Hôm nay,  

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất

04/02/202607:03:00(Xem: 467)
blank

Kết tập Kinh điển lần thứ nhất
 

Nguyên Giác
 

Những người soạn Tự Điển Bách Khoa Mở (Wikipedia) không chú ý nhiều về Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất, trong khi Tự Điển này là nơi được người học Phật tham khảo nhiều nhất, mỗi khi có thắc mắc, bất kể rằng tính xác thực của Wikipedia có khi không chính xác, bởi vì bất kỳ ai giỏi về kỹ thuật vi tính đều có quyền góp ý trên đó. Bài này sẽ tìm thêm một số thông tin liên hệ về kỳ Kết tập này, và người viết (tự thấy học lực chẳng bao nhiêu) nơi đây sẽ không dám đưa vào bình luận theo bất kỳ ý riêng nào. Tất cả các liên kết mạng sẽ ghi cuối bài để người học Phật khảo sát thêm.

 
Mới tuần trước, Ni Trưởng Thích Nữ Triệt Như, trong bài "Hai dòng truyền thừa" đã về Kết tập kinh điển lần thứ I với vài dòng sơ lược: “Sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng ba tháng, ngài Mahā Kassapa đã đứng ra triệu tập đại hội 500 vị đại đệ tử A la hán của đức Phật, bằng cách đọc tụng lại hai tạng: Kinh và Luật. Đó là vào khoảng năm 483 BCE.”
 

Trong phần tiếng Việt trên Wikipedia (vào ngày 3 tháng 2/2026), nơi mục từ "Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất" đã ghi nhận như sau, không đầy đủ như phần tiếng Anh. Chúng ta chép lại nguyên văn như sau, không ghi các số ghi chú:
 

(Trích Wikipedia tiếng Việt)

Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất là đại hội được thực hiện vào mùa hạ sau khi tổ chức lễ trà tỳ (hỏa táng) cho Phật Thích-ca Mâu-ni, mục đích của đại hội là nhằm xác định chính xác giới luật và kinh văn để tránh những sai lệch do hiểu lầm hoặc phá hoại.

Sau khi nghe tin Phật nhập Niết bàn, một tỳ kheo tên là Bạt-nan-đà (Upananda), mới gia nhập tăng đoàn không lâu, nói như sau:

'Vị trưởng lão ấy (chỉ Phật) thường dạy chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia; nên học những điều này, không nên học những điều kia, thật là phiền toái. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát được nỗi khổ ấy, tùy ý muốn làm gì làm, không còn ai ngăn cản nữa. Vì sao các ông lại thương tiếc khóc than?'

Ma-ha-ca-diếp (Mahakasyapa), một trong các trưởng lão của Tăng-già, nghe thấy và ông cho rằng những tỳ kheo phóng túng như thế rất có thể sẽ ngày càng phổ biến và họ sẽ phá hoại đạo pháp, do vậy mà quyết định tổ chức một đại hội gồm các vị am hiểu Phật pháp nhằm thống nhất nội dung tu học.

Các thông tin về đại hội

Yêu cầu thành lập đại hội: Trưởng lão Ma-ha-ca-diếp

Chủ trì: A-nhã-kiều-trần-như, Phú-lâu-na, Đàm-di, Đà-bà-ca-diếp, Bạt-đà-ca-diếp, Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-li, A-na-luật.

Địa điểm diễn ra cuộc kết tập là chân núi Vibhara, gần thành phố Rajgir (Vương xá), kinh đô của vương quốc Magadha - gần biên giới Ấn Độ và Nepal ngày nay.

Thời gian: sau khi Phật nhập Niết bàn một thời gian ngắn. Đại hội kéo dài trong 7 tháng, Phật giáo Bắc truyền cho rằng chỉ có 3 tháng.

Người hỗ trợ tài chính cho cuộc kết tập là vua A-xà-thế chủ thành Vương xá.

Số lượng A-la-hán tham gia: đúng 500 vị, những người không phải là A-la-hán không được tham gia. Do số lượng là 500 mà cuộc kết tập lần này còn có tên là Ngũ bách kết tập.

