Hôm nay,  

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất

04/02/202607:03:00(Xem: 633)
blank

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất
 

Nguyên Giác
 

Những người soạn Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) không chú ý nhiều về Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, trong khi Tự Điển này là nơi được người học Phật tham khảo nhiều nhất, mỗi khi có thắc mắc, bất kể rằng tính xác thực của Wikipedia có khi không chính xác, bởi vì bất kỳ ai giỏi về kỹ thuật vi tính đều có quyền góp ý trên đó. Bài này sẽ tìm thêm một số thông tin liên hệ về kỳ Kết tập này, và người viết (tự thấy học lực chẳng bao nhiêu) nơi đây sẽ không dám đưa vào bình luận theo bất kỳ ý riêng nào. Tất cả các liên kết mạng sẽ ghi cuối bài để người học Phật khảo sát thêm.

 
Mới tuần trước, Ni Trưởng Thích Nữ Triệt Như, trong bài "Hai dòng truyền thừa" đã về Kết tập kinh điển lần thứ I với vài dòng sơ lược: “Sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng ba tháng, ngài Mahā Kassapa đã đứng ra triệu tập đại hội 500 vị đại đệ tử A la hán của đức Phật, bằng cách đọc tụng lại hai tạng: Kinh và Luật. Đó là vào khoảng năm 483 BCE.”
 

Trong phần tiếng Việt trên Wikipedia (vào ngày 3 tháng 2/2026), nơi mục từ "Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất" đã ghi nhận như sau, không đầy đủ như phần tiếng Anh. Chúng ta chép lại nguyên văn như sau, không ghi các số ghi chú:
 

(Trích Wikipedia tiếng Việt)

Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất là đại hội được thực hiện vào mùa hạ sau khi tổ chức lễ trà tỳ (hỏa táng) cho Phật Thích-ca Mâu-ni, mục đích của đại hội là nhằm xác định chính xác giới luật và kinh văn để tránh những sai lệch do hiểu lầm hoặc phá hoại.

Sau khi nghe tin Phật nhập Niết bàn, một tỳ kheo tên là Bạt-nan-đà (Upananda), mới gia nhập tăng đoàn không lâu, nói như sau:

'Vị trưởng lão ấy (chỉ Phật) thường dạy chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia; nên học những điều này, không nên học những điều kia, thật là phiền toái. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát được nỗi khổ ấy, tùy ý muốn làm gì làm, không còn ai ngăn cản nữa. Vì sao các ông lại thương tiếc khóc than?'

Ma-ha-ca-diếp (Mahakasyapa), một trong các trưởng lão của Tăng-già, nghe thấy và ông cho rằng những tỳ kheo phóng túng như thế rất có thể sẽ ngày càng phổ biến và họ sẽ phá hoại đạo pháp, do vậy mà quyết định tổ chức một đại hội gồm các vị am hiểu Phật pháp nhằm thống nhất nội dung tu học.

Các thông tin về đại hội

Yêu cầu thành lập đại hội: Trưởng lão Ma-ha-ca-diếp

Chủ trì: A-nhã-kiều-trần-như, Phú-lâu-na, Đàm-di, Đà-bà-ca-diếp, Bạt-đà-ca-diếp, Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-li, A-na-luật.

Địa điểm diễn ra cuộc kết tập là chân núi Vibhara, gần thành phố Rajgir (Vương xá), kinh đô của vương quốc Magadha - gần biên giới Ấn Độ và Nepal ngày nay.

Thời gian: sau khi Phật nhập Niết bàn một thời gian ngắn. Đại hội kéo dài trong 7 tháng, Phật giáo Bắc truyền cho rằng chỉ có 3 tháng.

Người hỗ trợ tài chính cho cuộc kết tập là vua A-xà-thế chủ thành Vương xá.

Số lượng A-la-hán tham gia: đúng 500 vị, những người không phải là A-la-hán không được tham gia. Do số lượng là 500 mà cuộc kết tập lần này còn có tên là Ngũ bách kết tập.

