Hôm nay,  

Dịch là hành trình gian nan

14/11/202510:22:00(Xem: 4482)
blank

Dịch là hành trình gian nan
 

Nguyên Giác
 

Bạn hãy hình dung rằng thế giới này chỉ có ngôn ngữ nói, và không có chữ viết. Lúc đó, chung quanh chúng ta sẽ dày đặc các bức tường cách biệt ngôn ngữ dựng lên. Thế rồi, hãy hình dung sau khi có các phát minh ra chữ viết, lá bối, giấy, mực và rồi máy in... những bức tường ngăn cách đó từng lớp ngã xuống. Vai trò người dịch hiển lộ y hệt như các chiếc cầu nối để truyền thông. Từ đó, tôn giáo lan truyền tới nhiều nơi xa. Tuy nhiên, dịch là một chuyện cực kỳ gian nan.

Chúng ta biết tới Phật giáo và các tôn giáo khác là qua các bản dịch tiếng Việt, và các ngôn ngữ phổ biến khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp. Thực ra, không dễ để chuyển ngữ trọn vẹn, đem một bầu không khí văn hóa này sang người đọc ở nền văn hóa khác mà không rơi rớt chữ dọc đường. Vấn đề là, cần nhận ra mức độ rơi rớt ý nghĩa ở một mức tương đối có thể chấp nhận được.

Thí dụ, trong khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, chúng ta có thể lúng túng khi gặp các chữ như: Thầy, Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng. Thiền sư Nhất Hạnh để y nguyên chữ "Thầy" và không dịch ra trong các sách Thầy viết in trong ấn bản tiếng Anh, tiếng Pháp. Chúng ta không biết ý Thầy Nhất Hạnh thế nào, nhưng có thể suy đoán rằng, chữ Thầy trong tiếng Việt còn hàm ý như Cha, như người tái sinh cho chúng ta trong nghĩa tâm linh. Nếu dịch là "teacher" thì chỉ là người truyền kiến thức. Trong khi đó, các chữ Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng trong tiếng Việt lại mang ý nghĩa hành chánh, tới lúc nào đó là cần phong cấp, không đủ ý nghĩa tâm linh.

Do vậy, chúng ta dễ hiểu vì sao ngài Thích Trí Quang ưa tự ký tên là "Sa môn Thích Trí Quang" vì chữ sa môn là phiên âm từ  tiếng Phạn (Sanskrit) cho  "śramaṇa", chỉ cho người xuất gia, rời bỏ gia đình, cạo bỏ râu tóc và khoác áo cà sa. Và chúng ta cũng quen gọi đơn giản, theo truyền thống, thí dụ: Thầy Trí Quang, Thầy Thanh Từ, Thầy Nhất Hạnh, Thầy Tuệ Sỹ... Có một chữ xưng hô nằm ngoài hệ thống hành chánh, và rất khó dịch, là chữ "Ôn" -- may mắn, chữ này thịnh hành riêng ở Miền Trung Việt Nam.

Các Kinh sách tiếng Anh thường dịch các vị Thầy tôn kính là Venerable. Thế rồi, hệ thống hành chánh nhiều quốc gia cho thêm chữ Most Venerable (Bậc rất tôn kính). Các sách cũng có chữ về bậc rất tôn kính, như: Venerable Sir (để chỉ vị sư cao cấp). Hay đơn giản là: Senior Venerable hay Senior Master. Trong văn nói và văn viết, có khi chúng ta thường nghe là "sư phụ" -- chỉ có nghĩa là Thầy. Đối với vị thầy có uy lực tâm linh, có khi được dịch là: Spiritual Master. Nếu chúng ta dịch và bị xem là dịch sai, thế nào cũng bị người này hay người kia rầy.

Trong khi đó, ngay cả các nhà sư Hoa Kỳ và Úc, các vị từng dịch Tam tạng Kinh Pali sang tiếng Anh, đều dùng các chữ mà chúng ta quen dịch là Tỳ kheo, hay Tỳ khưu, trước tên. Thí dụ, các Tam Tạng Pháp Sư như ngài Bhikkhu Bodhi, hay như ngài Bhikkhu Sujato (còn dùng pháp hiệu: Ajahn Sujato, Bhante Sujato), hay như ngài Ṭhānissaro Bhikkhu (còn dùng pháp hiệu: Ajahn Geoff). Họ không dùng thứ bậc hành chánh. Đơn giản, là nhà sư, thế là tuyệt vời rồi.

