Hôm nay,  

Con Đường Tự Diệt

23/04/200600:00:00(Xem: 9313)

Năm 1984, bà Barbara W. Tuchman viết cuốn sách nhan đề: “The March of Folly” tạm dịch là: “Con đường tự diệt” (*) . Bà Tuchman nhắc lại những hành động điên rồ của con người qua lịch sử để chứng minh con người là một sinh vật có lẽ ngu ngốc và tàn ác nhất trong những sinh vật hiện hữu trên trái đất.<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Bà Tuchman nói đến sự độc đoán của con người, tham vọng quá đáng, sự suy thoái trước mắt ai cũng thấy (mà không làm gì cả) và nhấn mạnh đến sự “ngu xuẩn” và “ngoan cố” là hai tính chất mà theo bà Tuchman sẽ dẫn nhân loại đến bờ vực thẳm. Theo bà, trong chính trị tính ngu xuẩn và ngoan cố là cứ ù lì đi theo con đường ngược với quyền lợi của quốc gia.

 

Cuốn sách của bà Barbara Tuchman viết cách đây 26 năm, ít ai chú ý vì luận đề phức tạp. Bà Tuchman định nghĩa tính ngu xuẩn trong chính trị có hai tính chất. Thứ nhất nó không phải là sản phẩm của một cá nhân mà là sản phẩm của một tập thể, và thứ hai ngay trong thời điểm nó đang xẩy ra đã có nhiều người cảnh giác sự tai hại của nó, và đưa ra giải pháp giải quyết khác nhưng những người có quyền quyết định không chịu lắng nghe.

 

Tính ngu xuẩn chính trị, bà Tuchman viết, không lệ thuộc vào thời gian và nơi chỗ. Nơi nào, thời nào nó đều có thể xẩy ra dưới mọi hình thức trong suốt lịch sử có ghi chép của con người, dù đó là thời đại độc tài hay thời đại dân chủ.

 

Bà Tuchman đưa ra một vài thí dụ điển hình trong lịch sử như trong thời đại Renaissance (gọi là thời đại Phục Hưng) tại Ý, con người trở nên tin tưởng vào khả năng tự tạo hạnh phúc cho mình chứ không do một quyền lực siêu nhiên nào ban phát, thì trong vòng 60 năm từ 1470 cho đến 1530 sáu vị Giáo hoàng (trong đó có 5 vị gốc Ý) đã không chút quan tâm đến những biến chuyển tâm lý này và do đó mới có phong trào bỏ đạo để hình thành giáo phái Tin Lành kéo theo sau đó nhiều thế kỷ chết chóc cho thế giới Tây phương.

 

Một thí dụ khác là thái độ  kiêu ngạo và tự mãn của quốc hội Anh đã làm Anh quốc mất Mỹ châu. Bà Tuchman viện dẫn quyết định có tính quyết đoán kẻ cả mà quên nhìn vào thực tế của Quốc hội Anh quốc vào năm 1763 khi thông qua luật buộc người Anh ở thuộc địa Mỹ phải đóng thuế cho Anh hoàng. Vào thế kỷ thứ 18 người Anh sang định cư ở Mỹ vẫn xem mình là con dân của nước Anh, nhưng họ không chấp nhận quyền hành của quốc hội Anh vì họ không được phép bầu người đại diện vào quốc hội. Quyết định của quốc hội Anh đã làm cho toàn dân tại thuộc địa bắc Mỹ phẫn uất, kết quả làm nước Anh mất thuộc địa Mỹ và từ đó mất dần uy tín của một đại cường.

 

Khi bà Tuchman viết cuốn “The March to Folly” cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc đã 9 năm nhưng vết thương “hội chứng” gọi là hội chứng Việt Nam (Vietnam Syndrome) vẫn còn và bà Tuchman đã dùng trường hợp Hoa Kỳ dính vào cuộc chiến đó là một trường hợp “làm mà không biết mình đang làm gì” của những nhà chính trị một thời được mệnh danh là “the bests and the brightests” của nước Mỹ.

 

Trước khi cuộc thế giới chiến tranh thứ 2 sắp kết thúc tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt quyết định đã đến lúc chấm dứt chế độ thuộc địa trên thế giới, nhất là quyết ý ngăn cản sự trở lại Đông Dương của chính phủ de Gaulle, dù Pháp dọa rằng nếu Mỹ không giúp Pháp lấy lại Đông Dương Pháp có thể ngả theo phía Liên bang Xô viết trong cuộc tranh chấp của hai phe thắng trận tại Âu châu. Tổng thống <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Rooseveltđang do dự thì ông đột ngột qua đời (15/4/1945) và sau đó các chính quyền Truman, Eisenhower nhượng bộ Pháp. Chỉ có tổng thống John F. Kennedy là người thấy trước được sự khó khăn mà Hoa Kỳ sẽ lãnh lấy trên vai người Pháp và đã tính toán việc rút ra khỏi Việt Nam, nhưng sau khi ông bị ám sát chết tháng 11 năm 1963 thì việc nước Mỹ dính vào cuộc chiến Việt Nam không còn là một vấn đề bàn cãi nữa mà trở thành một phần trong chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Bà Barbara Tuchman kết luận cuộc chiến Việt Nam làm cho hơn 50 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và hằng triệu người Việt hai bên chiến tuyến chết là một cuộc chiến mà những người dẫn tới đó thật ra đã không ý thức rõ mình đang làm gì. Ông McNamara, một người trong cuộc đã bày tỏ sự trăn trở này trong cuốn In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vienam ông viết năm 1995.