Người đọc về kinh là tôn giả A-nan, anh em họ của Phật và là người theo hầu Phật suốt 25 năm, ông có trí nhớ rất tốt. Tương truyền rằng A-nan giao kết với Đức Phật chỉ nhận làm thị giả với điều kiện là nếu có lần thuyết giảng nào mà A-nan không dự được, Đức Phật phải giảng lại hoặc nhờ một trong 10 đại đệ tử giảng lại, chính vì thể gần như toàn bộ nội dung Đức Phật thuyết giảng ông đều nắm rõ. Ngay trước đại hội có 1 đêm nhờ nỗ lực A-nan mới chứng quả vị A-la-hán, điều này nhiều người cho rằng đã có một sự "châm chước" nào đó cho A-nan bởi vì vai trò của ông rất quan trọng, nhưng nếu không đắc A-la-hán thì nhất quyết không được gia nhập đại hội. Các kinh thường được mở đầu bằng câu "như thị ngã văn..." có nghĩa là "tôi nghe như vậy, một thời, tại...", tôi ở đây chính là A-nan.

Người đọc về luật là tôn giả Ưu-ba-li, người rất thông hiểu về giới luật.

Hình thức chấp thuận: A-nan và Ưu-ba-li đọc, các thành viên trong đại hội nếu đồng ý thì coi đó là lời Phật đã nói.

Hình thức lưu trữ: Thời đó không ghi ra giấy mà chỉ đọc tụng và được ghi nhớ trong đầu. Cũng vì để dễ nhớ mà các bộ kinh có kết cấu lặp đi lặp lại. Do độ lớn của kinh và luật nên mỗi một nhóm đảm trách công việc ghi nhớ chuyên biệt một số chương nhất định, những nhóm này về sau thường xuyên trao đổi thông tin với nhau để tránh việc mất mát và hiểu sai.

Quan điểm: tất cả đều đồng ý giữ nguyên những gì do Phật thuyết, nhưng tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt.

(Hết trích)
 

Để làm sáng tỏ về ý "tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt" nơi đoạn trên, chúng ta có thể tham khảo sách "Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo" của Tỳ kheo Thiện Minh, trích như sau:
 

(Trích)

Sau cuộc kết tập, Đại Đức Ananda có bạch với Chư Thánh Tăng rằng lúc Như Lai sắp sửa viên tịch, Ngài có dạy: "Khi ta viên tịch các vị có thể bỏ bớt những giới học nào không quan trọng". Ngài Mahakassapa hỏi Đại Đức Ananda học giới nào là không quan trọng, ngài Ananda trả lời vì lúc Đạo sư Níp-bàn, Đại Đức quá bận rộn nên không hỏi điều đó. Ngài Mahakassapa với tư cách là chủ tọa liền tụng tuyên trước Chư Thánh Tăng như vầy: "Kính bạch Chư Tăng, vấn đề giới luật rất quan trọng, nó liên quan đến đời sống của sa môn, nhưng Thế Tôn trước khi viên tịch không nói rõ điều nào không quan trọng. Vì vậy cho nên kính xin Chư Thánh hiền Tăng từ nay về sau Chư vị đừng thêm mà cũng đừng bớt học giới nào mà Thế Tôn đã chế định, cứ vậy mà thực hành.”

(Hết trích)
 

Trong Tự điển Wikipedia phần tiếng Anh, trong mục từ "Buddhist councils" nơi mục từ "First Buddhist council" (Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất), chúng ta nơi đây dịch từ Anh sang Việt như sau về các thông tin không có nơi Wikipedia tiếng Việt:
 

(Trích, dịch)

Quan niệm truyền thống cho rằng toàn bộ Kinh tạng và Luật tạng như chúng ta biết ngày nay đều được tụng đọc trong hội nghị này có lẽ là một sự phóng đại.

