Hôm nay,  

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất

04/02/202607:03:00(Xem: 568)
blank

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất
 

Nguyên Giác
 

Những người soạn Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) không chú ý nhiều về Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, trong khi Tự Điển này là nơi được người học Phật tham khảo nhiều nhất, mỗi khi có thắc mắc, bất kể rằng tính xác thực của Wikipedia có khi không chính xác, bởi vì bất kỳ ai giỏi về kỹ thuật vi tính đều có quyền góp ý trên đó. Bài này sẽ tìm thêm một số thông tin liên hệ về kỳ Kết tập này, và người viết (tự thấy học lực chẳng bao nhiêu) nơi đây sẽ không dám đưa vào bình luận theo bất kỳ ý riêng nào. Tất cả các liên kết mạng sẽ ghi cuối bài để người học Phật khảo sát thêm.

 
Mới tuần trước, Ni Trưởng Thích Nữ Triệt Như, trong bài "Hai dòng truyền thừa" đã về Kết tập kinh điển lần thứ I với vài dòng sơ lược: “Sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng ba tháng, ngài Mahā Kassapa đã đứng ra triệu tập đại hội 500 vị đại đệ tử A la hán của đức Phật, bằng cách đọc tụng lại hai tạng: Kinh và Luật. Đó là vào khoảng năm 483 BCE.”
 

Trong phần tiếng Việt trên Wikipedia (vào ngày 3 tháng 2/2026), nơi mục từ "Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất" đã ghi nhận như sau, không đầy đủ như phần tiếng Anh. Chúng ta chép lại nguyên văn như sau, không ghi các số ghi chú:
 

(Trích Wikipedia tiếng Việt)

Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất là đại hội được thực hiện vào mùa hạ sau khi tổ chức lễ trà tỳ (hỏa táng) cho Phật Thích-ca Mâu-ni, mục đích của đại hội là nhằm xác định chính xác giới luật và kinh văn để tránh những sai lệch do hiểu lầm hoặc phá hoại.

Sau khi nghe tin Phật nhập Niết bàn, một tỳ kheo tên là Bạt-nan-đà (Upananda), mới gia nhập tăng đoàn không lâu, nói như sau:

'Vị trưởng lão ấy (chỉ Phật) thường dạy chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia; nên học những điều này, không nên học những điều kia, thật là phiền toái. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát được nỗi khổ ấy, tùy ý muốn làm gì làm, không còn ai ngăn cản nữa. Vì sao các ông lại thương tiếc khóc than?'

Ma-ha-ca-diếp (Mahakasyapa), một trong các trưởng lão của Tăng-già, nghe thấy và ông cho rằng những tỳ kheo phóng túng như thế rất có thể sẽ ngày càng phổ biến và họ sẽ phá hoại đạo pháp, do vậy mà quyết định tổ chức một đại hội gồm các vị am hiểu Phật pháp nhằm thống nhất nội dung tu học.

Các thông tin về đại hội

Yêu cầu thành lập đại hội: Trưởng lão Ma-ha-ca-diếp

Chủ trì: A-nhã-kiều-trần-như, Phú-lâu-na, Đàm-di, Đà-bà-ca-diếp, Bạt-đà-ca-diếp, Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-li, A-na-luật.

Địa điểm diễn ra cuộc kết tập là chân núi Vibhara, gần thành phố Rajgir (Vương xá), kinh đô của vương quốc Magadha - gần biên giới Ấn Độ và Nepal ngày nay.

Thời gian: sau khi Phật nhập Niết bàn một thời gian ngắn. Đại hội kéo dài trong 7 tháng, Phật giáo Bắc truyền cho rằng chỉ có 3 tháng.

Người hỗ trợ tài chính cho cuộc kết tập là vua A-xà-thế chủ thành Vương xá.

Số lượng A-la-hán tham gia: đúng 500 vị, những người không phải là A-la-hán không được tham gia. Do số lượng là 500 mà cuộc kết tập lần này còn có tên là Ngũ bách kết tập.

