Hôm nay,  

Song ngữ: Đức Phật dạy: Thường trực thấy vô ngã sẽ giải thoát

13/12/202407:38:00(Xem: 7121)

Đức Phật dạy: Thường trực thấy vô ngã sẽ giải thoát
 

Tuệ Trung Thượng Sỹ, một Thiền sư lớn của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh từ cần tự nhìn thấy thân và tâm mình như một con trâu bùn, vì khi trâu bùn bước xuống sông là sẽ tự tan rã. Nghĩa là, luôn luôn tự thấy mình là vô ngã, và đó là cách vượt sông sinh tử. Đó cũng là một cách mô tả lời dạy của Đức Phật.
 

Trong Kinh SN 12.70 Sutta và Kinh SA 347 Sutra, Đức Phật dạy rằng những người thường trực thấy thân và tâm là vô ngã sẽ giải thoát, sẽ trở thành A la hán, mà không cần tu luyện bất kỳ thần thông nào phức tạp.
 

Hai kinh này kể chuyện một người ngoại đạo tên là Susima xuất gia, vào trong Tăng đoàn của Đức Phật. Khoảng nửa tháng sau, Susima nhìn thấy nhiều vị sư tới trước Đức Phật, bạch rằng họ đã chứng quả A la hán, rằng họ đã làm xong những việc nên làm. Đức Phật chấp nhận rằng các vị sư đó đã chứng quả A la hán, đã giải thoát.
 

Sau đó, Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng thần thông, đã đi xuyên ngang qua vách, qua núi, đã đi trên nước không chìm như đi trên đất liền, hay đã ngồi kiết-già bay trên hư không như chim bay. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng được thiên nhĩ, có thể nghe xa ngàn dặm. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng được tha tâm thông, biết được tâm của các chúng sanh khác, người khác. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã nhớ được nhiều đời quá khứ. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã đắc tứ thiền, hay tam thiền, hay nhị thiền, hay sơ thiền. Các vị sư đó nói rằng họ không có các định lực như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng vì sao các sư tự biết đã chứng quả A la hán. Các sư nói rằng các sư đã chứng được tuệ giải thoát.
 

Sau đó Susima tới bạch với Đức Phật, được Đức Phật giải thích là: Đúng là các vi sư kia đã chứng quả A la hán nhờ có tuệ giải thoát, họ có hiểu biết về các pháp vận hành trong Duyên khởi, sau là trí tuệ về Niết-bàn.
 

Đức Phật nói rằng trước tiên phải thấy rằng sắc là vô thường. Tức là tất cả những gì được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường. Vì chúng là vô thường, nên sẽ khổ, chịu sự biến hoại, nên cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”
 

Tương tự, với thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế, cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
 

Khi người tu thấy như thế, sẽ nhàm chán, và rồi ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát.”
 

Kinh Phật có kể về một cách để thường trực quán như chơn rằng: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Đức Phật kể về ẩn dụ tiếng đàn. Có một vị vua một hôm nghe tiếng đàn hay chưa từng có, nên yêu cầu các quan đem tiếng đàn tới. Các quan dâng lên vua cây đàn, nói rằng tiếng đàn từ cây đàn, nhưng là xuất phát từ hàng trăm duyên khác nhau, từ dây đàn, gỗ làm cán đàn và thùng đàn, từ người đàn giỏi từng học nhiều năm. Nếu thiếu một duyên, thì không thể có tiếng đàn. Thêm nữa, tiếng đàn chuyển biến từng khoảnh khắc, vừa sinh ra là đã diệt mất, nên không thể nắm giữ lấy tiếng đàn, vì tất cả những cái được nghe đều là vô ngã.
 

Sau khi kể về ẩn dụ tiếng đàn, Đức Phật nói rằng người tu cần phải quán sát sắc, thọ, tưởng, hành và thức không hề có cái gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
 

Video dài 4:36 phút:


https://youtu.be/KWv8cMwkMUI 

.
.... o ....


Buddha taught that the continuous recognition of non-self leads to liberation.
 

Tuệ Trung Thượng Sỹ, a prominent Vietnamese Zen master of the 13th century, once stated that to traverse the river of birth and death, one must perceive one’s body and mind as a mud buffalo. When a mud buffalo enters the river, it disintegrates. In other words, one should always view oneself as non-self; this perspective is the key to crossing the river of birth and death. This concept also serves as a fundamental description of the Buddha’s teachings.
 