Trong cương vị người dịch, tôi ưa thích sự đơn giản. Riêng chữ Thầy là đẹp nhất, vì mang ý nghĩa của người Cha. Hãy nhớ rằng, những dịch giả xuất sắc nhất thế giới thường khi vẫn không đồng ý với nhau. Thí dụ, chữ Dukkha trong tiếng Pali (tiếng Sanskrit là: duhkha), trong tiếng Việt thường dịch là Khổ. Nhưng đúng ra, Dukkha có cả chục nghĩa gần nhau trong tiếng Anh, tóm gọn là: đau khổ, đau đớn, bất như ý, buồn phiền, không vui, lo lắng, khó chịu, căng thẳng, thất vọng.

Tương tự, chữ "định" khi dịch sang tiếng Anh là: concentration, immersion, absorption... Và dịch ra thế nào, cũng không đủ nghĩa.  

Chúng ta lấy bài Kệ Pháp Cú số 5 làm một điển hình để thấy quý thầy dịch đôi khi dị biệt nhau. Nơi đây, tất cả các bản tiếng Anh sẽ dịch ra tiếng Việt sát nghĩa để so sánh. Đối chiếu, nơi đây chúng ta lấy bản của Thầy Minh Châu làm điểm mốc.

Pháp Cú 5 (Thầy Minh Châu dịch): Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu.

Ngài Sujato dịch: Bởi vì hận thù không bao giờ được hóa giải bằng hận thù, mà được hóa giải bằng tình yêu: đây là một lời dạy cổ xưa.

Ngài Suddhāso dịch: Sự thù địch không bao giờ được hóa giải bằng sự thù địch. Chỉ bằng sự không thù địch, nó mới được hóa giải. Đây là chân lý vĩnh hằng.

Ngài Ānandajoti dịch: Bởi vì hận thù không thể chấm dứt ở nơi này, chúng chỉ chấm dứt khi không còn hận thù, chân lý này chắc chắn là vĩnh cửu.

Ngài Buddharakkhita dịch: Hận thù không bao giờ được hóa giải bằng hận thù trên thế gian này. Chỉ có không hận thù mới hóa giải được hận thù. Đây là quy luật vĩnh hằng.

Ngài Peter Feldmeier dịch: Bởi vì thù hận không bao giờ được hóa giải bằng thù hận. Chúng chỉ được hóa giải bằng hòa bình. Đây là quy luật vĩnh cửu.

Ngài Thanissaro dịch: Thù địch không thể chấm dứt bằng thù địch, dù sao đi nữa. Thù địch chỉ có thể chấm dứt bằng phi thù địch: đây, một chân lý bất tận.

Chúng ta thấy rõ dị biệt qua các bản dịch trên, đôi khi xa nghĩa nhau: hóa giải hận thù bằng không hận thù, thì hiển nhiên khác với hóa giải bằng tình yêu, khác với hóa giải bằng hòa bình... Tương tự, định luật ngàn thu thì hiển nhiên khác với lời dạy cổ xưa, khác với quy luật vĩnh cửu, khác với chân lý bất tận...

Do vậy , dịch là công việc gian nan, và có khi những vị Thầy uyên bác nhất vẫn bất đồng.

Bây giờ, chúng ta nói tới hai tranh trong Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Thầy Thanh Từ chú giải theo bản Quách Am. Thầy Tuệ Sỹ chú giải theo bản Quách Am và Phổ Minh.

Bài tụng của Thiền sư Quách Am là "Vong ngưu tồn nhân: quên trâu còn người" (tranh số 7), và "Nhân ngưu câu vong: người trâu đều quên" (tranh 8).

Bài tụng của Thiền sư Phổ Minh là  "Nhiệm vận: theo phận" (tranh 7), và "Tương vong: cùng quên" (tranh 8).

Bài tụng của Thiền sư Cự Triệt là "Kỵ ngưu: cưỡi trâu" (tranh 7), và "Vong ngưu: quên trâu" (tranh 8).

Chữ Vong (忘) gồm 7 nét trong các câu trên có nghĩa là Quên. Trong ngôn ngữ đời thường, văn báo chí, các bản tin khi nói về tử vong, thì Vong (亡) gồm 3 nét, nghĩa là chết.

