Hôm nay,  

Biểu lộ dấu hiệu cởi mở có thể đưa cả nhà đổi từ Đạo Tin Lành sang Công Giáo, Charlie Kirk bị bắn chết

12/09/202514:15:00(Xem: 9076)
blank 

Biểu lộ dấu hiệu cởi mở có thể đưa cả nhà đổi từ Đạo Tin Lành sang Công Giáo, Charlie Kirk bị bắn chết
 

Bài viết sau đây của giáo sư Mark Haas, trên tạp chí Crisis Magazine, Thứ Sáu ngày 12 tháng 9 năm 2025, nhan đề "Charlie Kirk and His Surprising Sentiments Toward the Catholic Church" (Charlie Kirk và những cảm xúc đáng ngạc nhiên của ông hướng về Giáo hội Công giáo), với tiểu đề: "There is a lot of evidence that Charlie Kirk was leading his family towards the Catholic Church; not least of all, his public call to venerate the Mother of God" (Có rất nhiều bằng chứng cho thấy Charlie Kirk đang dẫn dắt gia đình mình về theo Giáo hội Công giáo; đặc biệt là lời kêu gọi công khai của ông về việc tôn kính Đức Mẹ).

Tin về vụ ám sát Charlie Kirk đã gây chấn động trong giới tôn giáo và chính trị. Được biết đến rộng rãi là một nhà hoạt động bảo thủ và là người sáng lập Turning Point USA, Kirk thường xuất hiện trước công chúng với tư cách là một nhà bình luận đầy nhiệt huyết, người luôn sẵn sàng tranh luận về chính trị, văn hóa và tương lai của nước Mỹ. Tuy nhiên, bên dưới vẻ ngoài sắc sảo, còn có một khía cạnh khác của Kirk đáng để suy ngẫm cẩn thận: sự đồng cảm đáng ngạc nhiên của ông đối với Giáo hội Công giáo và sự sẵn lòng—điều không phổ biến trong số những người theo đạo Tin lành—nói với sự tôn trọng về những kho báu đức tin cổ xưa của Giáo hội Công giáo.
 

Tôn kính Đức Mẹ Maria
Một trong những ví dụ nổi bật nhất về điều này là khi Kirk giải quyết câu hỏi về Mary (Đức Mẹ Maria). Ông bắt đầu bằng một lời thú nhận thẳng thắn: "Trước hết, tôi muốn nói rằng tôi nghĩ chúng ta, những người theo đạo Tin Lành và những người theo đạo Tin Lành Phúc Âm, đã tôn kính Đức Bà Maria chưa đủ. Bà rất quan trọng. Bà là một chiếc bình chứa Chúa và Đấng Cứu Thế của chúng ta."

Đây không phải là kiểu hùng biện điển hình của những người theo đạo Tin Lành. Trong nhiều thế kỷ, các cộng đồng Tin Lành đã thận trọng về lòng sùng kính Đức Mẹ, thường sợ rằng điều đó làm giảm bớt sự tôn kính đối với Chúa Kitô. Nhưng lời nói của Kirk lại bộc lộ sự khiêm nhường—sự cởi mở để nhận ra rằng điều gì đó đã bị mất đi.

Ông còn đi xa hơn, cho rằng thế giới Tin lành đã "điều chỉnh quá mức" (overcorrected). Như ông giải thích: "Chúng ta không nói về Bà Maria đủ nhiều. Chúng ta không tôn kính bà ấy đủ. Rõ ràng là Mary rất quan trọng đối với những người Cơ đốc giáo đầu tiên. Có gì đó ở đó."
 

Ở đây, Kirk thể hiện sự hiểu biết về lịch sử, chỉ ra vai trò trung tâm của Đức Bà Maria trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội. Đối với ông, đây không phải là vấn đề "thái quá" của Công giáo mà là sự trở lại với sự trọn vẹn của chứng tá Kitô giáo.
 

Mary và Chủ nghĩa Nữ quyền
Có lẽ điều đáng ngạc nhiên nhất trong tất cả là ứng dụng văn hóa mà ông rút ra từ tấm gương của Mary: "Thật ra, tôi tin rằng một trong những cách để chúng ta khắc phục chủ nghĩa nữ quyền độc hại ở Mỹ là Mary chính là giải pháp. Hãy có thêm nhiều cô gái trẻ ngoan đạo, kính cẩn, đầy đức tin, để chậm lại cơn giận, đôi khi để chậm cả lời nói."

Thật khó để tưởng tượng một tuyên bố nào đó đi ngược lại văn hóa hơn thế. Vào thời điểm mà chủ nghĩa nữ quyền thường được đặt trong bối cảnh của quyền lực, sự khẳng định và sự bất tuân, Kirk thay vào đó lại tôn vinh Đức Bà Trinh Nữ như một hình mẫu của sức mạnh trong sự dịu dàng, phẩm giá trong sự khiêm nhường và vẻ đẹp trong sự vâng phục Thiên Chúa.