Người đọc về kinh là tôn giả A-nan, anh em họ của Phật và là người theo hầu Phật suốt 25 năm, ông có trí nhớ rất tốt. Tương truyền rằng A-nan giao kết với Đức Phật chỉ nhận làm thị giả với điều kiện là nếu có lần thuyết giảng nào mà A-nan không dự được, Đức Phật phải giảng lại hoặc nhờ một trong 10 đại đệ tử giảng lại, chính vì thể gần như toàn bộ nội dung Đức Phật thuyết giảng ông đều nắm rõ. Ngay trước đại hội có 1 đêm nhờ nỗ lực A-nan mới chứng quả vị A-la-hán, điều này nhiều người cho rằng đã có một sự "châm chước" nào đó cho A-nan bởi vì vai trò của ông rất quan trọng, nhưng nếu không đắc A-la-hán thì nhất quyết không được gia nhập đại hội. Các kinh thường được mở đầu bằng câu "như thị ngã văn..." có nghĩa là "tôi nghe như vậy, một thời, tại...", tôi ở đây chính là A-nan.

Người đọc về luật là tôn giả Ưu-ba-li, người rất thông hiểu về giới luật.

Hình thức chấp thuận: A-nan và Ưu-ba-li đọc, các thành viên trong đại hội nếu đồng ý thì coi đó là lời Phật đã nói.

Hình thức lưu trữ: Thời đó không ghi ra giấy mà chỉ đọc tụng và được ghi nhớ trong đầu. Cũng vì để dễ nhớ mà các bộ kinh có kết cấu lặp đi lặp lại. Do độ lớn của kinh và luật nên mỗi một nhóm đảm trách công việc ghi nhớ chuyên biệt một số chương nhất định, những nhóm này về sau thường xuyên trao đổi thông tin với nhau để tránh việc mất mát và hiểu sai.

Quan điểm: tất cả đều đồng ý giữ nguyên những gì do Phật thuyết, nhưng tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt.

(Hết trích)
 

Để làm sáng tỏ về ý "tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt" nơi đoạn trên, chúng ta có thể tham khảo sách "Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo" của Tỳ kheo Thiện Minh, trích như sau:
 

(Trích)

Sau cuộc kết tập, Đại Đức Ananda có bạch với Chư Thánh Tăng rằng lúc Như Lai sắp sửa viên tịch, Ngài có dạy: "Khi ta viên tịch các vị có thể bỏ bớt những giới học nào không quan trọng". Ngài Mahakassapa hỏi Đại Đức Ananda học giới nào là không quan trọng, ngài Ananda trả lời vì lúc Đạo sư Níp-bàn, Đại Đức quá bận rộn nên không hỏi điều đó. Ngài Mahakassapa với tư cách là chủ tọa liền tụng tuyên trước Chư Thánh Tăng như vầy: "Kính bạch Chư Tăng, vấn đề giới luật rất quan trọng, nó liên quan đến đời sống của sa môn, nhưng Thế Tôn trước khi viên tịch không nói rõ điều nào không quan trọng. Vì vậy cho nên kính xin Chư Thánh hiền Tăng từ nay về sau Chư vị đừng thêm mà cũng đừng bớt học giới nào mà Thế Tôn đã chế định, cứ vậy mà thực hành.”

(Hết trích)
 

Trong Tự điển Wikipedia phần tiếng Anh, trong mục từ "Buddhist councils" nơi mục từ "First Buddhist council" (Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất), chúng ta nơi đây dịch từ Anh sang Việt như sau về các thông tin không có nơi Wikipedia tiếng Việt:
 

(Trích, dịch)

Quan niệm truyền thống cho rằng toàn bộ Kinh tạng và Luật tạng như chúng ta biết ngày nay đều được tụng đọc trong hội nghị này có lẽ là một sự phóng đại.

