Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6395)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Canada đã tổ chức ngày lễ toàn quốc đầu tiên vinh danh các nạn nhân và những người còn sống sót của hệ thống nhà trường cư dân bản địa của đất nước này, theo bản tin của CNN tường thuật hôm Thứ Năm, 30 tháng 9 năm 2021. Ngày lễ luật định đến một ngày sau khi một tòa án liên bang đã giữ nguyên phán quyết năm 2016 ra lệnh chính phủ Canada phải bồi thường cho các trẻ em người Da Đỏ là những em bị đưa vào cơ sở nuôi dưỡng. Ngày Quốc Gia Vì Sự Thật và Hòa Giải hôm Thứ Năm và quyết định của tòa án đã nêu bật lịch sử của sự kỳ thị và làm hại đối với các cộng đồng First Nations.
Và bây giờ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm! Hôm nay, tôi xin viết những dòng chữ này để chia sẻ cùng quý vị khán thính giả và anh chị em nghệ sĩ, hầu tưởng nhớ đến người con gái Pleiku “mà đỏ, môi hồng” tên là Phi Nhung, một ca sĩ với tấm lòng nhân hậu dành cho tha nhân, cho cuộc đời và cho quê hương, đất nước.
Theo tài liệu được công bố hôm Thứ Năm, đã có 580 vụ tự tử vào năm ngoái so với 504 vụ trong năm trước đó. Trong số đó, số tự tử bởi binh sĩ của Vệ Binh Quốc Gia đã nhảy vọt lên khoảng 35%, từ 76 vụ trong năm 2019 lên 103 vụ vào năm ngoái, và binh sĩ Lục Quân tại ngũ đã chứng kiến tăng gần 20%. Các vụ tự tử trong Thủy Quân Lục Chiến đã tăng hơn 30%, từ 47 vụ lên tới 62 vụ; trong khi lực lượng Dự Bị Thủy Quân Lục Chiến từ 9 vụ tự tử lên 10 vụ.
Hạ Viện đã chấp thuận dự luật tài trợ ngắn hạn với tỉ số phiếu 254-175 không lâu sau khi Thượng Viện thông qua với tỉ số phiếu 65-35. Một đa số lớn các nhà lập pháp Cộng Hòa tại cả hai viện đã bỏ phiếu chống. Dự luật cần thiết để giữ chính phủ hoạt động một khi năm tài khóa hiện nay chấm dứt vào giữa đêm Thứ Năm. Việc thông qua sẽ cho các nhà lập pháp thêm thời gian để soạn thảo các dự luật chi tiêu mà sẽ tài trợ cho các cơ quan liên bang và các chương trình họ điều hành.
Chủ quyền của một quốc gia là chuyện sinh tử của một dân tộc, bởi thế khi Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng bắt nạt và đầy tham vọng xâm chiếm Biển Đông thì các nước có tuyên bố chủ quyền trong vùng biển này tức khắc phải lên tiếng phản đối, mà cụ thể gần nhất là việc ngoại trưởng Phi Luật Tân yêu cầu Bộ Ngoại Giao của nước này gửi 3 công hàm phản đối các hoạt động trái pháp luật của TQ ở Biển Đông, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Năm, 30 tháng 9 năm 2021.
Có ít nhất 116 người bị giết sau cuộc bạo động trong nhà tù tại Ecuador hôm Thứ Ba. Trong đó, có 5 người bị chặt đầu, và 80 người khác bị thương trong cuộc chiến băng đảng liên hệ các đường dây ma túy quốc tế tại nhà tù Litoral Penitentiary ở thị trấn Guayaquil, theo báo Wall Street Journal.
Lễ Khánh Thành Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị sẽ là ngày thứ bảy, 13 tháng 11 được dự trù vào lúc 11 giờ sáng tại Công Viên Lịch Sử (History Park), San Jose, bên cạnh Bảo Tàng Việt Việt Nam. UBXDTD sẽ phối hợp cùng với Bảo Tàng Viện Việt Nam để tổ chức buổi lễ.