In the SN 12.70 Sutta and the SA 347 Sutra, the Buddha taught that those who consistently perceive the body and mind as non-self will attain liberation and become Arahants, without the need to develop any complex supernatural powers.
 

These two suttas recount the story of a non-Buddhist named Susima who joined the Buddha's Sangha. Approximately two weeks later, Susima observed many monks approaching the Buddha, reporting that they had achieved Arahantship and fulfilled their spiritual obligations. The Buddha acknowledged that these monks had indeed attained Arahantship and were liberated.
 

Then Susima asked the monks whether they had attained any supernatural powers, passed through walls and mountains, walked on water without sinking as if on land, or sat cross-legged and flown in the air like birds. The monks replied that they possessed no such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved divine hearing, the ability to hear from a thousand miles away. The monks replied that they did not possess such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved telepathy, the ability to read the minds of other beings and individuals. The monks responded that they did not possess such supernatural powers.
 

Susima asked the monks if they remembered many past lives. The monks replied that they did not possess such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved the fourth jhana, the third jhana, the second jhana, or the first jhana. The monks replied that they did not possess such powers of concentration.
 

Susima asked the monks how they knew they had attained Arahantship. The monks replied that they had achieved liberating wisdom.
 

Then Susima went to inform the Buddha, who explained: It is true that those monks attained the fruit of Arhatship through liberating wisdom. First, they gained an understanding of the dharmas involved in Dependent Origination, and subsequently, they acquired wisdom about Nirvana.
 

The Buddha taught that one must first recognize the impermanence of form. In other words, everything that is seen, heard, smelled, tasted, touched, or thought about is transient. Because it is impermanent, it leads to suffering and is subject to change; therefore, it must be contemplated as it truly is: “This is not mine, this I am not, this is not my self.”
 

Similarly, feelings, perceptions, mental formations, and consciousness should be contemplated as they truly are: “This is not mine, this I am not, this is not my self.”
 

When the practitioner observes this, he becomes disinterested and subsequently relinquishes desire. By letting go of desire, he attains liberation. In this state of liberation, wisdom emerges, accompanied by the realization: “I am liberated.”
 

The Buddhist scriptures describe a method for continually contemplating the truth: This is not mine, this I am not, this is not my self.
 

The Buddha once shared the parable of the sound of a lute. One day, a king heard a beautiful melody emanating from a lute and requested his officials to bring him the source of that sound. The officials presented the king with a lute, asserting that the sound originated from the instrument itself. However, the sound was actually the result of numerous factors: the strings, the wood used to craft the lute's body and neck, and the skill of the lute player, who had dedicated many years to mastering the instrument. If any one of these elements were absent, the sound of the lute would not exist. Moreover, the sound of the lute changes with each moment; as soon as it is produced, it fades away, making it impossible to grasp or hold onto the sound.
 

After sharing the metaphor of the lute, the Buddha emphasized that practitioners must recognize that form, feeling, perception, mental formations, and consciousness do not possess anything that can be identified as me, mine, or my self.
 

Video 5:44 minutes long:


https://youtu.be/oLqL8jayaRk
.
Video made by Nguyên Giác

Reference:
SN 12.70 Sutta:
- Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau
- Sujato Bhikkhu: https://suttacentral.net/sn12.70/en/sujato
- Bodhi Bhikkhu: https://suttacentral.net/sn12.70/en/bodhi
SA 347 Sutra:
- Thầy Tuệ Sỹ & Thích Đức Thắng: https://suttacentral.net/sa347/vi/tue_sy-thang
SN 35.246 Sutta:
- Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/sn35.246/vi/minh_chau
SA 1169 Sutra:
- Thầy Tuệ Sỹ & Thích Đức Thắng: https://suttacentral.net/sa1169/vi/tue_sy-thang
.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Pechanga Resort Casino có nhiều món ăn quốc tế đa dạng, từ những món đặc biệt sang trọng tới những món ăn nhanh và ngon cho những ai vội đi. Quý vị sẽ tìm thấy một thế giới các món khoái khẩu tại những nhà hàng từng được thưởng huy chương ở Pechanga. Nếu quý vị tự nghĩ mình có khuynh hướng thích hưởng thụ những món ăn thật đặc biệt, xin hãy chuẩn bị cho một cảm nghiệm đầy ấn tượng.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Người nữ khoa học gia Mỹ đó chính là Eunice Foote. Vào năm 1856, tài liệu khoa học tóm tắt của Foote lần đầu tiên mô tả sức mạnh phi thường của khí carbon dioxide để hấp thụ sức nóng – động lực của việc hâm nóng toàn cầu, theo Giáo Sư Sylvia G. Dee. Carbon dioxide là loại khí không mùi, không vị, trong suốt tạo ra khi con người đốt các nhiên liệu, gồm than đá, dầu thô, xăng và gỗ. Khi bề mặt của Trái Đất nóng lên, người ta có thể nghĩ rằng sức nóng bắn trở lại không gian. Nhưng, nó không đơn giản như vậy. Bầu khí quyển vẫn nóng hơn được dự kiến chủ yếu do khí thải nhà kính như khí carbon dioxide, methane và hơi nước bầu khí quyển, mà tất cả đều hấp thụ nhiệt từ bên ngoài. Chúng được gọi là “khí thải nhà kính” bởi vì, giống như kính của nhà kính, chúng giữ sức nóng trong bầu khí quyển và tỏa chiếu trở lại bề mặt của hành tinh. Ý tưởng bầu khí quyển giữ sức nóng được biết, nhưng không phải là nguyên do. Foote đã thực hiện một thử nghiệm đơn giản.
Tôi nhớ lại một người tham dự tóm tắt sự chống đối của bà đối với các thuốc chích ngừa trong cách như sau: Bà nói rằng chính quyền đã yêu cầu bà cho phép một tác nhân sinh học sống được tiêm vào cơ thể con cái của bà dù nó không thể bảo đảm an toàn của con bà. Vì những lý do này, theo bà nói, bà có mọi quyền để quyết định rằng con bà sẽ không nhận thuốc chích ngừa. Sự chống đối của người phụ nữ này là do bà nghi ngờ rằng thuốc chích ngừa MMR, cho bệnh sởi, quai bị và ban đỏ đặc biệt, đã gây ra chứng tự kỷ. Tuyên bố này đã được cho thấy, nhiều lần và kết luận, là không có giá trị. Nhưng bà không hoàn toàn sai. Nhiều thuốc chích ngừa chứa các tác nhân sống, dù chúng ở trong tình trạng suy yếu. Và trong khi các phản ứng bất lợi và ngay cả nguy hiểm đã được biết xảy ra, nguy cơ như thế là rất nhỏ. Thực tế, ưu thế của chứng cứ cho thấy rằng nguy cơ tai hại hay chết người đối với trẻ em không chích ngừa các bệnh truyền nhiễm như MMR thì lớn hơn rất nhiều so với bất cứ nguy cơ nào liên kết
Sở Di Trú USCIS là cơ quan chính của hệ thống di trú Hoa Kỳ, nhưng trong suốt hai năm qua, Sở Di Trú đã không có một nhà lãnh đạo nào được Thượng viện xác nhận. Cựu Tổng thống Trump đã chọn bổ nhiệm các giám đốc điều hành (tạm thời) để ông có thể tránh quá trình xác nhận của Thượng viện.
Tuần qua, nước Mỹ chứng kiến sự gia tăng số người mới bị lây nhiễm biến thể delta trong một ngày vượt quá 100,000 người trong khi vẫn còn hàng triệu người ở Mỹ không chích ngừa và một số tiểu bang chống lại các biện pháp đeo khẩu trang. Trong khi đó tình hình đại dịch tại Việt Nam trong tuần rồi có vẻ giảm bớt dù các bệnh viện đã quá tải.