Nhiều bản Luật tạng cũng mô tả những bất đồng khác nhau trong hội nghị đầu tiên. Nhiều vị sư bất đồng về việc giữ lại hay loại bỏ một số giới luật nhỏ (vì Đức Phật đã nói với Ananda rằng điều này có thể được thực hiện). Một số vị sư thậm chí còn tranh luận rằng tất cả các giới luật nhỏ nên bị bãi bỏ. Ngoài ra, nhiều nguồn tài liệu ban đầu cho biết Mahakasyapa đã chỉ trích Ananda theo nhiều cách khác nhau. Analayo trích dẫn một đoạn từ một bản song song tiếng Trung của kinh Mahāparinibbāna-sutta (T 1428 tại T XXII 966b18), trong đó Mahākassapa nói: "Ānanda giống như một người cư sĩ. Tôi sợ rằng, với lòng tham lam trong tâm trí, ông Ānanda sẽ không tụng đọc các bài kinh một cách đầy đủ." Analayo viết rằng có thể đã có "xung đột thực sự giữa hai phe đối lập trong cộng đồng tăng lữ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, với phe có khuynh hướng khổ hạnh hơn nổi lên là phe chiến thắng trong các ghi chép về hội nghị đầu tiên".

Theo một số ghi chép truyền thống, sau khi Đức Phật qua đời, 499 vị A-la-hán hàng đầu của Đức Phật đã được chọn để tham dự hội nghị. Ananda, lúc đó là một vị Sotapanna (Nhập Lưu), đã tự rèn luyện cho đến bình minh ngày diễn ra hội nghị, lúc đó ngài đạt được quả vị A-la-hán và được phép tham gia hội nghị.

Về Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka), phần chính thứ ba của Tam Tạng Kinh điển, các học giả hiện đại cho rằng nó có thể được biên soạn vào một thời điểm muộn hơn do nội dung và sự khác biệt về ngôn ngữ và phong cách. Theo truyền thống Theravada, Tạng Vi Diệu Pháp và Atthakathā (chú giải) cổ xưa cũng được đưa vào hội nghị Phật giáo đầu tiên trong phần Kinh tạng, nhưng ngữ pháp văn học của nó khác với Kinh tạng vì Tạng Vi Diệu Pháp được biên soạn bởi Sāriputta.

Các nhóm khác

Các bản Luật tạng khác nhau cũng kể lại một sự kiện kỳ ​​lạ khác trong thời gian này. Bộ Cullavagga đề cập đến một vị A-la-hán tên là Purāṇa, người tuyên bố rằng ông và các đệ tử của mình ghi nhớ giáo lý của Đức Phật theo cách mà họ đã nghe được, và do đó không dựa vào các bộ kinh điển được biên soạn tại hội nghị. Nhân vật này cũng xuất hiện trong Aśokāvadāna và Dulvā Vinaya của Tây Tạng, mô tả Purāṇa và một vị sư khác, Gavampati, những người không có mặt tại hội nghị và lo lắng về những gì sẽ xảy ra với Pháp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn. Câu chuyện này được mô tả trong các phiên bản tiếng Trung của Dharmagupta và Mahīsāsaka Vinaya và trong Vinayamātrika Sūtra. Gavampati được cho là cũng đã duy trì một bộ tám quy tắc về thức ăn, được lưu giữ trong Mahīsāsaka Vinaya.

Một sự kiện tương tự được mô tả bởi các nguồn tài liệu Trung Quốc như các tác phẩm của học giả Ấn Độ Paramartha, Jizang và nhà hành hương Huyền Trang. Theo các nguồn này, một bộ kinh điển thay thế có tên là Mahasamghikanikaya đã được biên soạn bởi một vị A-la-hán tên là Baspa và các đệ tử của ông. Huyền Trang báo cáo đã đến thăm một bảo tháp gần Rajgir, nơi đánh dấu địa điểm của hội nghị thay thế này.