Người đọc về kinh là tôn giả A-nan, anh em họ của Phật và là người theo hầu Phật suốt 25 năm, ông có trí nhớ rất tốt. Tương truyền rằng A-nan giao kết với Đức Phật chỉ nhận làm thị giả với điều kiện là nếu có lần thuyết giảng nào mà A-nan không dự được, Đức Phật phải giảng lại hoặc nhờ một trong 10 đại đệ tử giảng lại, chính vì thể gần như toàn bộ nội dung Đức Phật thuyết giảng ông đều nắm rõ. Ngay trước đại hội có 1 đêm nhờ nỗ lực A-nan mới chứng quả vị A-la-hán, điều này nhiều người cho rằng đã có một sự "châm chước" nào đó cho A-nan bởi vì vai trò của ông rất quan trọng, nhưng nếu không đắc A-la-hán thì nhất quyết không được gia nhập đại hội. Các kinh thường được mở đầu bằng câu "như thị ngã văn..." có nghĩa là "tôi nghe như vậy, một thời, tại...", tôi ở đây chính là A-nan.

Người đọc về luật là tôn giả Ưu-ba-li, người rất thông hiểu về giới luật.

Hình thức chấp thuận: A-nan và Ưu-ba-li đọc, các thành viên trong đại hội nếu đồng ý thì coi đó là lời Phật đã nói.

Hình thức lưu trữ: Thời đó không ghi ra giấy mà chỉ đọc tụng và được ghi nhớ trong đầu. Cũng vì để dễ nhớ mà các bộ kinh có kết cấu lặp đi lặp lại. Do độ lớn của kinh và luật nên mỗi một nhóm đảm trách công việc ghi nhớ chuyên biệt một số chương nhất định, những nhóm này về sau thường xuyên trao đổi thông tin với nhau để tránh việc mất mát và hiểu sai.

Quan điểm: tất cả đều đồng ý giữ nguyên những gì do Phật thuyết, nhưng tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt.

(Hết trích)
 

Để làm sáng tỏ về ý "tùy thời điểm mà áp dụng, không thêm, cũng không bớt" nơi đoạn trên, chúng ta có thể tham khảo sách "Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo" của Tỳ kheo Thiện Minh, trích như sau:
 

(Trích)

Sau cuộc kết tập, Đại Đức Ananda có bạch với Chư Thánh Tăng rằng lúc Như Lai sắp sửa viên tịch, Ngài có dạy: "Khi ta viên tịch các vị có thể bỏ bớt những giới học nào không quan trọng". Ngài Mahakassapa hỏi Đại Đức Ananda học giới nào là không quan trọng, ngài Ananda trả lời vì lúc Đạo sư Níp-bàn, Đại Đức quá bận rộn nên không hỏi điều đó. Ngài Mahakassapa với tư cách là chủ tọa liền tụng tuyên trước Chư Thánh Tăng như vầy: "Kính bạch Chư Tăng, vấn đề giới luật rất quan trọng, nó liên quan đến đời sống của sa môn, nhưng Thế Tôn trước khi viên tịch không nói rõ điều nào không quan trọng. Vì vậy cho nên kính xin Chư Thánh hiền Tăng từ nay về sau Chư vị đừng thêm mà cũng đừng bớt học giới nào mà Thế Tôn đã chế định, cứ vậy mà thực hành.”

(Hết trích)
 

Trong Tự điển Wikipedia phần tiếng Anh, trong mục từ "Buddhist councils" nơi mục từ "First Buddhist council" (Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất), chúng ta nơi đây dịch từ Anh sang Việt như sau về các thông tin không có nơi Wikipedia tiếng Việt:
 

(Trích, dịch)

Quan niệm truyền thống cho rằng toàn bộ Kinh tạng và Luật tạng như chúng ta biết ngày nay đều được tụng đọc trong hội nghị này có lẽ là một sự phóng đại.