Nhiều bản Luật tạng cũng mô tả những bất đồng khác nhau trong hội nghị đầu tiên. Nhiều vị sư bất đồng về việc giữ lại hay loại bỏ một số giới luật nhỏ (vì Đức Phật đã nói với Ananda rằng điều này có thể được thực hiện). Một số vị sư thậm chí còn tranh luận rằng tất cả các giới luật nhỏ nên bị bãi bỏ. Ngoài ra, nhiều nguồn tài liệu ban đầu cho biết Mahakasyapa đã chỉ trích Ananda theo nhiều cách khác nhau. Analayo trích dẫn một đoạn từ một bản song song tiếng Trung của kinh Mahāparinibbāna-sutta (T 1428 tại T XXII 966b18), trong đó Mahākassapa nói: "Ānanda giống như một người cư sĩ. Tôi sợ rằng, với lòng tham lam trong tâm trí, ông Ānanda sẽ không tụng đọc các bài kinh một cách đầy đủ." Analayo viết rằng có thể đã có "xung đột thực sự giữa hai phe đối lập trong cộng đồng tăng lữ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, với phe có khuynh hướng khổ hạnh hơn nổi lên là phe chiến thắng trong các ghi chép về hội nghị đầu tiên".

Theo một số ghi chép truyền thống, sau khi Đức Phật qua đời, 499 vị A-la-hán hàng đầu của Đức Phật đã được chọn để tham dự hội nghị. Ananda, lúc đó là một vị Sotapanna (Nhập Lưu), đã tự rèn luyện cho đến bình minh ngày diễn ra hội nghị, lúc đó ngài đạt được quả vị A-la-hán và được phép tham gia hội nghị.

Về Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka), phần chính thứ ba của Tam Tạng Kinh điển, các học giả hiện đại cho rằng nó có thể được biên soạn vào một thời điểm muộn hơn do nội dung và sự khác biệt về ngôn ngữ và phong cách. Theo truyền thống Theravada, Tạng Vi Diệu Pháp và Atthakathā (chú giải) cổ xưa cũng được đưa vào hội nghị Phật giáo đầu tiên trong phần Kinh tạng, nhưng ngữ pháp văn học của nó khác với Kinh tạng vì Tạng Vi Diệu Pháp được biên soạn bởi Sāriputta.

Các nhóm khác

Các bản Luật tạng khác nhau cũng kể lại một sự kiện kỳ ​​lạ khác trong thời gian này. Bộ Cullavagga đề cập đến một vị A-la-hán tên là Purāṇa, người tuyên bố rằng ông và các đệ tử của mình ghi nhớ giáo lý của Đức Phật theo cách mà họ đã nghe được, và do đó không dựa vào các bộ kinh điển được biên soạn tại hội nghị. Nhân vật này cũng xuất hiện trong Aśokāvadāna và Dulvā Vinaya của Tây Tạng, mô tả Purāṇa và một vị sư khác, Gavampati, những người không có mặt tại hội nghị và lo lắng về những gì sẽ xảy ra với Pháp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn. Câu chuyện này được mô tả trong các phiên bản tiếng Trung của Dharmagupta và Mahīsāsaka Vinaya và trong Vinayamātrika Sūtra. Gavampati được cho là cũng đã duy trì một bộ tám quy tắc về thức ăn, được lưu giữ trong Mahīsāsaka Vinaya.

Một sự kiện tương tự được mô tả bởi các nguồn tài liệu Trung Quốc như các tác phẩm của học giả Ấn Độ Paramartha, Jizang và nhà hành hương Huyền Trang. Theo các nguồn này, một bộ kinh điển thay thế có tên là Mahasamghikanikaya đã được biên soạn bởi một vị A-la-hán tên là Baspa và các đệ tử của ông. Huyền Trang báo cáo đã đến thăm một bảo tháp gần Rajgir, nơi đánh dấu địa điểm của hội nghị thay thế này.

Tính xác thực lịch sử

Một số học giả hiện đại nghi ngờ liệu toàn bộ kinh điển có thực sự được tụng đọc trong Đại hội lần thứ nhất hay không, bởi vì các văn bản ban đầu chứa đựng những mô tả khác nhau về các chủ đề quan trọng như thiền định. Tuy nhiên, có thể các phiên bản ban đầu của những gì hiện được gọi là Vinaya-piṭaka và Sutta-piṭaka đã được tụng đọc. Tuy nhiên, nhiều học giả, từ cuối thế kỷ 19 trở đi, đã coi tính xác thực lịch sử của Đại hội lần thứ nhất là không chắc chắn. Một số học giả, chẳng hạn như các nhà Đông phương học Louis de La Vallée-Poussin và D.P. Minayeff, cho rằng chắc chắn phải có các cuộc họp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, nhưng chỉ coi các nhân vật chính và một số sự kiện trước hoặc sau Đại hội lần thứ nhất là có tính lịch sử. Một số học giả khác, chẳng hạn như nhà Phật học André Bareau và nhà Ấn Độ học Hermann Oldenberg, cho rằng rất có thể bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất được viết sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai, và dựa trên bản ghi chép của đại hội thứ hai, vì không có vấn đề lớn nào cần giải quyết sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, hoặc bất kỳ nhu cầu nào khác để tổ chức Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.

