Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6282)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Vào 9:00 sáng ngày Thứ Tư 8 tháng 9 2021 giờ Việt Nam (hay 7:00 tối Thứ Ba 7 tháng 9 giờ California), tổ chức Phi Lợi Nhuận Rise đã tổ chức buổi tư vấn qua zoom lần thứ hai, để ba bác sĩ ở Mỹ giải đáp thắc mắc cho người dân Việt Nam về cách điều trị, phòng ngừa Covid-19.
Đảng Dân Chủ Quận Cam sẽ tổ chức ngày đi vận động “Super Saturday Canvass” tại trụ sở chính của mình vào ngày Thứ Bảy 9 tháng 11, với buổi tập họp có nhiều diễn giả bắt đầu vào lúc 9:00 AM.
Vì dịch bệnh lây lan ngày càng nhanh do một số người không chịu chích ngừa, và nhằm bảo đảm sự an toàn sức khoẻ cho tất cả quý vị, nay thay mặt Cội Nguồn Tổ Việt Foundation, Ban Tổ Chức xin được thông báo là đình hoản lại cho đến một thời gian an toàn nhất. Thay vào chương trình này sẽ có Chương Trình CÓ MẶT CHO NHAU 15 Online trong tương lai.
Trong khi tất cả trẻ em đều có thể bị truyền nhiễm Covid-19, chúng không trở nên bệnh thường như những người lớn. Hầu hết trẻ em có các triệu chứng nhẹ hay không có triệu chứng. Theo Viện Nhi Khoa Mỹ (AAP) và Hội Bệnh Viện Trẻ Em (CHA), tại Hoa Kỳ trẻ em chiếm khoảng 13% tất cả các trường hợp bị lây nhiễm Covid-19. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em từ 10 tới 14 tuổi ít bị truyền nhiễm Covid-19 so với người từ 20 tuổi trở lên.Tuy nhiên, một số trẻ em bị bệnh Covid-19 nặng. Chúng có thể cần phải vào bệnh viện, được điều trị trong phòng chăm sóc đặc biệt hay đặt ống thở để giúp chúng thở, theo Cơ Quan CDC cho biết. Hơn nữa, trẻ em với các điều kiện tiềm ẩn, như béo phì, tiểu đường và suyễn, có thể có nguy cơ cao bị bệnh Covid-19 nặng hơn. Trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh, các điều kiện di truyền hay những điều kiện ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh hay sự trao đổi chất cũng có thể có nguy cơ cao bị bệnh Covid-19 nghiêm trọng. Nghiên cứu cũng cho thấy số người bị nhiễm Covid-19
Inspiration4 là sứ mệnh đưa những người dân thường đầu tiên lên quỹ đạo dự kiến vào ngày 15 tháng 9. Chỉ huy Jared Isaacman đã chọn Bệnh Viện Nghiên Cứu Vì Trẻ Em St. Jude là đơn vị thụ hưởng và cam kết hỗ trợ $100 triệu đô-la cho bệnh viện St. Jude để truyền cảm hứng cho những người khác quyên góp thêm $100 triệu đô-la nhằm đẩy nhanh nghiên cứu về những căn bệnh nguy hiểm ở trẻ em và cứu trợ trẻ em trên toàn thế giới. Ông Isaacman đã tặng hai suất bay cho bệnh viện St. Jude, trong đó cô Hayley Arceneaux 29 tuổi, người sống sót khỏi bệnh ung thư khi còn nhỏ và là trợ lý bác sĩ tại bệnh viện St. Jude sẽ bay một suất. Cô Arceneaux sẽ đại diện cho trụ cột Hy vọng. Bốn thành viên phi hành đoàn, trong đó có ông Isaacman và cô Arceneaux, sẽ lên tên lửa Falcon 9 tại NASA’s Kennedy Space Center (Trung Tâm Vũ Trụ Kennedy) của NASA ở Florida và bay quanh Trái đất trong nhiều ngày trên tàu vũ trụ Dragon, trước khi họ quay trở lại Trái đất bằng cuộc hạ cánh êm ái trên mặt nước.