Nhiều bản Luật tạng cũng mô tả những bất đồng khác nhau trong hội nghị đầu tiên. Nhiều vị sư bất đồng về việc giữ lại hay loại bỏ một số giới luật nhỏ (vì Đức Phật đã nói với Ananda rằng điều này có thể được thực hiện). Một số vị sư thậm chí còn tranh luận rằng tất cả các giới luật nhỏ nên bị bãi bỏ. Ngoài ra, nhiều nguồn tài liệu ban đầu cho biết Mahakasyapa đã chỉ trích Ananda theo nhiều cách khác nhau. Analayo trích dẫn một đoạn từ một bản song song tiếng Trung của kinh Mahāparinibbāna-sutta (T 1428 tại T XXII 966b18), trong đó Mahākassapa nói: "Ānanda giống như một người cư sĩ. Tôi sợ rằng, với lòng tham lam trong tâm trí, ông Ānanda sẽ không tụng đọc các bài kinh một cách đầy đủ." Analayo viết rằng có thể đã có "xung đột thực sự giữa hai phe đối lập trong cộng đồng tăng lữ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, với phe có khuynh hướng khổ hạnh hơn nổi lên là phe chiến thắng trong các ghi chép về hội nghị đầu tiên".

Theo một số ghi chép truyền thống, sau khi Đức Phật qua đời, 499 vị A-la-hán hàng đầu của Đức Phật đã được chọn để tham dự hội nghị. Ananda, lúc đó là một vị Sotapanna (Nhập Lưu), đã tự rèn luyện cho đến bình minh ngày diễn ra hội nghị, lúc đó ngài đạt được quả vị A-la-hán và được phép tham gia hội nghị.

Về Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka), phần chính thứ ba của Tam Tạng Kinh điển, các học giả hiện đại cho rằng nó có thể được biên soạn vào một thời điểm muộn hơn do nội dung và sự khác biệt về ngôn ngữ và phong cách. Theo truyền thống Theravada, Tạng Vi Diệu Pháp và Atthakathā (chú giải) cổ xưa cũng được đưa vào hội nghị Phật giáo đầu tiên trong phần Kinh tạng, nhưng ngữ pháp văn học của nó khác với Kinh tạng vì Tạng Vi Diệu Pháp được biên soạn bởi Sāriputta.

Các nhóm khác

Các bản Luật tạng khác nhau cũng kể lại một sự kiện kỳ ​​lạ khác trong thời gian này. Bộ Cullavagga đề cập đến một vị A-la-hán tên là Purāṇa, người tuyên bố rằng ông và các đệ tử của mình ghi nhớ giáo lý của Đức Phật theo cách mà họ đã nghe được, và do đó không dựa vào các bộ kinh điển được biên soạn tại hội nghị. Nhân vật này cũng xuất hiện trong Aśokāvadāna và Dulvā Vinaya của Tây Tạng, mô tả Purāṇa và một vị sư khác, Gavampati, những người không có mặt tại hội nghị và lo lắng về những gì sẽ xảy ra với Pháp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn. Câu chuyện này được mô tả trong các phiên bản tiếng Trung của Dharmagupta và Mahīsāsaka Vinaya và trong Vinayamātrika Sūtra. Gavampati được cho là cũng đã duy trì một bộ tám quy tắc về thức ăn, được lưu giữ trong Mahīsāsaka Vinaya.

Một sự kiện tương tự được mô tả bởi các nguồn tài liệu Trung Quốc như các tác phẩm của học giả Ấn Độ Paramartha, Jizang và nhà hành hương Huyền Trang. Theo các nguồn này, một bộ kinh điển thay thế có tên là Mahasamghikanikaya đã được biên soạn bởi một vị A-la-hán tên là Baspa và các đệ tử của ông. Huyền Trang báo cáo đã đến thăm một bảo tháp gần Rajgir, nơi đánh dấu địa điểm của hội nghị thay thế này.

Tính xác thực lịch sử

Một số học giả hiện đại nghi ngờ liệu toàn bộ kinh điển có thực sự được tụng đọc trong Đại hội lần thứ nhất hay không, bởi vì các văn bản ban đầu chứa đựng những mô tả khác nhau về các chủ đề quan trọng như thiền định. Tuy nhiên, có thể các phiên bản ban đầu của những gì hiện được gọi là Vinaya-piṭaka và Sutta-piṭaka đã được tụng đọc. Tuy nhiên, nhiều học giả, từ cuối thế kỷ 19 trở đi, đã coi tính xác thực lịch sử của Đại hội lần thứ nhất là không chắc chắn. Một số học giả, chẳng hạn như các nhà Đông phương học Louis de La Vallée-Poussin và D.P. Minayeff, cho rằng chắc chắn phải có các cuộc họp sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, nhưng chỉ coi các nhân vật chính và một số sự kiện trước hoặc sau Đại hội lần thứ nhất là có tính lịch sử. Một số học giả khác, chẳng hạn như nhà Phật học André Bareau và nhà Ấn Độ học Hermann Oldenberg, cho rằng rất có thể bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất được viết sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai, và dựa trên bản ghi chép của đại hội thứ hai, vì không có vấn đề lớn nào cần giải quyết sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, hoặc bất kỳ nhu cầu nào khác để tổ chức Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.