Đây là chỗ kẹt của ngôn ngữ: ngưu là chỉ cho tâm, nhưng "quên tâm" thì không nói lên được ý của các Thiền sư.
 

Chúng ta thấy rằng, thức là dựa vào duyên thì có khởi lên và biến mất. Thí dụ, duyên theo tiếng đàn, thì nhĩ thức khởi lên. Nhưng ngay cả khi tiếng đàn ngưng bặt, thì tâm vẫn còn nghe sự vắng lặng, tâm vẫn trong trẻo, lặng lẽ an nhiên. Cho nên, nói "quên tâm" là chưa nói tột ý. Tương tự, hình ảnh con chim bay trước mắt ta, thì nhãn thức khởi lên, nhưng khi chim bay đi, thì tâm như gương sáng hiện lên. Nghĩa là, cái biết về hình ảnh chim bay và tiếng đàn réo rắt là tâm hiển lộ, thế rồi khi ảnh chim và tiếng đàn biến mất thì cái biết trở thành một tấm gương trong trẻo, vô hình, vô thanh, nhưng nói rằng nó là cái gì thì đều không trúng. Do vậy, nói “quên tâm” chỉ là tạm nói, gượng nói.
 

Ngay các dòng đầu tiên của Bát Nhã Tâm Kinh cũng nói về bức tranh thứ 7 và 8 này: "...sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị."

Sắc chính là cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường... chính là Không, và rồi cái Không này cũng chính là Sắc (cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường). Hễ sống và nhận biết thường trực như thế, là giải thoát. Kinh Susima Sutta (SN 12.70) cho thấy có 60 vị sư trở thành A la hán chỉ bằng nhận biết vô ngã thường trực, trong khi chưa hề nhập định, chưa hề đắc thần thông gì lạ.
 

Trở lại các tranh chăn trâu, ý nghĩa của “quên trâu” chỉ có nghĩa là nhận ra thường trực rằng Tâm chính là Không. Tuy nhiên, nếu không dịch là chữ “vong” (quên) thì dịch làm sao cũng dễ chệch nghĩa.

Chữ “quên tâm” không hề có nghĩa thất niệm, cũng không hề nói có con trâu nào để quên hay để nhớ, mà chỉ muốn nói rằng thực tướng của Tâm chính là Không, và do nơi Không đó, giải thoát mới hiển lộ.
 

Một số người thường thắc mắc rằng, nhiều luận sư Đại thừa nói Phật Tánh có sẵn và không hề biến mất, tại sao chúng ta phải tu hành nữa. Thực ra, Đức Phật không dùng chữ Phật Tánh, mà dùng chữ Pháp vô vi, chính nhờ có Pháp vô vi này, chúng ta mới giải thoát.

Như chuyện chàng nghệ sĩ xiếc Uggasena trong Kinh Pháp Cú bài Kệ 348, bản chú giải ghi rằng khi chàng Uggasena đang đứng trên chiếc sào làm trò giữa chợ, thì Đức Phật đến. Sau khi Đức Phật nói  bài kệ: “Hãy buông bỏ quá khứ, hãy buông bỏ tương lai, hãy buông bỏ hiện tại...” thì chàng Uggasena, người vẫn còn trên đỉnh cây sào, đã chứng đắc quả A-la-hán. Buông bỏ hết, thì cái gì hiện ra? Gọi là Phật Tánh hay gọi là Pháp vô vi thì cũng là để nói cho người khác hiểu. Bởi vì, người hiểu rồi, sẽ thấy rằng ngôn ngữ không chuyên chở được diệu pháp.
 

Tại sao như thế? Không có nghĩa là “quên tâm”, mà chỉ có nghĩa là buông bỏ toàn bộ thân tâm ba thời, tức là buông bỏ toàn bộ pháp hữu vi của sắc thọ tưởng hành thức của ba thời, thì sẽ hiển lộ Pháp vô vi, tức là Niết Bàn, không phải mài giũa gì.