Tính xác thực lịch sử

Một số học giả hiện đại nghi ngờ liệu toàn bộ kinh điển có thực sự được tụng đọc trong Đại hội lần thứ nhất hay không, bởi vì các văn bản ban đầu chứa đựng những mô tả khác nhau về các chủ đề quan trọng như thiền định. Tuy nhiên, có thể các phiên bản ban đầu của những gì hiện được gọi là Vinaya-piṭaka và Sutta-piṭaka đã được tụng đọc. Tuy nhiên, nhiều học giả, từ cuối thế kỷ 19 trở đi, đã coi tính xác thực lịch sử của Đại hội lần thứ nhất là không chắc chắn. Một số học giả, chẳng hạn như các nhà Đông phương học Louis de La Vallée-Poussin và D.P. Minayeff, cho rằng chắc chắn phải có các cuộc họp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, nhưng chỉ coi các nhân vật chính và một số sự kiện trước hoặc sau Đại hội lần thứ nhất là có tính lịch sử. Một số học giả khác, chẳng hạn như nhà Phật học André Bareau và nhà Ấn Độ học Hermann Oldenberg, cho rằng rất có thể bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất được viết sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai, và dựa trên bản ghi chép của đại hội thứ hai, vì không có vấn đề lớn nào cần giải quyết sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, hoặc bất kỳ nhu cầu nào khác để tổ chức Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.

Mặt khác, nhà khảo cổ học Louis Finot, nhà Ấn Độ học E. E. Obermiller và ở một mức độ nào đó là nhà Ấn Độ học Nalinaksha Dutt cho rằng bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất là xác thực, vì sự tương ứng giữa các văn bản tiếng Pali và các truyền thống tiếng Phạn. Trong khi đó, nhà Ấn Độ học Richard Gombrich cho rằng "phần lớn Kinh điển Pali" có niên đại từ thời Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.”

(Hết trích, dịch)
 

Cần ghi chú nơi đây rằng: tên của ngài Purāṇa tới trễ trong đại hội kết tập lần thứ nhất trong tiếng Việt thường phiên âm là Trưởng lão Phú-lan-na hay Phú-lâu-na, còn gọi là Tôn giả Mãn Từ. Nên ghi để khỏi nhầm: Tôn giả Mãn Từ không phải Phú-lan-na Ca-diếp (Pūraṇa Kassapa) một trong lục sư ngoại đạo.

Có thông tin bổ túc thêm cho kỳ kết tập lần thứ nhất là từ sách "Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ" của tác giả Thánh Nghiêm, bản dịch tiếng Việt của thầy Thích Tâm Trí, trích như sau:
 

(Trích)

Nhờ thẩm tra nhiều nguồn tư liệu cho thấy Đại hội kết tập tại thành Vương Xá chỉ gồm những vị cùng một phái với ngài Ca Diếp, và đó là cuộc kết tập của một thiểu số người, của những vị Thượng tọa Tỳ kheo đại biểu cho phái khổ hạnh. Duy có điều, thành quả của lần Đại hội này là rất to lớn. Nó đánh bại tất cả mọi dị nghị của số đông người, do đó cho nên vị trí của nó là cực kỳ quan trọng. Nói chính xác, thì đây là cuộc Đại hội được tổ chức vừa thuận lợi, vừa hoàn thành một cách chóng vách. Nếu không, có thể sẽ diễn ra một cuộc tranh luận không khoan nhượng giữa các đại gia; chừng đó vấn đề càng thêm phức tạp. Có điều, trong kỳ Đại hội này phái của Trưởng lão Phú Lâu Na không thấy tham dự, và đó cũng là vấn đề còn đọng lại của Phật Giáo.

- Trưởng lão Phú Lâu Na

Lúc Đại hội kết tập tại thành Vương Xá kết thúc, theo “Thiện Kiến Luật” của Nam truyền, và “Tứ Phần Luật” của Bắc truyền, tất cả các bộ luật này đều nói có một vị trưởng lão tên là Phú Lâu Na dẫn năm trăm Tỳ kheo từ phương nam đi đến thành Vương Xá, hay còn nói là từ Nam Sơn (Dakkhi Na Giri) đến để cùng ngài Ca Diếp luận đàm thêm về Pháp (kinh) và Luật (giới). Theo “Luật Tiểu Phẩm Ngũ Bách Kiền Độ Đệ Thập Nhất” của Nam truyền, thì nói là ngài Phú Lâu Na phiền trách mà rằng: “quí ngài kết tập pháp, luật, điều đó là cực quí. Nhưng tôi là người từng thân cận, và theo Phật nghe pháp; vậy, quí ngài cũng nên nghe tôi khẩu thuật”. Riêng “Ngũ Phần Luật” quyển 30 thuật rằng ngài Phú Lâu Na nói với ngài Đại Ca Diếp: “đích thân tôi theo Phật nghe pháp, nghe luật, những việc như “nội túc thực”, chính tự tôi dâng thức ăn lên Phật, tự tội nhận thu dọn sau khi Phật thọ thực xong, tôi dâng nước uống lên Phật, không người nào không sạch, không món nào không sạch, tôi mới dâng lên Phật”.