Mặt khác, nhà khảo cổ học Louis Finot, nhà Ấn Độ học E. E. Obermiller và ở một mức độ nào đó là nhà Ấn Độ học Nalinaksha Dutt cho rằng bản ghi chép về Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất là xác thực, vì sự tương ứng giữa các văn bản tiếng Pali và các truyền thống tiếng Phạn. Trong khi đó, nhà Ấn Độ học Richard Gombrich cho rằng "phần lớn Kinh điển Pali" có niên đại từ thời Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất.”

(Hết trích, dịch)
 

Cần ghi chú nơi đây rằng: tên của ngài Purāṇa tới trễ trong đại hội kết tập lần thứ nhất trong tiếng Việt thường phiên âm là Trưởng lão Phú-lan-na hay Phú-lâu-na, còn gọi là Tôn giả Mãn Từ. Nên ghi để khỏi nhầm: Tôn giả Mãn Từ không phải Phú-lan-na Ca-diếp (Pūraṇa Kassapa) một trong lục sư ngoại đạo.

Có thông tin bổ túc thêm cho kỳ kết tập lần thứ nhất là từ sách "Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ" của tác giả Thánh Nghiêm, bản dịch tiếng Việt của thầy Thích Tâm Trí, trích như sau:
 

(Trích)

Nhờ thẩm tra nhiều nguồn tư liệu cho thấy Đại hội kết tập tại thành Vương Xá chỉ gồm những vị cùng một phái với ngài Ca Diếp, và đó là cuộc kết tập của một thiểu số người, của những vị Thượng tọa Tỳ kheo đại biểu cho phái khổ hạnh. Duy có điều, thành quả của lần Đại hội này là rất to lớn. Nó đánh bại tất cả mọi dị nghị của số đông người, do đó cho nên vị trí của nó là cực kỳ quan trọng. Nói chính xác, thì đây là cuộc Đại hội được tổ chức vừa thuận lợi, vừa hoàn thành một cách chóng vách. Nếu không, có thể sẽ diễn ra một cuộc tranh luận không khoan nhượng giữa các đại gia; chừng đó vấn đề càng thêm phức tạp. Có điều, trong kỳ Đại hội này phái của Trưởng lão Phú Lâu Na không thấy tham dự, và đó cũng là vấn đề còn đọng lại của Phật Giáo.

- Trưởng lão Phú Lâu Na

Lúc Đại hội kết tập tại thành Vương Xá kết thúc, theo “Thiện Kiến Luật” của Nam truyền, và “Tứ Phần Luật” của Bắc truyền, tất cả các bộ luật này đều nói có một vị trưởng lão tên là Phú Lâu Na dẫn năm trăm Tỳ kheo từ phương nam đi đến thành Vương Xá, hay còn nói là từ Nam Sơn (Dakkhi Na Giri) đến để cùng ngài Ca Diếp luận đàm thêm về Pháp (kinh) và Luật (giới). Theo “Luật Tiểu Phẩm Ngũ Bách Kiền Độ Đệ Thập Nhất” của Nam truyền, thì nói là ngài Phú Lâu Na phiền trách mà rằng: “quí ngài kết tập pháp, luật, điều đó là cực quí. Nhưng tôi là người từng thân cận, và theo Phật nghe pháp; vậy, quí ngài cũng nên nghe tôi khẩu thuật”. Riêng “Ngũ Phần Luật” quyển 30 thuật rằng ngài Phú Lâu Na nói với ngài Đại Ca Diếp: “đích thân tôi theo Phật nghe pháp, nghe luật, những việc như “nội túc thực”, chính tự tôi dâng thức ăn lên Phật, tự tội nhận thu dọn sau khi Phật thọ thực xong, tôi dâng nước uống lên Phật, không người nào không sạch, không món nào không sạch, tôi mới dâng lên Phật”.