Mặt khác, nhà khảo cổ học Louis Finot, nhà Ấn Độ học E. E. Obermiller và ở một mức độ nào đó là nhà Ấn Độ học Nalinaksha Dutt cho rằng bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất là xác thực, vì sự tương ứng giữa các văn bản tiếng Pali và các truyền thống tiếng Phạn. Trong khi đó, nhà Ấn Độ học Richard Gombrich cho rằng "phần lớn Kinh điển Pali" có niên đại từ thời Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.”

(Hết trích, dịch)
 

Cần ghi chú nơi đây rằng: tên của ngài Purāṇa tới trễ trong đại hội kết tập lần thứ nhất trong tiếng Việt thường phiên âm là Trưởng lão Phú-lan-na hay Phú-lâu-na, còn gọi là Tôn giả Mãn Từ. Nên ghi để khỏi nhầm: Tôn giả Mãn Từ không phải Phú-lan-na Ca-diếp (Pūraṇa Kassapa) một trong lục sư ngoại đạo.

Có thông tin bổ túc thêm cho kỳ kết tập lần thứ nhất là từ sách "Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ" của tác giả Thánh Nghiêm, bản dịch tiếng Việt của thầy Thích Tâm Trí, trích như sau:
 

(Trích)

Nhờ thẩm tra nhiều nguồn tư liệu cho thấy Đại hội kết tập tại thành Vương Xá chỉ gồm những vị cùng một phái với ngài Ca Diếp, và đó là cuộc kết tập của một thiểu số người, của những vị Thượng tọa Tỳ kheo đại biểu cho phái khổ hạnh. Duy có điều, thành quả của lần Đại hội này là rất to lớn. Nó đánh bại tất cả mọi dị nghị của số đông người, do đó cho nên vị trí của nó là cực kỳ quan trọng. Nói chính xác, thì đây là cuộc Đại hội được tổ chức vừa thuận lợi, vừa hoàn thành một cách chóng vách. Nếu không, có thể sẽ diễn ra một cuộc tranh luận không khoan nhượng giữa các đại gia; chừng đó vấn đề càng thêm phức tạp. Có điều, trong kỳ Đại hội này phái của Trưởng lão Phú Lâu Na không thấy tham dự, và đó cũng là vấn đề còn đọng lại của Phật Giáo.

- Trưởng lão Phú Lâu Na

Lúc Đại hội kết tập tại thành Vương Xá kết thúc, theo “Thiện Kiến Luật” của Nam truyền, và “Tứ Phần Luật” của Bắc truyền, tất cả các bộ luật này đều nói có một vị trưởng lão tên là Phú Lâu Na dẫn năm trăm Tỳ kheo từ phương nam đi đến thành Vương Xá, hay còn nói là từ Nam Sơn (Dakkhi Na Giri) đến để cùng ngài Ca Diếp luận đàm thêm về Pháp (kinh) và Luật (giới). Theo “Luật Tiểu Phẩm Ngũ Bách Kiền Độ Đệ Thập Nhất” của Nam truyền, thì nói là ngài Phú Lâu Na phiền trách mà rằng: “quí ngài kết tập pháp, luật, điều đó là cực quí. Nhưng tôi là người từng thân cận, và theo Phật nghe pháp; vậy, quí ngài cũng nên nghe tôi khẩu thuật”. Riêng “Ngũ Phần Luật” quyển 30 thuật rằng ngài Phú Lâu Na nói với ngài Đại Ca Diếp: “đích thân tôi theo Phật nghe pháp, nghe luật, những việc như “nội túc thực”, chính tự tôi dâng thức ăn lên Phật, tự tội nhận thu dọn sau khi Phật thọ thực xong, tôi dâng nước uống lên Phật, không người nào không sạch, không món nào không sạch, tôi mới dâng lên Phật”.