(Hết trích)
 

Trong khi đó, ngài Gavampati vắng mặt trong đại hội kết tập lần thứ nhất là người trong tiếng Việt được phiên âm là Kiều-phạm-ba-đề, còn gọi là Trưởng lão Ngưu Thâu (hoặc Ngưu Vương). Khác với ngài Purāṇa (người đến dự sau và xin giữ lại một số chi tiết về giới luật), ngài Gavampati không tham gia cuộc kết tập, mặc dù ngài là một trong những vị thượng thủ còn sống vào thời điểm đó. Khi các trưởng lão được đại hội cử lên cõi trời mời ngài Gavampati từ cõi trời Đao Lợi về dự kết tập, ngài đã hỏi một câu rất xúc động: “Thế tôn đã nhập Niết-bàn rồi sao? Pháp chủ đã đi rồi sao?” Sau khi biết Đức Phật và những người bạn đồng tu thân thiết (như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên) đều đã viên tịch, ngài cảm thấy thế gian này không còn gì lưu luyến. Thay vì về thảo luận xem kinh điển nên đọc thế nào, giới luật nên giữ ra sao, ngài Kiều-phạm-ba-đề chọn cách nhập diệt ngay lập tức. Ngài cho rằng khi "Mặt trời đã lặn", ngài cũng nên đi theo dấu chân của bậc Đạo sư.

Tự điển Phật học Online, mục từ "Kiều Phạm Ba Đề" ghi nhận về ngài như sau:
 

(Trích)

Kiều Phạm Ba Đề

(s: Gavāṃpati, p: Gavaṃpati, 憍梵波提): còn gọi là Kiều Phạm Bạt Đề (憍梵跋提), Cấp Phòng Bát Để (笈房鉢底), Già Bà Bạt Đế (伽婆跋帝), Già Phạm Ba Đề (伽梵波提), Kiều Hằng Bát (憍恆鉢), Phòng Bát Để (房鉢底); ý dịch là Ngưu Tích (牛跡), Ngưu Ha (牛呵), Ngưu Ty (牛司), Ngưu Chủ (牛主), Ngưu Vương (牛王), Ngưu Tướng (牛相), từng được Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) chỉ đạo. Tương truyền vào thời quá khứ ông từng ngắt một cọng lúa, làm rơi hạt lúa xuống đất, nên bị đọa làm thân con bò trong 500 kiếp, vì vậy khi làm thân người, ông vẫn còn tánh khí của con trâu, ăn xong thường ợ hơi ra, nhai lại. Hơn nữa, do ông tạo ác nghiệp khinh thường Sa Môn nên hiện đời phải thọ quả báo miệng thường há và ngáp như loài bò (牛呵), hay móng chân ông giống như chân bò. Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, ông là một chú Sa Di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa Di kia ! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La Hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi !” Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên (尸利沙園) của cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt. Ông được xem như là người Giải Luật Đệ Nhất.”

