Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6278)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nước Mỹ đã chính thức chấm dứt cuộc chiến kéo dài nhất trong lịch sử tại Afghanistan sau khi kết thúc cuộc di tản người Mỹ, người Afghans làm việc cho Mỹ và các kiều dân ngoại quốc khác vào đúng hạn chót 31 tháng 8 năm 2021 mà Tổng Thống Joe Biden đã đưa ra. Trong khi đó tình hình đại dịch tại Việt Nam cũng chưa thấy có gì khả quan, với số người bị lây nhiễm Covid-19 tại Sài Gòn vẫn còn gia tăng.
Ông viết trong tuyên bố rằng, “Giờ đây những người hoàn toàn xa lạ được trao quyền cho chính họ từ chối trong những quyết định sức khỏe cá nhân và riêng tư nhất bị đối diện bởi các phụ nữ.” Biden nói rằng ông đang tung ra một nỗ lực “toàn bộ chính phủ” để đối phó với luật này, trao nhiệm vụ cho Bộ Y Tế và Bộ Tư Pháp “để xem những bước gì mà Chính Phủ Liên Bang có thể làm để bảo đảm rằng các phụ nữ tại Texas có thể tiếp cận việc phá thai an toàn và hợp pháp.” Ông cho biết nỗ lực này sẽ được lãnh đạo từ trong Bạch Ốc.
“Và rồi chúng tôi phải trả lương cao để có nhân viên từ tiểu bang khác tới tiểu bang của chúng tôi,” theo Coule nói. Lương trung bình cho một y tá di chuyển đã tăng từ $1,000 lên tới $2,000 một tuần trước đại dịch và hiện nay lên từ $3,000 tới $5,000, the Sophia Morris, phó chủ tịch công ty nhân viên chăm sóc sức khỏe Aya Healthcare có trụ sở tại San Diego, cho biết. Cô nói rằng Aya đang tuyển dụng 48,000 y tá di chuyển.
Bờ Biển Miền Đông Hoa Kỳ sửng sốt đối diện với tử vong đang gia tăng, mực nước sông dâng cao, thiệt hại do bão lốc và tiếp tục kêu gọi cứu cấp hôm Thứ Năm, 2 tháng 9 năm 2021, sau khi tàn dư của Bão Ida bao trùm khắp khu vực với mưa lớn kỷ lục, làm hơn 40 người chết đuối trong nhà và trong xe của họ, theo bản tin của Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Năm.
Hơn 1,300 người tại quận Thanh Xuân ở Hà Nội đã được đưa đi cách ly là nơi trở thành ổ dịch lớn nhất tại thành phố này, với 388 người bị nhiễm Covid-19 kể từ ngày 23 tháng 8 tới nay, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Năm, 2 tháng 9 năm 2021.
Vào ngày 25 tháng Tám, AARP đã tổ chức một buổi thảo luận trực tuyến mang tên – “Cuộc Thảo Luận về #StopAsianHate của AARP: Bảo Vệ Những Người Lớn Tuổi Trong Cộng Đồng AAPI Của Chúng Ta Bằng Các Dữ Liệu” – để giải quyết các sự thù hận đối với người Á Châu từ góc nhìn về dữ liệu. Sự kiện này có bao gồm một bài thuyết trình từ các chuyên gia nghiên cứu về các phát hiện khảo sát mới nhất có liên quan đến cộng đồng AAPIs 50-Plus, theo sau đó là một buổi thảo luận về các chủ đề như sự ảnh hưởng về tinh thần và sức khỏe của dịch COVID-19 trên những người AAPIs lớn tuổi, việc tư khai báo các sự việc thù hận đới với người AAPI, và tác động của các sự việc thù hận đối với những người phụ nữ AAPI trên 50 tuổi.
Những người Mỹ gốc Việt đến Hoa Kỳ tị nạn hơn 40 năm trước và con cái của họ đang vận động để giúp đỡ những người Afghanistan mà họ thấy cùng chia sẻ một quá khứ vào thời điểm kết thúc hỗn loạn một cuộc chiến kéo dài khác ở châu Á.