(Hết trích)
 

Trong khi đó, ngài Gavampati vắng mặt trong đại hội kết tập lần thứ nhất là người trong tiếng Việt được phiên âm là Kiều-phạm-ba-đề, còn gọi là Trưởng lão Ngưu Thâu (hoặc Ngưu Vương). Khác với ngài Purāṇa (người đến dự sau và xin giữ lại một số chi tiết về giới luật), ngài Gavampati không tham gia cuộc kết tập, mặc dù ngài là một trong những vị thượng thủ còn sống vào thời điểm đó. Khi các trưởng lão được đại hội cử lên cõi trời mời ngài Gavampati từ cõi trời Đao Lợi về dự kết tập, ngài đã hỏi một câu rất xúc động: “Thế tôn đã nhập Niết-bàn rồi sao? Pháp chủ đã đi rồi sao?” Sau khi biết Đức Phật và những người bạn đồng tu thân thiết (như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên) đều đã viên tịch, ngài cảm thấy thế gian này không còn gì lưu luyến. Thay vì về thảo luận xem kinh điển nên đọc thế nào, giới luật nên giữ ra sao, ngài Kiều-phạm-ba-đề chọn cách nhập diệt ngay lập tức. Ngài cho rằng khi "Mặt trời đã lặn", ngài cũng nên đi theo dấu chân của bậc Đạo sư.

Tự điển Phật học Online, mục từ "Kiều Phạm Ba Đề" ghi nhận về ngài như sau:
 

(Trích)

Kiều Phạm Ba Đề

(s: Gavāṃpati, p: Gavaṃpati, 憍梵波提): còn gọi là Kiều Phạm Bạt Đề (憍梵跋提), Cấp Phòng Bát Để (笈房鉢底), Già Bà Bạt Đế (伽婆跋帝), Già Phạm Ba Đề (伽梵波提), Kiều Hằng Bát (憍恆鉢), Phòng Bát Để (房鉢底); ý dịch là Ngưu Tích (牛跡), Ngưu Ha (牛呵), Ngưu Ty (牛司), Ngưu Chủ (牛主), Ngưu Vương (牛王), Ngưu Tướng (牛相), từng được Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) chỉ đạo. Tương truyền vào thời quá khứ ông từng ngắt một cọng lúa, làm rơi hạt lúa xuống đất, nên bị đọa làm thân con bò trong 500 kiếp, vì vậy khi làm thân người, ông vẫn còn tánh khí của con trâu, ăn xong thường ợ hơi ra, nhai lại. Hơn nữa, do ông tạo ác nghiệp khinh thường Sa Môn nên hiện đời phải thọ quả báo miệng thường há và ngáp như loài bò (牛呵), hay móng chân ông giống như chân bò. Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, ông là một chú Sa Di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa Di kia ! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La Hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi !” Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên (尸利沙園) của cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt. Ông được xem như là người Giải Luật Đệ Nhất.”

(Hết trích)
 

Trong khi đó, học giả Thiền sư Teitaro Suzuki trong tác phẩm Anh văn "The First Buddhist Council" kể chi tiết về Đại hội Kết tập lần thứ nhất. Nơi đây, chúng ta không đi sâu, chỉ dịch lại lời phân tích của Albert J. Edmunds trong phần "Prefatory Note" (Ghi Chú Đầu Sách). Chúng ta trích dịch ra tiếng Việt như sau:
 

(Trích, dịch)

Các tài liệu mà Suzuki trình bày ở đây rõ ràng cho thấy sự tồn tại của các bản kinh điển đối lập, đồng nhất về những nguyên tắc cơ bản, nhưng khác nhau về cách sắp xếp và phạm vi. Chúng ta có thể suy ra từ Biên niên sử Đảo (Island Chronicle) rằng một vấn đề gây tranh cãi phổ biến là câu hỏi: Cái nào là văn bản gốc và cái nào là chú giải? Do đó, chúng ta thấy rằng sự khác biệt rõ rệt tồn tại trong những phần của Kinh điển chứa đựng phần chú giải: Bộ sưu tập ngắn (Khuddaka Nikāya: Tiểu Bộ Kinh) và Giáo lý cao cấp (Abhidhamma: A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp).