Tình hình đại dịch trong tuần qua tại Việt Nam vẫn chưa có gì khả quan bởi vì chỉ riêng Sài Gòn không thôi mỗi ngày có hơn 12,000 người bị lây nhiễm Covid-19 trong khi số người được chích thuốc người vẫn còn quá ít. Trong tuần qua dư luận cũng để ý đến tin Taliban công bố Nội Các của chính phủ lâm thời tại Afghanistan, với người đứng đầu Bộ Nội Vụ là một tên tội phạm bị FBI treo giải 5 triệu đô la để lấy đầu ông ấy. Ngày 11 tháng 9 năm 2021 cũng là ngày tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố tấn công tại Mỹ.
Một hàng không mẫu hạm của Hải Quân Hoa Kỳ đã đi vào Biển Đông trong tuần này mang theo các chiến đấu cơ tối tân F-35 lần đầu tiên đưa vào phục vụ, theo bản tin của Business Insider được đăng trên Yahoo News hôm Thứ Năm, 9 tháng 9 năm 2021. Hàng Không USS Mẫu Hạm Carl Vinson đã khởi hành từ San Deigo vào đầu tháng, đánh dấu lần đầu tiên nó đi vào Thái Bình Dương. Vào lúc đó, chiếc hàng không mẫu hạm lớp Nimitz có tên USS Carl Vinson trở thành hàng không mẫu hạm của Hải Quân Hoa Kỳ đầu tiên bố trí các chiến đấu cơ thế hệ thứ 4 F/A-18 Super Hornets và thế hệ thứ năm F-35C Lightning II Joint Strike Fighters.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
Khoảng 200 người ngoại quốc, gồm người Mỹ, đã rời Afghanistan trên một chuyến bay thương mại ra khỏi Kabul hôm Thứ Năm, 9 tháng 9 năm 2021, với sự hợp tác của Taliban – là chuyến ra đi có quy mô lớn như thế kể từ khi quân đội Mỹ kết thúc việc rút quân hơn một tuần trước, theo AP tường thuật hôm Thứ Năm. Chuyến bay của hãng hàng không Qatar Airways tới Doha đánh dấu sự đột phá trong sự phối hợp gập ghềnh giữa Hoa Kỳ và những nhà cai trị mới của Afghanistan. Sự trì trệ cả ngày của các chuyến bay thuê tại một phi trường khác đã bỏ lại nhiều trăm người hầu hết là người Afghan bị kẹt, chờ Taliban cho phép ra đi.
“Luật đó rõ ràng là vi hiến theo tiền lệ có từ lâu của Tòa Án Tối Cao,” theo Bộ Trưởng Tư Pháp Merrick Garland phát biểu tại cuộc họp báo công bố vụ kiện. Bộ Tư Pháp cho rằng luật của Texas vi phạm một cách hoàn toàn bất hợp pháp các quyền hiến định của phụ nữ và vi phạm Điều Khoản Tối Cao của Hiến Pháp, mà trong đó nói rằng luật liên bang thay thế luật tiểu bang. Các viên chức liên bang cũng quan ngại đến các tiểu bang khác có thể ban hành các luật tương tự mà sẽ “lấy đi quyền hiến định của các công dân của họ,” theo ông cho biết.
Trong hành động và lời lẽ mạnh nhất đối với đại dịch của ông, Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Năm, 9 tháng 9 năm 2021, đã công bố các yêu cầu chích thuốc ngừa liên bang mới rộng rãi ảnh hưởng tới cả 100 triệu người Mỹ trong một nỗ lực hết mình để gia tăng việc chích thuốc ngừa Covid-19 và cắt giảm sự gia tăng biến thể delta, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Năm. Phát biểu tại Bạch Ốc, Biden đã chỉ trích gay gắt khoảng 80 triệu người Mỹ là những người chưa được chích ngừa, dù đã có sẵn nhiều tháng và nhiều ưu đãi.
Chương trình 'Foods of Garden Grove' gồm có một trang web và một bản đồ ẩm thực (foodie map) giới thiệu các nhà hàng địa phương. Trên trang web 'Foods of Garden Grove', mọi người có thể xem một số hình ảnh đồ ăn và thức uống đặc sản từ các nhà hàng địa phương và khám phá các quán ăn mới cùng những hướng dẫn chi tiết trên trang mạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.