Thiệt sự, dịch cho đúng chữ, lúc nào cũng gian nan. Mà làm sao có chữ nào gọi là đúng được. Vì tâm này là nơi ngôn ngữ sẽ vắng bặt.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mùa xuân mới gõ cửa từng nhà, mùa xuân không của riêng ai, không chỉ của mỗi con người mà là của tất cả muôn loài cùng hưởng. Lá hoa, cây cỏ, chim muông muôn loài cho đến côn trùng bé nhỏ đều cùng hưởng, cùng hồi sinh trong mùa xuân mới. Nếu động vật và thực vật thay áo mới đón xuân, thì con người cũng cần thay đổi tư duy để đón xuân.
Bạn đã từng yêu thơ, đã từng đọc thơ, đã từng làm thơ, đã từng say đắm với thơ... tôi tin rằng bạn sẽ đứng tim khi đọc tới những dòng: cổng chùa khuya chưa khép / bầy sao rủ nhau về / soi trong hồ nước biếc / tiếng hạc buồn lê thê... Tôi đã đứng tim như thế, đã kinh ngạc đọc đi đọc lại các dòng thơ trên. Tôi đã nghiêng đầu, áp tai sát trang giấy để nghe xem tiếng hạc buồn lê thê thế nào. Tôi đã nghiêng trang giấy qua lại để xem có ngôi sao nào rơi ra từ giữa những dòng thơ. Khi đó, tôi đã thắc mắc vì sao có hình ảnh cổng chùa chưa khép trong thơ, có phải vì nhà sư thi sĩ đã đi lạc nơi phố chợ và quên mất lối về.
Biết ơn là một nhịp cầu nối tình cảm của con người với nhau. / Gratitude is a bridge that connects people's feelings with each other.
GARDEN GROVE (VB/PTH) -- Nhà văn Trịnh Y Thư vừa thực hiện buổi ra mắt sách với thân hữu tại tòa soạn Việt Báo hôm Thứ Sáu 18/3/2022. Người tham dự không nhiều, nhưng đều là những người đã có nhiều thập niên sống trong ngành báo chí, xuất bản, sáng tác văn học.
Từ ba vị thế khác nhau với những lập trường chính trị có khi khác hẳn nhau, cả Ngô Nhân Dụng, Huy Đức và Nguyễn Văn Tuấn đều có nhận định giống nhau về giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay: Hèn!
UKRAINE Vladimir Putin nói chiến dịch quân sự đến Ukraine vì muốn ngăn chận cuộc diệt chủng bởi Ukraine, nhưng ngược lại Putin đã làm cho tên thành phố Mariupol được đi vào lịch sử, khi mọi người sau này nhắc đến những tội ác của chiến tranh, nơi mà những đứa bé sơ sinh bị giết chết bởi các mảnh đạn, nơi có những hố chôn người tập thể, và nhà hát, chỗ trú ẩn của hàng ngàn trẻ em và phụ nữ, bị dội bom. Mariupol là thành phố cảng với hơn 400 ngàn cư dân. Thành phố này nằm ở vùng Donetsk, vào năm 2014 những cuộc chiến ác liệt cũng đã xảy ra trên đường phố của Mariupol. Lần này, Mariupol bị bao vây chỉ vài ngày sau khi cuộc tấn công của Nga bắt đầu vào ngày 24 tháng 2.
UKRAINE Sáng sớm thứ sáu ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo giờ Ukraine, nhiều vụ nổ đã xảy ra ngay sát thành phố Lyiv, theo tin BBC.
Hầu hết người Việt cho rằng vẽ và viết trên tường, trên vỉa hè, trên mặt đường, trên trụ, trên hàng rào là vẽ viết bậy, làm dơ bẩn thành phố. Ở Singapore, nếu bắt được vì vẽ viết bậy sẽ trừng phạt nặng nề, bị đánh đòn và ở tù. Graffiti là tên gọi của nghệ thuật vẽ này. Nghệ thuật? Vâng, đúng là nghệ thuật. Nó có một tên khác, bình dân hơn, Street Art. (Nghệ thuật bên đường, vẽ bên đường.) Tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật bên đường này vì một số lý do, trong đó, “đẹp” là yếu tố lớn trong hội họa đã trở thành thứ yếu, hoặc nói một cách cao kỳ hơn, cái đẹp nhan sắc trở thành cái đẹp tính nết. Rồi “cái nết đánh chết cái đẹp.” Thẫm mỹ trong nghệ thuật gần như là một khối, không thể tách rời. Nghệ thuật phải có đẹp. Có đẹp mới có nghệ thuật. Thẩm mỹ càng cao, càng nhiều, nghệ thuật càng được xem trọng. Ý niệm truyền thống này hầu như là tôn chỉ duy nhất trong hầu hết các họa phẩm của các họa sĩ Việt. Người vẽ, người xem, chỉ cần “đẹp” là đủ. Không có gì sai trái, chỉ thiếu thôi.