 

Những chính thể cộng sản, nói là chính quyền của giới công nhân cũng hành động không khác gì các chế độ thời phong kiến, nếu không muốn nói tệ hại hơn. Dưới chính thể dân chủ quốc xã, Hitler và tập đoàn của ông đã giết 6 triệu người Do thái. Mao Trạch Đông với chương trình “bước nhảy vọt” đã có ảo mộng làm lò luyện thép trong từng ngôi xóm nhỏ để sản xuất cho kịp người Mỹ, nông dân bỏ đồng bỏ ruộng làm ít nhất từ 20 đến 30 triệu người dân chết đói. Và cái giá dân Nga trả để thiết lập thế giới đại đồng mộng tưởng của Lenine và sau đó là Stalin có lẽ đã nặng hơn những lỗi lầm và sự quá đáng của Nga hoàng nhiều (lúc bà Barbara Tuchman viết cuốn sách, Liên bang Xô viết chưa sụp đổ). Bà Tuchman không quên nhắc đến cuộc cách mạng Pháp năm 1789, cuộc cánh mạng dân chủ mẫu mực làm mất bao nhiêu bút mực trên thế giới cũng mau chóng trở thành một chế độ độc tài dưới danh nghĩa bảo vệ dân chủ khi luật sư Maximilien Robespierre nắm chắc được chính quyền.

 

Đặt vấn đề như vậy, bà Tuchman tự hỏi: Nếu biết bản chất của con người và chính quyền là như vậy tại sao những người hiền (the wise men) không tính trước để tránh những hậu quả tai hại đó.Theo bà Tuchman, nhà hiền triết Plato đã nghĩ đến vấn đề này và ông đề nghị đào tạo một lớp chuyên viên lãnh đạo chính trị, những người không phải chỉ được huấn luyện về nghệ thuật chỉ huy mà còn phải được huấn luyện và có truyền thống về một triết lý sống tốt đẹp.

 

Barbara Tuchman nói cái tồi tệ nhất trong chính trị là những đầu óc gần như gỗ đá, tin tưởng vào suy tưởng cho là tuyệt đối của mình. Nếu bà Barbara Tuchman có cơ hội quan sát hiện tượng về cái gọi là đại hội 10 của đảng Cộng Sản Việt Nam đang họp tại Hà Nội bà sẽ không ngần ngại ghi vào sách của bà đây là trường hợp đặc thù nhất của tính gỗ đá của trí tuệ. Trong thời gian chuẩn bị kéo dài hơn một năm, đảng Cộng Sản Việt Namnói sẽ thay đổi để hội nhập vào thế giới văn minh đang trên đà toàn cầu hóa. Một số người Việt có lòng trong và ngoài nước “tưởng thật” cũng đóng góp ý kiến với tất cả nhiệt tình và thiện chí. Nhưng “con voi đẻ ra con chuột”. Bản báo cáo chính trị của đại hội tái xác định nguyên tắc đi theo con đường “Mác Xít – Lêninít”, nói cách khác là vẫn đi theo con đường độc đảng, không đa nguyên, đa đảng, không bỏ điều 4 Hiến pháp. Và cái đại hội ồn ào đang diễn ra tại Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 4 sẽ không khác gì hơn một hội đồng con nít “nói mà chơi”.

 

Cái điều lạ lùng mà những ai từng qua sát tình hình đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam không khỏi không ngạc nhiên là trước đại hội của đảng Cộng sản Việt Nam khoảng hai tuần lễ có một phong trào “tuyên ngôn dân chủ” và điều này cũng trùng hợp với  thời gian (từ ngày 12 đến ngày 17/4/20) một phái đoàn dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ do chính ông chủ tịch Hạ nghị viện Dennis Hastert hướng dẫn đến thăm Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn người ta thấy xuất hiện ba văn kiện liên quan đến việc đòi hỏi dân chủ, và quyền lập hội. Ngày 6/4/2006 là một bản gọi là “Lời kêu gọi đảng Cộng sản Việt Namcho phép thành lập chính đảng ở Việt Nam” do 116 người trong nước ký tên mà đứng đầu là các linh mục Công giáo. Hai ngày sau (8/4/2006), một bản văn khác chỉnh đốn hơn gọi là bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cũng lại được phổ biến từ trong nước (có lẽ vì thấy bản tuyên bố đòi lập chính đảng quá nặng mầu sắc tôn giáo). Chưa hết, ngày 15/4/2006 tại San José, California đảng Nhân Dân Hành Động lại họp báo và cho phổ biến một bản văn gọi là “Tuyên Ngôn Dân Chủ” do Phong Trào Dân Chủ Việt Nam ký tên và sau này được giải thích là do ông Trần Khuê soạn thảo.