Sự gia tăng của Covid-19 mà đã khiến cho nhiều người phải vào các bệnh viện để điều trị lên cao chưa từng thấy tại nhiều nơi ở Miền Nam cũng là các tiểu bang đang bị tổn hại như Hawaii và Oregon mà đã từng chứng kiến các câu chuyện thành công chống đại dịch, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Sau nhiều tháng mà trong đó họ đã giữ các trường hợp bị lây và người vào bệnh viện ở các mức có thể kiểm soát, họ đang chứng kiến tiến trình này tụt giốc khi con số kỷ lục bệnh nhân lấn át các nhân viên chăm sóc sức khỏe mệt mỏi. Oregon – giống như Florida, Arkansas và Louisiana trong những ngày gần đây – có nhiều người vào bệnh viện để điều trị Covid-19 hơn bất cứ thời điểm nào khác trong đại dịch. Hawaii đã đạt tới mức đó.
Chỉ mấy tuần trước khi Hoa Kỳ chấm dứt cuộc chiến của họ tại Afghanistan theo lịch trình đã định, chính phủ Biden đã vội vã đưa 3,000 quân tới phi trường Kabul để giúp di tản một phần Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Hành động này đánh dấu tốc độ kinh ngạc về sự xâm chiếm phần lớn đất nước của Taliban, gồm việc chiếm Kandahar hôm Thứ Năm, là thành phố lớn thứ hai và là nơi khai sinh ra phong trào Taliban.
Người Mỹ tiếp tục di cư tới Miền Nam và Miền Tây vì sự đắt đỏ của Miền Trung Tây và Miền Đông Bắc, theo các số liệu cho thấy. Phần trăm của dân số da trắng đã giảm từ 63.7% trong năm 2010 xuống còn 57.8% trong năm 2020, thấp kỷ lục, do bởi sự sút giảm sinh suất trong các phụ nữ da trắng so với các phụ nữ gốc La Tinh và gốc Á. Con số người da trắng không phải gốc La Tinh đã co cụm từ 196 triệu trong năm 2010 xuống còn 191 triệu. Người da trắng tiếp tục là nhóm chúng tộc nhiều nhất, nhưng điều đó đã thay đổi tại Califonria, nơi người gốc La Tinh đã trở thành nhóm chủng tộc lớn nhất, gia tăng từ 37.6% lên 39.4% trong một thập niên, trong khi phần trăm người da trắng đã giảm từ 40.1% xuống cỏn 34.7%. Người gốc Á Châu là nhóm chủng tộc đông dân nhất, đạt tới 24 triệu người vào năm 2020, tăng vọt hơn 1/3.
Trong khi số người vào bệnh viện điều trị vi khuẩn corona tại địa phương gia tăng, hầu hết Hội Đồng Giám Sát Quận Cam tiếp tục chận đứng các thảo luận công khai và các dữ liệu đề phòng về sự lây lan của vi khuẩn, theo bản tin của báo Voice of Orange County tường thuật hôm 11 tháng 8 năm 2021. Theo chỉ thị của Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Quận Cam Andrew Đỗ, Quận Cam hiện là quận lớn duy nhất tại Miền Nam California không cung cấp các cập nhật về Covid cho công chúng tại các cuộc họp công khai của họ, dù gia tăng 700% số người vào các bệnh viện địa phương điều trị vi khuẩn corona kể từ tháng 6 khi Ông Đỗ ngưng cập nhật.
Tôi, Tô Phạm Thái, Chủ Nhiệm Nguyệt San KBC, và một số thân hữu trân trọng kính mời & cảm tạ trước về sự ủng hộ tham dự cho hai chương trình sau đây, Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh dự của chúng tôi. Vui lòng RSVP trước ngày 15 Tháng 10 để tiện việc sắp xếp. Phần văn nghệ của hai chương trình do chính tác giả, thành viên và thân hữu trình bày. Chương trình có phần giải lao thân mật. ĐA TẠ và Xin liên lạc với Ban Tổ Chức: Tô Phạm Thái, Nguyệt San KBC: (714) 412-9013 Ngọc Nhung, VNTV-Ohana: (808) 366-4533 Phạm Gia Đại, Người Tù Cuối Cùng (714) 797-3392
Khu phức hợp Trang trại sẽ tiếp tục hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp và kết nối công chúng với khu đất thông qua việc tiếp cận giải trí, giáo dục nông nghiệp và môi trường trên các vùng đất xung quanh. Người dân cũng sẽ có cơ hội để tìm hiểu về văn hóa và lịch sử của khu vực. Trang trại nằm trên vùng đất tổ tiên của nhiều dân tộc bản địa, bao gồm Bộ lạc Muwekma Ohlone và Bộ lạc Amah Mutsun, những người đã quản lý vùng đất qua hàng trăm năm và hiện vẫn cư trú trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.