(Hết trích)
 

Trong khi đó, học giả Thiền sư Teitaro Suzuki trong tác phẩm Anh văn "The First Buddhist Council" kể chi tiết về Đại hội Kết tập lần thứ nhất. Nơi đây, chúng ta không đi sâu, chỉ dịch lại lời phân tích của Albert J. Edmunds trong phần "Prefatory Note" (Ghi Chú Đầu Sách). Chúng ta trích dịch ra tiếng Việt như sau:
 

(Trích, dịch)

Các tài liệu mà Suzuki trình bày ở đây rõ ràng cho thấy sự tồn tại của các bản kinh điển đối lập, đồng nhất về những nguyên tắc cơ bản, nhưng khác nhau về cách sắp xếp và phạm vi. Chúng ta có thể suy ra từ Biên niên sử Đảo (Island Chronicle) rằng một vấn đề gây tranh cãi phổ biến là câu hỏi: Cái nào là văn bản gốc và cái nào là chú giải? Do đó, chúng ta thấy rằng sự khác biệt rõ rệt tồn tại trong những phần của Kinh điển chứa đựng phần chú giải: Bộ sưu tập ngắn (Khuddaka Nikāya: Tiểu Bộ Kinh) và Giáo lý cao cấp (Abhidhamma: A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp).

Tất nhiên, các Kinh điển được đưa ra ở đây như đã được xác định vào thời điểm Đức Phật qua đời được mỗi trường phái lấy từ bản kinh điển riêng của họ như nó tồn tại khi tài liệu được viết; nhưng điều này không làm thay đổi sự thật rằng ít nhất hai bản kinh điển như vậy đã tồn tại ngay từ đầu, đó là bản kinh điển của giới quý tộc và bản kinh điển của giới bình dân. Bản thứ nhất là Trường phái Trưởng lão (Theravada) và bản thứ hai là Đại chúng bộ. Đúng là trường phái sau (Mahāsamghika) đã không chính thức tách ra cho đến hội đồng kết tập kinh điển lần thứ hai, vào cuối thế kỷ Phật giáo đầu tiên; nhưng từ lâu tôi đã nhận thấy rằng mầm mống của nó có thể được tìm thấy trong lời nói của Purâṇa.

Các tài liệu của Suzuki rất có giá trị, nếu không nói là gì khác, thì ít nhất cũng là danh sách nội dung của các Kinh điển giáo phái khác nhau. Chính những tài liệu cơ bản như thế này đang rất cần được dịch từ tiếng Phạn, tiếng Trung và tiếng Tây Tạng. Chúng ta cần so sánh những tuyên bố của trường phái bảo thủ, được truyền lại cho chúng ta thông qua tiếng Pāli, với những tuyên bố của các giáo phái khác có các bản kinh điển khác và đối lập.”

(Hết trích, dịch)
 

Tất cả các thông tin dẫn trên đều có liên kết trong phần Tham Khảo cuối bài này. Các thông tin trên có thể giúp cho những vị muốn nghiên cứu xa hơn về việc kết tập thánh điển. Riêng tác phẩm "The First Buddhist Council" của ngài Teitaro Suzuki hình như chưa được dịch sang tiếng Việt. Nếu sau này có bản tiếng Việt, đề nghị quý thầy dịch giả nên đưa lên mạng Internet để Phật tử tham khảo, vì bản tiếng Anh hiện nay là miễn tác quyền (public domain) nên không cần trả tiền mua bản quyền để dịch.
 

THAM KHẢO:

-- Thích Nữ Triệt Như. Hai dòng truyền thừa:

https://thuvienhoasen.org/a43460/bai-30-hai-dong-truyen-thua-thich-nu-triet-nhu-song-ngu-

-- Wikipedia. Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất:

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_k%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADp_kinh_%C4%91i%E1%BB%83n_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t

-- Tỳ Kheo Thiện Minh. Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo:

https://www.budsas.org/uni/u-ngan/lichsuket.htm

-- Buddhist councils. First Buddhist council:

https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhist_councils#First_Buddhist_council

-- Thánh Nghiêm - Thích Tâm Trí dịch. Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ:

https://www.thuvienhoasen.org/a11332/chuong-iii-nguyen-thi-phat-giao-va-tam-tang-thanh-dien

-- Tự điển Phật học. Kiều Phạm Ba Đề:

https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/kieu-pham-ba-de-k4309.html

-- Teitaro Suzuki. The First Buddhist Council:

https://sacred-texts.com/journals/mon/1stbudcn.htm

.