 

Người Việt Nam trong và ngoài nước đã vui mừng khi đọc bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ ngày 8/4, nhưng còn hy vọng và chờ đợi hơn ở bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến tại San José, hy vọng rằng nó báo hiệu một bước nhảy vọt trong cuộc tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam giống như bản Hiến chương 1977 của hơn 200 nhân sĩ Tiệp Khắc đã tạo ra cuộc cách mạng nhung tại xứ này gần 30 năm trước. Nhưng mọi người đã hết sức thất vọng vì nội dung bản Tuyên Ngôn Dân Chủ phổ biến ngày 15/4 tại Hoa Kỳ quá nghèo nàn và không nói được gì. Qua những gì ông Trần Khuê đã viết trong quá khứ (xem tập Đối Thoại do Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng phát hành năm 1993) không ai tin ông Trần Khuê, dù cho trong sự vội vàng tuyệt đối, là tác giả của một bản văn nghèo nàn như vậy.

 

Chưa thấy ai trong số 118 người ký yên trong bản Tuyên Ngôn Dân Chủ Tự do bị làm phiền phức, ngoại trừ ông Đỗ Phương Nam. Và linh mục Nguyễn Văn Lý (một người đấu tranh có nhiều “vấn đề” chưa được giải thích thỏa đáng trong thời gian ông ở tù và ngay cả trong nội bộ Giáo hội Công giáo) lên tiếng thay, giải thích về các phong trào dân chủ và tại sao lại có hai bản Tuyên Ngôn trong một thời gian ngắn như vậy. Bản giải thích của linh mục Nguyễn Văn Lý không giải thích được gì ngoại trừ muốn nói lên rằng hai nhân vật chính yếu của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam trong nước là ông Hoàng Minh Chính và Trần Khuê không còn chơi với nhau nữa. Ông Nguyễn Chính Kết giải thích thêm qua một lá thư gởi chung ra hải ngoại rằng có sự lỉnh kỉnh trong Phong Trào Dân Chủ là do quan niệm chính trị, tính quyết đoán và lề lối làm việc có tính cách cá nhân của linh mục Nguyễn Văn Lý.

 

Một giả thuyết cho rằng Phong Trào Dân Chủ Việt Nam muốn khai thác cơ hội, thứ nhất là sự bận rộn của đảng Cộng sản Việt Nam với đại hội 10 gần kề, thứ hai là áp lực do cuộc thăm viếng của phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ nên đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không thể hay không dám hành động gì. Nếu giả thuyết này đúng thì quả thật phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ còn phải phải học hỏi nhiều, trước hết là hiểu mình hiểu ta, thứ hai là tính ỷ lại vào ngoại bang. Và điều quan trọng hơn cả là qua những gì đã xẩy ra chúng ta không thể gạt bỏ gỉả thuyết rằng đảng Cộng sản Việt Namđã gài người và đang thao túng phong trào dân chủ mà mục đích chính là làm mất sự tin tưởng của người dân.

 

Cuốn sách của bà Barbara W. Tuchman là một cuốn sách đáng đọc, nhất là những nhà đấu tranh dân chủ cho Việt Namtrong và ngoài nước để tránh cho phong trào dân chủ đang đi gần tới đích lại tự dẫn nhau vào con đường tự diệt. 

 

Trần Bình Nam

 

April 21, 2006

 

[email protected]

 

www.tranbinhnam.com

 

(*) Thật ra ý của bà Barbara Tuchman là: “Con đường ngu ngốc”.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Làm cách nào để tôi được xóa khoản nợ sinh viên? Ai đủ điều kiện để được tha khoản nợ sinh viên? Liệu các khoản nợ tư nhân có được xóa? Các khoản nợ của sinh viên đã tốt nghiệp có đủ điều kiện để được tha nợ không? Các khoản vay của Parent Plus có đủ điều kiện không? Sinh viên còn đang đi học có đủ điều kiện được tha nợ không? Các khoản vay FFEL có đủ điều kiện không? Chương trình có giới hạn những gì người vay đang còn đi học phải trả không? Tôi có thể vay nợ liền bây giờ và được hưởng theo chính sách mới không? Chính phủ sẽ xác định thu nhập của tôi như thế nào để đủ điều kiện được tha nợ? Tôi nợ hơn 10,000 đô la. Khi nào thì tôi bắt đầu phải thanh toán trở lại? Tôi có phải trả thuế cho khoản nợ sinh viên đã được tha không? Điều này có làm cho lạm phát tồi tệ hơn? Chi phí xóa nợ cho sinh viên là bao nhiêu? Liệu điều này có mang lại lợi ích cho những người Mỹ giàu có không?
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.