Ông kết thúc bằng một câu nói thể hiện sự ngưỡng mộ sâu sắc của mình: "Mary là một tấm gương phi thường và tôi nghĩ là một sự đối lập với rất nhiều độc tính của chủ nghĩa nữ quyền trong thời đại hiện đại."

Những lời như vậy, được thốt ra bởi một nhà truyền giáo Tin Lành Phúc Âm nổi tiếng, vừa táo bạo vừa sảng khoái. Chúng bộc lộ một khao khát những hình mẫu thánh thiện vượt qua hệ tư tưởng hiện đại, thay vào đó hướng đến những nhân vật thể hiện sự thánh thiện.

Truyền thống


Sự đánh giá cao những đặc điểm riêng của Công giáo này không chỉ giới hạn ở Đức Maria. Kirk cũng nhận thấy một xu hướng lớn hơn trong đời sống tôn giáo, đặc biệt là trong giới trẻ.

"Những người trẻ tuổi đang quay lại nhà thờ, điều đó là thật," ông nhận xét. "Điều đó đang xảy ra vì thành thật mà nói, đó là điều duy nhất họ có thể tìm thấy... nó là một phao cứu sinh trong cơn sóng thần hỗn loạn và vô trật tự này."
 

Trong những lời này, Kirk đã nắm bắt được điều gì đó sâu sắc và chân thực. Thời đại của chúng ta được đánh dấu bằng sự mất phương hướng, gia đình tan vỡ và sự mất ý nghĩa. Đối với nhiều thanh niên, Giáo hội đã trở thành nơi trú ẩn ổn định duy nhất—nơi những lẽ thật vĩnh cửu neo giữ họ trước những con sóng thay đổi của thế giới.

Nhưng Kirk không dừng lại ở đó. Ông nhận ra rằng điều mà những người tìm kiếm này khao khát không phải là sự mới lạ mà là truyền thống: "Họ muốn một thứ gì đó cổ xưa và đẹp đẽ. Một điều đã vượt qua thử thách của thời gian, một điều sẽ không thay đổi.

Sự hiểu biết này đã tiết lộ sự đánh giá ngày càng tăng của ông đối với bản năng Công giáo hướng tới sự liên tục. Trong một thế giới bị ám ảnh bởi sự đổi mới và tái tạo, Kirk hiểu rằng sự vĩnh cửu và vẻ đẹp mới là điều thực sự thu hút tâm hồn.

Thánh lễ theo nghi thức Latinh (The Latin Mass)
Khi mật nghị đang diễn ra trong cuộc bầu cử giáo hoàng gần nhất, Kirk đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Thánh lễ Latinh truyền thống. Ông lưu ý: "Tôi nghĩ điều thực sự hữu ích cho Giáo hội trong vị Giáo hoàng tiếp theo là có một vị Giáo hoàng không thù địch với truyền thống, với phụng vụ truyền thống... Có rất nhiều vẻ đẹp trong Thánh lễ này, vốn vẫn giữ nguyên về cơ bản."

Ông tiếp tục, nhấn mạnh rằng vẻ đẹp của hình thức bền bỉ này đang thu hút mọi người trở lại: "Có quá nhiều vẻ đẹp đến nỗi... Nó đang thu hút nhiều người quay trở lại nhà thờ."

Tóm lại, những suy ngẫm này cho thấy một người đàn ông, mặc dù có nền tảng vững chắc trong đạo Tin Lành Phúc Âm, nhưng đã bắt đầu nhìn thấy những kho tàng của Đức Tin Công Giáo. Ông thấy ở Maria một phương thuốc cho sự bối rối hiện đại. Ông nhận ra trong Giáo hội Công giáo một nơi trú ẩn cho những người trẻ tuổi bất an. Và ông thừa nhận sự cần thiết của vẻ đẹp và sự ổn định mà chỉ một truyền thống cổ xưa mới có thể mang lại.

Mở cửa cho Giáo hội Công giáo
Ngoài phụng vụ, Kirk còn nói chung hơn về sự tôn trọng của ông đối với Công giáo và khả năng cải đạo [vào Công Giáo]. Trong một cuộc phỏng vấn được đăng tải trên Tạp chí Crisis Magazine, ông nói: "Một số người bạn thân nhất của tôi trên thế giới là người Công giáo... Tôi thỉnh thoảng đi dự Thánh lễ Công giáo. Tôi không rước Mình Thánh (Eucharist)... nhưng tôi cởi mở, nhưng tôi chưa sẵn sàng."

