Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 5957)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
California đang mở rộng để người dân tiếp cận với bảo hiểm sức khỏe Medi-Cal trong khi tiểu bang tiếp tục làm việc để làm chậm lại sự lây lan của biến thể delta của Covid-19, theo bản tin của Đài KCRA tường thuật hôm Thứ Ba, 27 tháng 7 năm 2021. Thống Đốc Gavin Newsom và các lãnh đạo khác đã tụ họp tại một bệnh viện ở Thung Lũng Miền Trung hôm Thứ Ba để giới thiệu sự mở rộng của Medi-Cal cho những người cư dân California không có giấy tờ hợp lệ trên 50 tuổi.
“Các anh có thể cảm thấy, một cách riêng tư, bị suy sụp một chút,” theo Kinzinger, cựu Không Quân Hoa Kỳ, nói với các cảnh sát trong cuộc điều trần đầu tiên được tổ chức bởi ủy ban chọn lựa của Hạ Viện điều tra vụ nổi đậy ngày 6 tháng 1. Ông nói thêm rằng, “Nhưng các anh đã thắng. Các anh là pháo đài.” “Các nền dân chủ không được định danh bởi những ngày tồi tệ của chúng ta. Chúng ta được định danh bằng cách chúng ta trở lại từ những ngày tồi tệ,” theo Kinzinger phát biểu tiếp.
Fanone là một trong 4 viên chức thực thi pháp luật điều trần về các kinh nghiệm của họ để bảo vệ Tòa Nhà Quốc Hội trong ngày đầu của các cuộc điều trần trước Quốc Hội trước ủy bang chọn lực điều tra các cuộc tấn công vào ngày 6 tháng 1. Ông đã mô tả cách mà ông bị lôi xuống các bực thang của Tòa Nhà Quốc Hội, “bị tóm, bị đánh, bị hành hạ, trong khi bị gọi là kẻ phản bội đất nước của tôi” khi những người bạo loạn tước bỏ huy hiệu và dụng cụ của ông và đe dọa giết chết ông. “Hãy giết hắn với chính khẩu súng của hắn đi,” ông nhớ lại những kẻ bạo loạn la to như thế. “Tôi vẫn còn nghe những chữ đó trong tai tôi hôm nay.” Ông kể thêm, “Tôi nhớ lúc đó tôi nghĩ có cơ hội rất tốt để bị xé xác hay bị bắn chết với chính vũ khí của tôi.” Có lúc trong cuộc điều trần gần 15 phút của ông, Fanone hướng sự thất vọng của ông vào nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa và những người khác là những người đã hạ thấp các sự kiện của ngày 6 tháng 1 và phớt lờ lời cầu xin từ giới thực thi pháp luật
Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Kamala Harris có thể sẽ đến Việt Nam và Singapore vào tháng 8, dù các chi tiết về chuyến công du như thế vẫn chưa đúc kết, theo một nguồn hiểu biết về vấn đề này cho biết hôm Thứ Hai, 26 tháng 7 năm 2021 qua bản tin của Reuters. Đại dịch vi khuẩn corona có thể là chương trình nghị sự của Bà Harris, theo nguồn tin trên cho biết, với điều kiện ẩn danh.
Tuần này, nhà hàng Ý này đã công bố một lệnh khác: Bằng chứng không chích ngừa được yêu cầu cho người vào tiệm ăn. 2 tấm bảng mang thông điệp được dán ở các cửa sổ của nhà hàng, nằm giữa một phòng tập thể dục và một tiệm beauty salon trong một khu phố nhỏ ở Đường Hamilton Avenue và Brookhurst Street. “Chúng tôi không khoan dung cho sự ngu xuẫn phản quốc, chống Mỹ,” theo tấm bảng đọc được viết thế. Dù một nhân viên xác nhận rằng tiệm ăn này không thực sự kiểm tra tình trạng chích ngừa của thực khách, các tấm bảng nói trên có vẻ đập vào mắt những người ủng hộ việc chích ngừa và các biện pháp khác để kềm chế sự lây lan đang gia tăng của vi khuẩn.