Bộ Trưởng Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh của California, Tiến sĩ Mark Ghaly cung cấp thông tin tóm tắt về Kế Hoạch Hành Động của Vắc-xin tại California, cụ thể là thông tin chi tiết về cách tiểu bang chuẩn bị để phân phối vắc-xin tăng cường trên toàn tiểu bang
Các viên chức đứng đầu quốc phòng Hoa Kỳ đã nói rằng việc xâm chiếm Afghanistan của Taliban có thể theo dõi ngược lại một thương lượng giữa nhóm này và chính phủ Trump, theo bản tin của BBC Tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Tư, 29 tháng 9 năm 2021. Hiệp ước được gọi là Doha đã được ký vào tháng 2 năm 2020 và ấn định ngày cho cuộc rút quân đội Hoa Kỳ. Tướng Frank McKenzie nói rằng hiệp ước này đã có “hiệu quả tai hại thật sự” lên chính phủ Afghan và quân đội. Bộ Trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin đã đồng ý điều đó, nói rằng thỏa thuận nói trên đã giúp Taliban “mạnh hơn.”
Hai nhà lãnh đạo này đang cố gắng làm nhẹ đi những khác biệt tại Quốc Hội mà đã làm hao mòn thế đa số của Đảng Dân Chủ trong 2 tuần qua. Và họ đã cố gắng để kéo các đồng viện của họ và Tổng Thống Joe Biden lại với nhau. Chủ Tịch Hạ Viện và Lãnh Đạo Dân Chủ tại Thượng Viện đã tới Bạch Ốc vào xế trưa Thứ Tư để cố gắng và củng cố kế hoạch việc làm và gia đình của Biden, mà đang trên bờ vực sụp đổ khi các nhà nghị sĩ trung dung tại Thượng Viện từ chối cắt bỏ một thương lượng về chi tiêu xã hội trước cuộc bỏ phiếu được dự định của Hạ Viện về gói hạ tầng cơ sở.
Một cuộc chiến giữa các băng đảng trong một nhà tù tại thành phố biển Guayaquil của Ecuador đã giết chết ít nhất 100 tù nhân và làm bị thương 52 người khác trong sự kiện mà các viên chức thẩm quyền nói là cuộc thảm sát nhà tù tồi tệ nhất trong lịch sử của nước này, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Tư, 29 tháng 9 năm 2021. Ít nhất 5 người đã được báo cáo bị chặt đầu, theo các viên chức cho biết hôm Thứ Tư.
Không biết trăm, ngàn năm nữa, nhân loại còn có cơ may gặp lại một thiên tài như Albert Einstein? Cụ là bậc thần thánh trong ngành Vật lý học, ngàn năm một thủa giáng trần để nâng cao tầm hiểu biết của con người lên một tầng cao chót vót. Vậy mà kẻ phàm phu này, có một thời gian dài, cứ nghi ông cụ vì vô tình, hoặc đãng trí, đã tỏ ra thiếu tinh thần trách nhiệm. Trách nhiệm với chính một sản phẩm của mình, với những ai tin dùng nó. Sau khi lập thuyết Tương Đối Đặc Biệt (TĐĐB), Einstein đã có nhiều cơ hội để thấy những chỗ bất ổn, sai lầm nghiêm trọng, khiến thuyết không thể sống sót.
Cách nay 75 năm, vào ngày 21 tháng 9 năm 1946, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cùng luật sư Mai Văn Dậu, ông Nguyễn Văn Sâm, ông Trần Văn Ân và giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (Nguyễn Bảo Toàn) tuyên bố thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, viết tắt là Đảng Dân Xã.
Tân Thủ Tướng Nhật Bản sẽ là cựu Ngoại trưởng Nhật Bản Kishida Fumio, người mới đắc cử chức Chủ tịch đảng cầm quyền Dân chủ tự do (LDP), và tuần sau sẽ kế nhiệm Thủ tướng Suga Yoshihide. Kishida cũng là cựu Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu Chính sách của đảng này.
Công ty này hôm Thứ Ba nói rằng họ đã cung cấp cho các nhà giám sát sức khỏe các tài liệu từ một nghiên cứu gần đây về thuốc chích ngừa của họ trong trẻ em từ 5 tới 11 tuổi. Các viên chức đã cho biết trước đây là họ sẽ nạp hồ sơ xin Cơ Quan FDA trao thẩm quyền sử dụng trong những tuần lễ tới. Một khi công ty nạp đơn xin, các nhà giám sát Hoa Kỳ và các viên chức sức khỏe công cộng sẽ xem xét chứng cứ và kết quả với các ủy viên cố vấn của họ trong những cuộc họp công khai để quyết định xem việc chích người có an toàn và đủ hiệu quả để đề nghị sử dụng chưa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.