Tất nhiên, các Kinh điển được đưa ra ở đây như đã được xác định vào thời điểm Đức Phật qua đời được mỗi trường phái lấy từ bản kinh điển riêng của họ như nó tồn tại khi tài liệu được viết; nhưng điều này không làm thay đổi sự thật rằng ít nhất hai bản kinh điển như vậy đã tồn tại ngay từ đầu, đó là bản kinh điển của giới quý tộc và bản kinh điển của giới bình dân. Bản thứ nhất là Trường phái Trưởng lão (Theravada) và bản thứ hai là Đại chúng bộ. Đúng là trường phái sau (Mahāsamghika) đã không chính thức tách ra cho đến hội đồng kết tập kinh điển lần thứ hai, vào cuối thế kỷ Phật giáo đầu tiên; nhưng từ lâu tôi đã nhận thấy rằng mầm mống của nó có thể được tìm thấy trong lời nói của Purâṇa.

Các tài liệu của Suzuki rất có giá trị, nếu không nói là gì khác, thì ít nhất cũng là danh sách nội dung của các Kinh điển giáo phái khác nhau. Chính những tài liệu cơ bản như thế này đang rất cần được dịch từ tiếng Phạn, tiếng Trung và tiếng Tây Tạng. Chúng ta cần so sánh những tuyên bố của trường phái bảo thủ, được truyền lại cho chúng ta thông qua tiếng Pāli, với những tuyên bố của các giáo phái khác có các bản kinh điển khác và đối lập.”

(Hết trích, dịch)
 

Tất cả các thông tin dẫn trên đều có liên kết trong phần Tham Khảo cuối bài này. Các thông tin trên có thể giúp cho những vị muốn nghiên cứu xa hơn về việc kết tập thánh điển. Riêng tác phẩm "The First Buddhist Council" của ngài Teitaro Suzuki hình như chưa được dịch sang tiếng Việt. Nếu sau này có bản tiếng Việt, đề nghị quý thầy dịch giả nên đưa lên mạng Internet để Phật tử tham khảo, vì bản tiếng Anh hiện nay là miễn tác quyền (public domain) nên không cần trả tiền mua bản quyền để dịch.
 

THAM KHẢO:

-- Thích Nữ Triệt Như. Hai dòng truyền thừa:

https://thuvienhoasen.org/a43460/bai-30-hai-dong-truyen-thua-thich-nu-triet-nhu-song-ngu-

-- Wikipedia. Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất:

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_k%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADp_kinh_%C4%91i%E1%BB%83n_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t

-- Tỳ Kheo Thiện Minh. Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo:

https://www.budsas.org/uni/u-ngan/lichsuket.htm

-- Buddhist councils. First Buddhist council:

https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhist_councils#First_Buddhist_council

-- Thánh Nghiêm - Thích Tâm Trí dịch. Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ:

https://www.thuvienhoasen.org/a11332/chuong-iii-nguyen-thi-phat-giao-va-tam-tang-thanh-dien

-- Tự điển Phật học. Kiều Phạm Ba Đề:

https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/kieu-pham-ba-de-k4309.html

-- Teitaro Suzuki. The First Buddhist Council:

https://sacred-texts.com/journals/mon/1stbudcn.htm

.