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tân Tây Lan (New Zealand) có vẻ đã hoàn toàn xóa sạch vi khuẩn corona – ít nhất cho đến nay – sau khi các viên chức y tế cho biết hôm Thứ Hai, 8 tháng 6 rằng người bị truyền nhiễm được biết sau cùng đã bình phục. Tuyên bố đã được chào đón với niềm vui cả nước và có nghĩa là quốc gia 5 triệu dân này sẽ nằm trong số nước đầu tiên chào đón mọi người trở lại trong các sân vận động, các buổi hòa nhạc đông người và gỡ bỏ các hạn chế chỗ ngồi trên các chuyến bay. Đó là 17 ngày kể từ trường hợp bị lây mới nhất được báo cáo, trong thời gian có thêm 40,000 người đã được thử nghiệm, nâng tổng số người được thử nghiệm lên 300,000. Hôm Thứ Hai đánh dấu lần đầu tiên kể từ cuối tháng 2 không có trường hợp lây bệnh nào nữa.
Quốc Hội CSVN đã thông qua Hiệp Định Mậu Dịch Tự Do Liên Âu-VN (EVFTA) và Hiệp Định Bảo Hộ Đầu Tư (EVIPA) hôm 8 tháng 6 năm 2020 để thúc đẩy thương mại song phương, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm Thứ Hai.
Xét nghiệm này miễn phí, dành cho những người làm việc thiết yếu trong lĩnh vực thương mại, nhà hàng, giáo dục và phục vụ cộng đồng xã hội. Thứ Năm, ngày 11 tháng 6/2020, từ 12 giờ trưa tới 6 giờ chiều. Tại Vietnamese Taekwondo Center, 14891 Moran St., Westminster, CA 92683
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chúng con Chư Ni Chùa Hương Sen và học trò nhỏ của Ôn từ Mỹ Quốc vừa hay tin Hòa thượng giáo sư đã viên tịch, quãy dép về Tây vào lúc 3h15 phút sáng nay 16/4/ Canh Tý, Chủ Nhật ngày 07 tháng 06 năm 2020 tại Sài Gòn, Việt Nam. Chúng con thật vô cùng bồi hồi kính tiếc.
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Bênh liệt kháng Sida mèo do virus FIV(Feline immunodeficiency virus)gây ra và không ảnh hưởng đến người và các thú vật khác. Các nhà khoa học ước lượng tại Bắc Mỹ có thể có vào khoảng từ 1% đến 5% mèo nhà, có tiềm năng bị nhiễm bệnh liệt kháng.
Bắt đầu từ Thứ Hai, 8 tháng Sáu, 2020 đến tháng Mười Một, 2020, một số khu vực trong Thành phố sẽ được sửa chữa và có thể gây chậm trễ giao thông tạm thời. Các đường phố đang được sửa chữa bao gồm: Lampson Avenue, từ Brookhurst Street đến Nelson Street; Magnolia Street, từ Shelley Drive đến Katella Avenue; đường Brookhurst Street, từ Lampson Avenue đến Chapman Avenue; Euclid Street, từ Lampson Avenue đến Chapman Avenue; và La Vaughn Drive, Russel Avenue, và Earle Drive tại Imperial Avenue.
Chiều Chủ nhật ngày 7/6/2020, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức một cuộc biểu tình phản đối Chính phủ tiểu bang Victoria âm thầm ký kết những hợp đồng với Trung cộng đi ngược lại lợi ích nước Úc. Cuộc biểu tình diễn ra trước Quốc Hội Victoria với sự tham dự của đại diện các sắc tộc Trung Hoa lục địa, Đài Loan, Tây Tạng, Uyghur (Duy Ngô Nhĩ), Hong Kong và một số người Úc.
