Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 5926)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chuyện thứ nhì vui, tràn đầy hạnh phúc. Đoàn lính đang diễn hành, sắp tới khán đài. Bổng một anh lính trẻ, tân binh của Trường Võ bị, đưa tay ra hiệu vào nhóm người đừng trên lề đường coi lễ. Một cô đầm, xiêm y tươm tất, vội tiến ra tới gần anh lính. Anh lính liền bước ra khỏi hàng, quì xuống, móc túi lấy ra chiếc nhẫn đính hôn, đeo vào ngón tay áp út của cô đầm. Họ đứng dậy, dĩ nhiên là ôm nhau hôn tuy còn luật ngăn cách vì dịch vũ hán! Cấm hôn!
Thống đốc Laschet đã nói về một "thảm họa lũ lụt có tỷ lệ lịch sử". Đồng nghiệp của ông từ Rheinland-Pfalz, Malu Dreyer (SPD), gọi tình hình “vẫn còn cực kỳ căng thẳng ở tiểu bang của chúng tôi”. Tại Trier, Bà Dreyer nói thêm: "Sự đau khổ cũng chưa kết thúc." Tại một cuộc họp video với Laschet, bà Merkel đã hứa sẽ hỗ trợ ngắn hạn và dài hạn từ chính phủ liên bang cho những người bị ảnh hưởng.
Hình ảnh người dân Cuba biểu tình đòi hỏi “Tự do, Nhân quyền” đã khiến cho người Việt ước ao, hy vọng tại Việt Nam cũng diễn tiến như vậy. Trong khi đấy, người dân Cuba ở gần đất nước tự do Hoa Kỳ (Cuba cách tiểu bang Florida của Hoa Kỳ 449 miles/723 km đường chim bay) nên đấu tranh thuận lợi hơn. Thế nhưng, tại Việt Nam thì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang thần phục Trung cộng là nước láng giềng để tồn tại nên người Việt gặp phải khó khăn, tuy vậy “Con gium xéo lắm cũng quằn.”
Một chánh án liên bang tai miền nam Texas hôm Thứ Sáu, 16 tháng 7 năm 2021, đã ra lệnh cho chính phủ Biden phải ngưng cho nạp đơn mới đối với chương trình di trú thời Obama mà đã bảo vệ hàng trăm ngàn di dân trẻ khỏi bị trục xuất, theo bản tin của CNBC tường thuật hôm Thứ Sáu. Lệnh này tuyên bố rằng chương trình Hành Động Trì Hoãn Đối Với Các Trẻ Em Đến Mỹ Lúc Còn Bé, được biết là DACA, được “lập ra là vi phạm luật và sự tồn tại của nó là vi phạm luật.”
Thấy trong bảng tin của Ronn Blitzer/Fox News/July 6, câu này: “Nebraska Gov. Pete Ricketts has declared July to be Victims of Communism Remembrance Month and is speaking out against the actions of communist regimes throughout history and the present”, tôi mỉm cười. Quả là một tin vui! Tin vui này là kết quả tốt đẹp do nhiều chủng tộc và người miền Nam Việt Nam đến Mỹ tị nạn cộng sản, sau tháng Tư năm 1975, vun bồi bằng không biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt!
Vào trưa xế Thứ Sáu, các ty y tế của các quận Alameda, Contra Costa, Marin, San Francisco, San Mateo, Santa Clara, Sonoma, và Thành Phố Berkeley đã khuyến nghị rằng “mọi người, bất kể là đã chích ngừa, đeo khẩu trang bên trong những nơi công cộng để bảo đảm rằng tất cả những người không chích ngừa phải đeo khẩu trang tại những nơi đó.”
Chính quyền CSVN đã bỏ tù một người đàn ông 18 tháng hôm Thứ Sáu, 16 tháng 7 năm 2021 vì vi phạm luật cách ly nghiêm ngặt, lây lan vi khuẩn cho nhiều người khác và gây thiệt hại tài chánh cho chính quyền, theo truyền thông nhà nước tường thuật qua trích thuật của Reuters hôm Thứ Sáu. Đào Duy Tùng, 30 tuổi, đã bị kết án về tội “lây lan bệnh truyền nhiễm nguy hiểm” tại một phiên tòa một ngày ở Tòa Án Nhân Dân tỉnh Hải Dương phía bắc VN, theo báo Vietnam News (VNA) tường thuật.
Tình trạng đại dịch vi khuẩn corona tại Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu giảm sút trong khi số người bị lây nhiễm và tử vong từ Covid-19 tại Sài Gòn và nhiều tỉnh trên toàn quốc vẫn tiếp tục gia tăng mà tính tới Thứ Sáu, 16 tháng 7 năm 2021, đã có tổng cộng 225 người chết và hơn 44,000 trường hợp bị dính vi khuẩn, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) tường thuật hôm 16 tháng 7.