“Cộng Hòa Điếc” mở đầu bằng hình ảnh một cậu bé điếc bị một người lính của đội quân xâm lược bắn tại một quảng trường công cộng nơi người dân đang biểu tình chống xâm lược. Cả cộng đồng quyết định phản đối vụ giết người này bằng cách từ chối nghe chính quyền. Người dân thị trấn phối hợp với nhau bằng ngôn ngữ ký hiệu. Và ngay giữa bạo lực, người ta vẫn yêu nhau, vẫn cười đùa, vẫn sanh con đẻ cái. Tôi lớn lên chứng kiến sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và cuộc chiến ở Transnistria — một cuộc chiến trá hình dưới cái tên gọi "chiến dịch viện trợ nhân đạo" đầu tiên của Nga, rất giống với “chiến dịch quân sự” hiện tại ở Ukraine, mặc dù ít công khai hơn. Sau đó, tôi đến Hoa Kỳ, nơi tôi đã sống 12 năm qua tại một thị trấn chỉ cách biên giới Hoa Kỳ / Mễ Tây Cơ 8 dặm. Không có gì lạ khi xe của bạn bị chặn lại để họ tìm kiếm những người đang cố gắng vượt qua biên giới, hoặc nhìn thấy những người bị đưa đi trong xe tải ICE là chuyện thường tình. Và tất nhiên, cũng thấy cả sự tàn bạo của cảnh sát
Hoa Kỳ trao giải 'Phụ nữ Quốc tế Dũng cảm' cho bà Đoan Trang và 11 người khác./ Các Nhà Lập Pháp Ủng Hộ Trừng Phạt Kinh Tế Trung Quốc Nếu Tiếp Tay Cho Nga./ Để bày tỏ sự hỗ trợ cho đất nước Ukraine, các thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki, Thủ Tướng Czech (Tiệp) Petr Fiala và Thủ Tướng Slovenia là Janez Jansa hôm thứ Ba tuần này đã bất chấp lửa đạn đi tàu lửa đến thủ đô Kyiv họp mặt với tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy, và là các nguyên thủ đầu tiên tới thăm Kyiv từ khi quân Nga xâm lăng Ukraine.
(Robert Mullins International) Sau gần 8 tháng rưỡi chương trình EB-5 Trung tâm vùng hết hiệu lực, Quốc hội đã cho phép cải tổ dài hạn chương trình EB-5 và tái ủy quyền chương trình Trung tâm vùng. Cộng đồng EB-5 trên thế giới thở phào nhẹ nhõm. Riêng các nhà đầu tư Việt Nam đã bày tỏ sự ngạc nhiên vui mừng tột độ, có người không che dấu được cảm xúc vỡ òa trong niềm vui bất tận. Nhất là tại thời điểm phức tạp như hiện nay, trong bối cảnh đại dịch và chiến tranh xâm lăng của Nga vào quốc gia Ukraine
Chiến tranh và ngục tù là bi kịch đau thương nhất trong lịch sử loài người, nó là kinh nghiệm không được rút tỉa để học hỏi và ngăn chặn, cứ thế lặp đi lặp lại khắp nơi trên thế giới, đánh động mãi ký ức con người nên có thể nói rằng không có cuộc chiến và nhà tù nào trở thành quá khứ, nó luôn là hiện tại với dấu lệ và máu không ngừng chảy. Kinh nghiệm chiến tranh, nhà tù, cùng hệ lụy tang thương của nó như vết cắt hằn sâu trong tâm tư tình cảm con dân Việt nam, mà nhà văn Ngô Thế Vinh đã gọi - vết thương không bao giờ lành-, nó sừng sững ở đó, trên đất đá, trên thân thể, trong tâm hồn, trong sử lịch, mà trái tim và lương tâm con người mãi thúc thủ một câu trả lời.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.