Chùa Hương sen sẽ tổ chức tu học mỗi tháng 1 lần, vào chủ nhật đầu tiên của mỗi tháng. Với sự hướng dẫn của Hòa thượng Kim Đài và Ni Sư Giới Hương
Thiếu nữ Nishiya Momiji của Nhật Bản đã thắng môn trượt ván đường phố của phụ nữ tại Thế Vận Hội Tokyo 2020, theo CNN tường thuật hôm Thứ Hai, 26 tháng 7 năm 2021. Ở tuổi 13, cô bé hiện là một trong những người đoạt huy chương vàng trẻ nhất trong lịch sử Thế Vận Hội. Cô này chỉ già hơn 1 tháng so với bé gái giữ kỷ lục hiện nay, là tay lặn người Mỹ Marjorie Gestring, đã 13 tuổi và 267 ngày khi cô thắng huy chương vàng tại Thế Vận Hội Berlin vào năm 1936.
Vị dân biểu Cộng Hòa 47 tuổi này nói tiếp rằng, “Tôi muốn tống cổ từng người TQ trong nước này là người trung thành với Đảng CSTQ. Họ sẽ biến mất… Tôi không cần biết họ có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu đất, có bao nhiêu cơ sở kinh doanh, có bao nhiều tiền hiến tặng cho các trường cao đẳng và đại học. Tôi không cần biết con cái của họ là ai và có bao nhiêu sinh viên mà họ gửi tới các đại học của chúng ta.” Bằng cách nào bà Greene xác định sự trung thành của từng người TQ với Đảng CSTQ là điều không rõ.
Hoa Kỳ sẽ không gỡ bỏ bất cứ hạn chế đi lại nào hiện có “ở thời điểm này” vì quan ngại đối với biến thể Delta của Covid-19 lây lan cao và việc gia tăng số người bị lây nhiễm vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ, theo Bạch Ốc đã xác nhận hôm Thứ Hai, 26 tháng 7 năm 2021 qua bản tin của báo The Guardian tường thuật hôm Thứ Hai.
California sẽ yêu cầu tất cả công chức tiểu bang và nhân viên chăm sóc sức khỏe cung cấp giấy chứng nhận tình trạng chích thuốc ngừa hay phải thử nghiệm thường kỳ giữa lúc gia tăng các trường hợp bị lây nhiễm từ biến thể Delta truyền nhiễm cao, theo Thống Đốc Gavin Newsom tuyên bố trong cuộc họp báo hôm Thứ Hai qua tường thuật của CNN hôm Thứ Hai, 26 tháng 7 năm 2021.
Hoa Kỳ đã trao tặng thêm chiếc tàu cảnh sát biển thứ hai cho Việt Nam là chiếc CSB 8021 loại Halminton cỡ lớn có trọng tải 3,000 tấn và dài 115 mét, có gắn một đại bác Otobreda 76 mm trước mũi, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Hai, 26 tháng 7 năm 2021.
Một buổi tối thăm người không nhà, nhìn những người không nhà, không tài sản, không tiền bạc nhưng họ sống rất vui, đùm bọc lẫn nhau, có thức ăn chia cho nhau, dù sống ở dưới gốc cây, lề đường. Dù không nhà nhưng có người có cây đàn guitare, với tiếng đàn vui tươi, cũng làm cho đời sống của họ thêm phong phú.
Tại hội trường Thành Phố Westminster, 8200 Westminster Blvd, Westminster, CA 92683 vào lúc 1:30 chiều Chủ Nhật Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần thứ 31 cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.
Tại Hội trường Thư Viện Việt Nam vào lúc 10 giờ trưa Thứ Hai ngày 19 Tháng Bảy năm 2021, Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH đã tổ chức cuộc họp báo thông báo về “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 14” sẽ được tổ chức vào lúc 11 giờ trưa cho đến 6 giờ chiều Chủ Nhật ngày 29 tháng 8 năm 2021 tại 1025 Westminster Mall, Thành Phố Westminstter CA. 92683.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.