Ông nói thêm rằng ông "rất tôn trọng truyền thống và Giáo hội Công giáo".

Đúng là Kirk chưa bao giờ chính thức hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo, nhưng điều rõ ràng là ông cởi mở với chân lý Công giáo, có lòng can đảm để nói về Giáo hội với sự tôn kính, và có khả năng hướng khán giả của mình đến điều gì đó cổ xưa và sâu sắc hơn những khẩu hiệu chính trị.

Trong nỗi đau thương trước sự ra đi của Kirk, chúng ta cũng có thể suy ngẫm về cây cầu mà ông đã xây dựng giữa những người theo đạo Tin Lành và Công giáo. Ông không phải là nhà thần học hay người của nhà thờ, nhưng ông sẵn sàng nói ra điều mà nhiều người theo đạo Tin Lành thầm lặng cảm nhận: rằng Giáo hội Công giáo, với chứng tá về vẻ đẹp và sự liên tục của mình, có điều gì đó không thể thiếu để cống hiến trong thời đại tan rã văn hóa này.

Điều trớ trêu không thể bỏ qua là người đàn ông thường xuyên bị cáo buộc là kẻ khiêu khích và chiến binh văn hóa lại trở thành nhân chứng cho điều gì đó sâu sắc hơn cả chính trị. Di sản của Charlie Kirk chắc chắn sẽ còn được tranh luận trong giới chính trị trong nhiều năm tới. Nhưng có lẽ đóng góp lâu dài nhất của ông sẽ là điều này: ông đã nhắc nhở chúng ta, dù chỉ trong chốc lát, rằng câu trả lời cho sự bất an văn hóa của chúng ta không nằm ở ý thức hệ mà ở sự thánh thiện.

Xin cho anh an nghỉ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vinh danh cộng đồng A100 và AAPI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì biểu cảm chống người Á châu đã dâng trào sau đại dịch COVID-19. Dừng AAPI Hate, một dự án theo dõi các sự cố thù ghét đối với người Mỹ gốc Á, đã nhận được hơn 1.135 báo cáo chỉ trong hai tuần. Crisis Text Line (Văn Bản Khủng Hoảng) báo cáo rằng AAPIs, đại diện cho khoảng 6% dân số Hoa Kỳ, chiếm 16% trong tất cả các văn bản khủng hoảng liên quan đến coronavirus. Đây chỉ là một vài trong số những con số được báo cáo mà cộng đồng AAPI đã phải đối mặt trong những tuần gần đây - một cộng đồng liên tục chịu sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của bất kỳ nhóm chủng tộc nào, và ít có khả năng được thăng chức lên quản lý, tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe tâm thần hoặc được tính trong cuộc Tổng Kiểm Tra Dân Số.
Hàng triệu người Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp vào tuần trước, cho thấy việc sa thải đang lan sang nhiều ngành nghề ban đầu không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc đóng cửa và gián đoạn kinh doanh liên quan đến vi khuẩn corona. Phúc trình đơn khai thất nghiệp hàng tuần của Bộ Lao Động Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 theo sau các tin hôm Thứ Tư nói rằng kinh tế trong quý đầu đã bị thiệt hại nặng nề kể từ thời kỳ Đại Suy Thoái.
Hôm Thứ Năm, 30 tháng 4, Tổng Thống Trump nói rằng ông đã thấy bằng chứng để chứng minh rằng đại dịch vi khuẩn corona truyền nhiễm từ một phỏng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nhưng ông đã không đưa ra chi tiết cái gì là bằng chứng. “Tôi không được phép nói với bạn điều đó,” theo ông cho biết tại cuộc họp báo ở Bạch Ốc nơi mà ông đã nhiều lần cáo buộc chính quyền TQ về việc làm ngơ trong trách nhiệm của họ đối với vi khuẩn, trong khi bỏ ngỏ khả năng nó lây lan một cách cố ý.
Newsom nói rằng các bãi biển tại miền nam California, gồm các bãi biển tại Quận Cam, Los Angeles và San Diego, đã reo chuông báo động, gồm các hình ảnh người tụ tập ở đó và không tuân theo các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội. Ông cho biết tiểu bang muốn làm việc sát cánh với các viên chức địa phương, và nếu họ có thể đưa ra các hướng dẫn tốt hơn, thì các bãi biển có thể “tái mở cửa rất rất nhanh.”
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Hơn một chục người biểu tình, một số trong đó có vũ khí, đã tụ tập hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 bên trong tòa nhà Quốc Hội của Michigan để lên tiếng phản đối lệnh cho người dân phải ở trong nhà của Thống Đốc Gretchen Whitmer, với căng thẳng lên cao khi các nhà lập pháp sẵn sàng tranh luận về sự gia hạn của tuyên bố này.
nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng Thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng Thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.