Hôm Thứ Tư, báo Atlanta Journal-Constitution loan tin 1 cậu bé 13 tuổi tại Georgia chết đột ngột vì COVID — mặc dù trường hợp này không có vẻ gì nguy hiểm, theo các bác sĩ. Cậu bé Porter Helms xét nghiệm dương tính từ tháng trước, phải tự cách ly ở nhà, được 1 tuần lễ thì khi thân phụ về nhà nhận thấy cậu nằm bất tỉnh.
Tiếp tục chương trình giúp đỡ cư dân gốc Việt ở Vùng Little Saigon điền đơn thi quốc tịch miễn phí, Văn Phòng Vận Động Tranh Cử của cựu Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (HarleyForCongress) xin mời quí cư dân đến với ngày trợ giúp điền đơn nhập tịch trong tháng
Viên chức tài trợ sinh viên tại California Patrick Perry đã bắt đầu kiểm tra thường xuyên các hồ sơ tài trợ tiền học liên bang trong vài tuần qua khi ông bắt gặp một con số bí ẩn: 60,000 hồ sơ xin tiền học từ một nhóm sinh viên đặc biệt trong năm nay nhiều hơn năm ngoái, theo bản tin của Báo Los Angeles Times tường thuật hôm Thứ Tư, 1 tháng 9 năm 2021 được phổ biến trang mạng Yahoo News. Họ là những người nạp đơn xin lần đầu đối với các trường cao đẳng cộng đồng California là những người hơn 30 tuổi, có lợi tức thấp hơn $40,000 một năm và đang tìm cách học để lấy bằng cao đẳng 2 năm thay vì chứng chỉ huấn nghệ. Họ có khắp tiểu bang, nạp đơn xin tại 105 trong số 116 trường trong hệ thống Cao Đẳng Cộng Đồng California – với con số nhiều nhất tại Cerritos, Pasadena, Chaffey, Merced và Antelope Valley. Và các hồ sơ nạp xin tiền học của họ đã bắt đầu gia tăng từ tháng 5 đến giữa tháng 8.
Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã đặt tên chủng Mu là một biến thể được quan tâm hôm Thứ Hai, là biến thể thứ 5 được đặt tên. Các quan ngại của nhiều viên chức về biến thể phát xuất từ các đột biến của nó, mà cho thấy nó có thể có khả năng trốn tránh các thuốc chích ngừa, và, trong khi các trường hợp lây nhiễm là thấp, WHO lưu ý trong một phúc trình rằng chúng đang gia tăng liên tục tại Colombia, nơi nó phát xuất, và tại Ecuador.
Lãnh Đạo Cộng Hòa tại Thượng Viện Mitch McConnell đã dập tắt tin đồn rằng Tổng Thống Joe Biden sẽ bị luận tội về việc ông rút quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan, theo bản tin của NBC News tường thuật hôm Thứ Tư, 1 tháng 9 năm 2021. Tại một sự kiện ở thành phố Pikeville thuộc tiểu bang Kentucky, vào xế trưa Thứ Tư, McConnell nói rằng, “sẽ không có bất cứ cuộc luận tội nào” với Biden sau vụ rút lui lộn xộn, theo liverstream về sự kiện này của chi nhánh Đài CBS cho thấy.
Tướng Lục Quân Hoa Kỳ Mark Milley, chủ tịch hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, hôm Thứ Tư, 1 tháng 9 năm 2021, nói rằng “có thể” Hoa Kỳ sẽ tìm cách hợp tác với Taliban trong các cuộc không kích khủng bố tại Afghanistan chống lại các dân quân Nhà Nước Hồi Giáo và những nhóm khác, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Tư.
Bằng chứng: ”Sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt giãn cách liên tiếp khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là các địa phương phía Nam. Theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.