Hàng chục người chết và hơn 1.000 người được cho là mất tích sau khi cơn lũ lớn quét qua các khu vực của Tây Âu. Các nỗ lực cấp cứu và phục hồi đang được tiến hành ở Đức, Bỉ, Luxembourg và Hà Lan, nơi các con sông dâng cao đã cuốn qua các thị trấn, kéo theo tất cả mọi công trình trên đường đi của dòng chảy. Hình ảnh cho thấy quy mô tàn phá đáng kinh ngạc. Lũ lụt là do lượng mưa lớn nhất ở đó trong hơn một thế kỷ. Bên kia Đại Tây Dương lại có một mối đe dọa trái ngược: Khoảng 71 vụ cháy rừng lớn hiện đang thiêu rụi 1 triệu mẫu Anh trên khắp nước Mỹ và khói từ những đám cháy có thể được nhìn thấy từ California đến New York. Cũng tại khu vực Thành phố New York, hàng triệu người đang được khuyến cáo về nhiệt độ lên cao (chỉ số nhiệt độ) có thể gây cho người ta cảm giác như 103 độ trong hôm nay.
Trong khi miễn dịch được tạo ra do thuốc chích ngừa có thể không tồn tại vĩnh viễn, vẫn chưa rõ khi nào thuốc tăng cường sẽ được cần tới. Đáng khích lệ, tất cả thuốc chích ngừa Covid-19 đã được trao thẩm quyền sử dụng gần đây đều tạo ra trí nhớ miễn dịch mạnh chống lại vi khuẩn corona. Thuốc chích ngừa dạy cho trí nhớ tế bào B của hệ thống miễn dịch của bạn để tạo ra các kháng thể khi bạn bị truyền nhiễm vi khuẩn. Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra những mức độ cao của trí nhớ tế bào B trong các hạch bạch huyết của người đã chích ngừa thuốc của hãng Pfizer trong vòng ít nhất 12 tuần lễ sau khi họ được chích ngừa. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các thuốc chích ngừa Covid-19 được trao thẩm quyền sử dụng đang tiếp tục cung cấp sự bảo vệ ngay cả chống lại các biến thể đang trỗi dậy của vi khuẩn corona. Một trong những người tham gia cuộc nghiên cứu, thuốc chích ngừa Johnson & Johnson có hiệu quả 73% và 82% trong vòng 14 ngày và 28 ngày sau khi chích, ngăn ngừa bệnh nặng từ biến thể beta.
Cơ hội được gia hạn cho chương trình này rất cao. Chương trình đầu tư trung tâm vùng vực đã được gia hạn 20 lần và đây không phải là lần đầu tiên có sự chênh lệch giữa các lần gia hạn. Trong mọi trường hợp, chương trình đã được tái ủy quyền. Câu hỏi khó hơn là khi nào chương trình sẽ được kéo dài. Câu trả lời ngắn gọn là không ai biết chắc chắn. Quốc hội sẽ họp trong khoảng ba tuần vào tháng Bảy năm 2021 và phải chờ kết quả vào tháng Chín. Rất có thể chương trình sẽ không được kéo dài đến tháng 9.
Tình hình đại dịch trong tuần qua có vẻ ảm đạm vì khắp thế giới chứng kiến sự gia tăng số người bị lây nhiễm Covid-19 và số tử vong, trong đó có Hoa Kỳ với 46 tiểu bang gia tăng ít nhất 10%, và đặc biệt tại Sài Gòn phải phong tỏa nhiều nơi để chận đà lây lan của vi khuẩn.
Nam Dương báo cáo 54,517 người mới lây nhiễm Covid-19, theo các viên chức thẩm quyền cho biết hôm Thứ Tư, 14 tháng 7 năm 2021, kỷ lục toàn quốc trong một ngày và là dấu hiệu cảnh báo cho quốc gia có dân số đông đứng hàng thứ tư trên thế giới, theo CNN tường thuật. Đảo quốc này, với 270 triệu dân – hiện đang báo cáo một ngày có nhiều trường hợp bị truyền nhiễm hơn Ấn Độ, biến Nam Dương thành tâm điểm mới đối với đại dịch tại Châu Á. Nếu sự lây lan này tiếp tục không suy giảm, thì theo các chuyên gia nói rằng nó có thể đẩy hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nam Dương tới bờ vực thảm họa.
Ít nhất 70 người đã thiệt mạng tại Đức và Bỉ sau một trận mưa lớn kỷ lục làm các con sông vỡ bờ, theo bản tin của BBC tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Năm, 15 tháng 7 năm 2021. Hầu hết các nạn nhân là tại Đức, nhưng ít nhất 11 người đã chết tại Bỉ, với nhiều người hơn được báo cáo đang mất tích.
Hoa Kỳ và Đức sẽ đứng chung để chống lại sự bành trướng của Nga, theo Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden phát biểu khi ông chào đón Thủ Tướng Đức Angela Merkel sắp ra đi tới thăm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn hôm Thứ Năm, 15 tháng 7 năm 2021 qua tường thuật của BBC tiếng Anh hôm Thứ Năm. Ông Biden nói rằng ông đã nêu quan ngại với Bà Merkel về đường ống dẫn khí đốt từ Nga tới Đức, nhưng họ đã đồng ý Moscow không thể được phép sử dụng năng lượng như một vũ khí. Tổng thống Hoa Kỳ nói rằng 2 đồng minh cũng chống lại các hành động phản dân chủ của Trung Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.