Đại dịch COVID-19 nhắc nhở chúng ta phải quan tâm hơn đến vấn đề sức khoẻ, các biện pháp phòng tránh lây nhiễm, và những việc cần làm ngay để tăng khả năng đề kháng nếu như bị lây nhiễm. Trong buổi trình bày trực tuyến tới đây, chúng tôi giới thiệu một đề tài mà có lẽ có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng người Việt không riêng ở Hoa Kỳ mà còn ở mọi nơi, kể cả Việt Nam: Nguy cơ của hút thuốc lá đối với người nhiễm bệnh COVID-19. Hút thuốc làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Hút thuốc làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh nặng hơn từ COVID-19.
Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Đảng Viên Cộng Hòa Colin Powell hôm Chủ Nhật nói rằng Tổng Thống Donald Trump đã “rời xa” Hiến Pháp, thêm vào danh sách ngày càng tăng các cựu viên chức quân đội hàng đầu là những người chỉ trích mạnh mẽ phản ứng của Tổng Thống đối với những người biểu tình trên toàn quốc chung quanh việc cảnh sát giết chết George Floyd, theo CNN cho biết hôm Chủ Nhật, 7 tháng 6. “Chúng ta có Hiến Pháp. Và chúng ta phải tuân theo Hiến Pháp đó. Và Tổng Thống đã rời xa nó,” Powell, vị đại tướng về hưu là người đã phục vụ dưới thời Tổng Thống George W. Bush, nói với Jake Tapper trong chương trình “State of the Union” của CNN.
Vào xế chiều Chủ Nhật, 7 tháng 6 năm 2020 đám đông người biểu tình tại Thủ Đô Washington đã tụ họp từ DuPont Circle tới đường 16th Street mà hiện có hàng chữ vĩ đại “Black Lives Matter” sơn dưới đường. Ở đó, những người biểu tình tham dự cùng nhau hô to khẩu hiệu, “Tôi không thể thở” – là những lời mà Floyd nói khi cảnh sát Minneapolis dè cổ ông ấy. Những người biểu tình tại Nam California, nhiều người trong số đó là gốc La Tinh, đã đi bộ từ thành phố Compton tới trụ sở của Sở Cảnh Sát Los Angeles. Một nhà tổ chức cho biết cuộc diễu hành trong trật tự và giữ khoảng cách xã hội.
• Cựu Tổng thống George W. Bush và Thượng nghị sĩ Mitt Romney của tiểu bang Utah sẽ không ủng hộ việc tái cử của Tổng thống Donald Trump và các nhân vật Cộng Hoà khác hiện đang suy tính việc bỏ phiếu cho Joe Biden - tờ New York Times tường thuật. • Tờ Times cho rằng Trump thất bại do việc xử lý các cuộc biểu tình phản đối sự tàn bạo của cảnh sát và việc xử lý không đúng về đại dịch coronavirus. • Một số nhân vật Cộng Hoà đã công khai bộc lộ tình trạng tiến thoái lưỡng nan của họ, trong khi cố gắng cân bằng lương tâm, ý thức hệ và sự rủi ro cho chính họ và chương trình nghị sự của họ.
Các viên chức y tế Quận Los Angeles báo báo 1,523 trường hợp mới bị lây vi khuẩn corona và 25 người thiệt mạng hôm Chủ Nhật, 7 tháng 6 năm 2020, nâng tổng số trường hợp bị lây lên 63,844 và 2,645 người thiệt mạng. Phần trăm người chết vì tình trạng sức khỏe tiềm ẩn vẫn ở mức cao, 93%, khiến bà Ferrer cảnh báo những người dân dễ bị tổn thương tiếp tục ở trong nhà ngay cả khi nhiều cơ sở kinh doanh bắt đầu mở và gọi bác sĩ lúc dấu hiệu đầu tiên của các triệu chứng. - Tính tới Chủ Nhật, trên toàn cầu có 6,799,713 trường hợp bị lây, với 397,388 người thiệt mạng. - Tại Hoa Kỳ hiện có 1,977,899 trường hợp bị lây, với 112,054 người thiệt mạng. - Tại California có 128,812 trường hợp bị lây, với 4,626 người thiệt mạng. - Tại Quận Cam thuộc miền Nam California có 7,440 trường hợp bị lây, với 177 người thiệt mạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.