. Quyết định chung cuộc là giết 2 ông Diệm-Nhu. Hội đồng chọn Đại Úy Nhung làm người thi hành lệnh xử tử. ✱ BNG/Đại sứ Lodge: Tướng Khánh nói với tôi chiếc cặp (của ông Diệm) đựng một triệu đô la Mỹ “mệnh giá lớn nhất”. Tướng Minh đã giữ chiếc cặp và chưa bao giờ giao nộp nó. Tướng Minh vào thời gian này đã lấy được 40 ký vàng miếng...
Israel đang tập trung quân đội tại khu vực biên giới giáp với Dải Gaza dự kiến cho một cuộc tấn công trên bộ. Đồng thời, họ cũng đang gấp rút sơ tán các ngôi làng ở gần biên giới với Lebanon vì lo ngại mặt trận thứ hai mở ra ở phía bắc. Hizbullah, một nhóm chiến binh Shia được Iran hậu thuẫn có trụ sở tại Lebanon, từng đụng độ với Israel. Cả hai bên, một nhà báo và ít nhất hai thường dân Lebanon đã thiệt mạng. Iran cảnh báo lực lượng ủy nhiệm sắp tung ra “đòn phủ đầu” chống lại Israel. Trước đây, Hizbullah đã từng tham chiến để ủng hộ Hamas, nhóm chiến binh kiểm soát Gaza. Sự tham gia của họ vào cuộc xung đột hiện tại sẽ đẩy căng thẳng leo thang đáng kể. Vậy Hizbullah là gì và đáng gờm đến mức nào?
"Dự án Kênh Phù Nam tại Cam Bốt do Trung Quốc đỡ đầu, tuy nói là tuyến thủy vận thôi nhưng vẫn có thể là kênh dẫn thủy nhập điền. Trung Quốc có chiến lược khai thác mối hận thù giữa dân tộc Cam Bốt và Việt Nam để chia rẽ họ, đồng thời tài trợ hàng chục tỉ Mỹ kim mua chuộc Lào và Cam Bốt, ràng buộc họ thành con nợ, để cô lập Việt Nam. Bài tham luận này trình bày một chiến lược hoàn toàn mới cho Việt Nam và liên minh chiến lược cho Việt Nam và Cam Bốt để đối phó với Trung Quốc và Lào." Đó là lời Dẫn nhập bài biên khảo về dự án đào kênh Phù Nam của Cam Bốt, bài của kỹ sư Phạm Phan Long, một chuyên gia về Đồng bằng sông Cửu Long. Sau bài viết của nhà văn Ngô Thế Vinh, đây là tiếng chuông cảnh báo thứ hai về vấn đề này. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp để giành lại chủ quyền cho dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam, tiền nhân của chúng ta đã gian khổ cùng một lòng đánh đuổi bọn xâm lăng ra khỏi mảnh đất thân yêu mà Tổ tiên ta đã bao đời dầy công gầy dựng. Cho nên nhìn lại dòng lịch sử dân tộc từ Bắc vào Nam ở đâu và lúc nào cũng có những vị anh hùng dân tộc đứng lên liều mình cứu nước chống giặc ngoại xâm...
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng..
Người nhập cư Việt Nam được biết đến với “đạo đức làm việc” mạnh mẽ của họ. Họ sẵn sàng bỏ ra nhiều giờ và hy sinh để đạt được mục tiêu của mình. Tính cần cù này đã giúp họ thành công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh doanh, giáo dục và các ngành nghề khác...
Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.