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các tài xế thương mại có thể tiếp tục cung cấp các mặt hàng và nguyên liệu cần thiết trong đại dịch COVID-19 mà không cần phải lo lắng về bằng lái hoặc chứng nhận y tế hết hạn sau khi Ủy Ban Xe Cơ Giới California (California Department of Motor Vehicle) công bố thêm một loạt gia hạn mới. Theo hướng dẫn mới được cập nhật từ Văn Phòng An Toàn Xe Cơ Giới Liên Bang, DMV đã công bố gia hạn đến hết tháng chín cho tất cả các bằng lái thương mại, giấy phép học, giấy chứng nhận và giấy phép đã hết hạn trong vòng tháng ba đến tháng chín năm 2020. Một quyết định gia hạn trước đó sẽ hết hiệu lực vào cuối tháng sáu.
Ngày 25.03.2020, toà án liên bang tại New York đã ra phán quyết vụ Tổ chức Văn Bút Hoa Kỳ PEN America kiện Tổng thống Donald Trump được phép tiến hành. Đây là một vụ kiện có tính cột mốc, cáo buộc Tổng thống Trump vi phạm Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ, vì đã sử dụng quyền lực của chính phủ để trả đũa truyền thông và các phóng viên mà ông không thích. Cụ thể, tòa án đã từ chối nỗ lực của chính phủ Trump xin bác bỏ đơn kiện của PEN America, và cho phép vụ kiện tiến hành.
Đây là chuyện tập đoàn kỹ nghệ thực phẩm Hoa kỳ đã dùng thế lực đồng tiền, các cuộc vận động hành lang (lobby), và bàn tay lông lá của họ để mua chuộc và hối lộ một số nhà lãnh đạo cao cấp hầu nắm giữ những chức vụ then chốt trong chánh phủ để tạo những hậu thuẩn thuận lợi cho kỹ nghệ thực phẩm. Họ không ngớt tung ra những lối quảng cáo vô cùng khoa học và rất hấp dẫn nhằm rù quến tập thể người tiêu thụ về những loại sản phẩm mới. Họ tập cho chúng ta có những thói quen ăn uống mới để phù hợp và thích ứng với sự tiến hóa của xã hội ngày nay. Nói tóm lại họ muốn chúng ta cứ việc nhắm mắt ăn đi, uống đi, càng nhiều càng tốt, nhưng đừng bao giờ thắc mắc đến việc sản phẩm được sản xuất như thế nào cũng như đừng quan tâm đến khía cạnh vệ sinh và sự trong lành của sản phẩm. Tất cả đều được cơ quan FDA “áp pru” mà!
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất
Bà à! Để nhớ lại cái thuở mình mới yêu nhau, tuần nào cũng hẹn hò gặp nhau ngoài công viên. Thật hạnh phúc biết bao! Bây giờ tôi ra ngoài công viên ngồi chờ rồi bà trang điểm và thay quần áo thật đẹp ra gặp tôi nhé.
Anh/Chị ơi. Em muốn mở tiệm làm móng mà đang lưỡng lự không biết đặt tên tiệm là gì cho thật “kêu” và nhớ lâu. Mong trả lời giúp em và cám ơn. Các anh chị ơi, cho em hỏi chút chuyện này. Em hay bị đổ mồ hôi nách. Em đã dùng nhiều loại thuốc khử mùi, không có kết quả gì hết. Bây giờ em muốn thử dùng loại dành cho đàn ông, có dùng được không hở anh/chị, vì em nghe nói nó khử mùi mạnh hơn. Cám ơn A/C trước nhé.
Các anh chị em ơi, mang mặt nạ (Masks) thì làm thế nào bày tỏ tình cảm của mình với người đối diện khi chỉ lộ ra đôi mắt?. Chẳng lẽ cứ bốn mắt nhìn nhau tức trào máu họng hay sao? Dễ lắm nhé, mình còn đôi chân mày này, đôi mắt này, dùng nó triệt để cũng được mà. Đôi mắt thường được người ta cho là “Cửa sổ của tâm hồn” quan trọng bậc nhất đấy nhé. Các anh chị em thử tập dùng bàn tay che mặt lại từ cánh mũi trở xuống rồi thử những tình cảm như buồn vui giận ghét qua chân mày và đôi mắt xem sao. Muốn biểu lộ sự kinh ngạc thì nhướng đôi chân mày lên, mắt mở to, lộ vẻ buồn thì đôi mắt nhìn xuống, chân mày cũng xụ xuống, buồn như …thất tình thiên thu luôn ấy, phải không.
Thời trang luôn theo sát thời cuộc quốc tế. Mùa đại dịch vẫn còn đó. Những nhà tạo kiểu mẫu thời trang mùa đại dịch có thể sẽ dựa vào thời trang từ thời xưa bên Âu Châu, khi phụ nữ mang mạng che mặt, kết dính liền từ chiếc nón, tạo nét duyên ngầm bí ẩn qua đôi mắt.
(Robert Mullins International) 60 ngày đình hõan không cho di dân nhập cảnh Hoa Kỳ đã bị gia hạn cho đến cuối năm 2020. Đó là lý do tại sao Tổng lãnh sự Hoa Kỳ sẽ chỉ cho phép hẹn lại những cuộc phỏng vấn đã bị hủy bỏ trong thời gian qua và chỉ phỏng vấn vợ/chồng và con nhỏ của công dân Hoa Kỳ. Vì thế, theo tuyên bố mới đây của Tòa Bạch Ốc, từ nay cho đến cuối năm nay, các Tòa Lãnh sự chỉ cấp chiếu khán (visa) di dân cho vợ/chồng và con nhỏ của các công dân Hoa Kỳ. Trong năm nay, "con nhỏ" có nghĩa là chỉ có những người con dưới 21 tuổi tính theo Dương lịch mới được đi phỏng vấn. Luật Bảo Vệ Tuổi Trẻ Em (CSPA) không được áp dụng. Bất cứ người con nào trên 21 tuổi của công dân Hoa Kỳ nếu có mặt trong ngày phỏng vấn sẽ bị từ chối.
Trong khi nhiều tiểu bang ở Mỹ đang chật vật đối phó với sự gia tăng đột biến số người bị nhiễm vi khuẩn corona và số người vào bệnh viện vì dịch bệnh, Tổng Thống Donald Trump vẫn tổ chức các cuộc tập họp quần chúng để vận động tranh cử và còn dọa sẽ không tài trợ cho các trường công nào không tái mở cửa vào mùa thu năm nay. Trong tuần qua chuyện Quốc Hội TQ thông qua luận an ninh quốc phòng Hong Kong và tình hình Biển Đông ngày càng căng thẳng khi cả Mỹ và TQ đều cùng lúc tổ chức các cuộc tập trận để phô trương lực lượng trên vùng biển nhiều tranh chấp này.
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Khi các trường hợp bị nhiễm vi khuẩn corona gia tăng trở lại, có thể là khó khăn đối với những người lớn tuổi để nhìn thấy bất cứ sự chấm dứt nào đối với nhu cầu cách ly xã hội và vì vậy sự cô đơn có thể đến. Cách nay nhiều tháng, họ đã thực hiện theo lời khuyên sức khỏe công cộng để giảm nguy cơ bị lây nhiễm bằng cách ở nhà, biết rằng việc truyền nhiễm có thể có nhiều biến chứng đe dọa tính mạng. Nhưng việc ở trong nhà cũng có nghĩa là cách biệt với gia đình, bạn bè và những nơi họ hoạt động và tham gia.
Ngoài ra, Thị Trưởng thành phố Houston tiểu bang Texas là Sylvester Turner cho biết trong cuộc họp báo hôm Thứ Năm rằng vi khuẩn Covid-19 trong thành phố đãa “không còn kiểm soát được nữa.” “Các con số đang di chuyển về hướng sai với chúng tôi. Vi khuẩn Covid-19 trong thành phố, mà cũng toàn tiểu bang, đang vượt khỏi tầm kiểm soát,” theo Turner cho biết. Houston báo cáo 412 trường hợp mới hôm Thứ Năm, nâng tổng số trường hợp lên ít nhất 26,012, với 250 người thiệt mạng.
Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Steven Mnuchin hôm Thứ Năm, 9 tháng 7 nói rằng chính phủ muốn hạn chế tiền thất nghiệp trong gói tài trợ vi khuẩn corona sắp tới để bảo đảm các công nhân không vì lãnh tiền trợ cấp nhiều hơn tiền lương cũ, theo Marketwatch.com cho biết. Theo luật tài trợ vi khuẩn corona trong tháng 3, công nhân đã nhận $600 mỗi tuần thêm vào với trợ cấp thất nghiệp bình thường của họ, mà các chỉ trích nói là khuyến khích người thất nghiệp không tìm việc làm. “Bạn có thể cho rằng nó sẽ không hơn 100%, vì thế vâng, chúng tôi muốn khuyến khích mọi người trở lại làm việc,” theo Mnuchin cho biết, trong cuộc phỏng vấn với CNBC. Hạ Viện đã thông qua dự luật gia hạn thêm $600 tiền trả hàng tuần cho đến tháng 12.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.