(Hết trích)
 

Trong khi đó, ngài Gavampati vắng mặt trong đại hội kết tập lần thứ nhất là người trong tiếng Việt được phiên âm là Kiều-phạm-ba-đề, còn gọi là Trưởng lão Ngưu Thâu (hoặc Ngưu Vương). Khác với ngài Purāṇa (người đến dự sau và xin giữ lại một số chi tiết về giới luật), ngài Gavampati không tham gia cuộc kết tập, mặc dù ngài là một trong những vị thượng thủ còn sống vào thời điểm đó. Khi các trưởng lão được đại hội cử lên cõi trời mời ngài Gavampati từ cõi trời Đao Lợi về dự kết tập, ngài đã hỏi một câu rất xúc động: “Thế tôn đã nhập Niết-bàn rồi sao? Pháp chủ đã đi rồi sao?” Sau khi biết Đức Phật và những người bạn đồng tu thân thiết (như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên) đều đã viên tịch, ngài cảm thấy thế gian này không còn gì lưu luyến. Thay vì về thảo luận xem kinh điển nên đọc thế nào, giới luật nên giữ ra sao, ngài Kiều-phạm-ba-đề chọn cách nhập diệt ngay lập tức. Ngài cho rằng khi "Mặt trời đã lặn", ngài cũng nên đi theo dấu chân của bậc Đạo sư.

Tự điển Phật học Online, mục từ "Kiều Phạm Ba Đề" ghi nhận về ngài như sau:
 

(Trích)

Kiều Phạm Ba Đề

(s: Gavāṃpati, p: Gavaṃpati, 憍梵波提): còn gọi là Kiều Phạm Bạt Đề (憍梵跋提), Cấp Phòng Bát Để (笈房鉢底), Già Bà Bạt Đế (伽婆跋帝), Già Phạm Ba Đề (伽梵波提), Kiều Hằng Bát (憍恆鉢), Phòng Bát Để (房鉢底); ý dịch là Ngưu Tích (牛跡), Ngưu Ha (牛呵), Ngưu Ty (牛司), Ngưu Chủ (牛主), Ngưu Vương (牛王), Ngưu Tướng (牛相), từng được Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) chỉ đạo. Tương truyền vào thời quá khứ ông từng ngắt một cọng lúa, làm rơi hạt lúa xuống đất, nên bị đọa làm thân con bò trong 500 kiếp, vì vậy khi làm thân người, ông vẫn còn tánh khí của con trâu, ăn xong thường ợ hơi ra, nhai lại. Hơn nữa, do ông tạo ác nghiệp khinh thường Sa Môn nên hiện đời phải thọ quả báo miệng thường há và ngáp như loài bò (牛呵), hay móng chân ông giống như chân bò. Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, ông là một chú Sa Di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa Di kia ! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La Hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi !” Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên (尸利沙園) của cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt. Ông được xem như là người Giải Luật Đệ Nhất.”

(Hết trích)
 

Trong khi đó, học giả Thiền sư Teitaro Suzuki trong tác phẩm Anh văn "The First Buddhist Council" kể chi tiết về Đại hội Kết tập lần thứ nhất. Nơi đây, chúng ta không đi sâu, chỉ dịch lại lời phân tích của Albert J. Edmunds trong phần "Prefatory Note" (Ghi Chú Đầu Sách). Chúng ta trích dịch ra tiếng Việt như sau:
 

(Trích, dịch)

Các tài liệu mà Suzuki trình bày ở đây rõ ràng cho thấy sự tồn tại của các bản kinh điển đối lập, đồng nhất về những nguyên tắc cơ bản, nhưng khác nhau về cách sắp xếp và phạm vi. Chúng ta có thể suy ra từ Biên niên sử Đảo (Island Chronicle) rằng một vấn đề gây tranh cãi phổ biến là câu hỏi: Cái nào là văn bản gốc và cái nào là chú giải? Do đó, chúng ta thấy rằng sự khác biệt rõ rệt tồn tại trong những phần của Kinh điển chứa đựng phần chú giải: Bộ sưu tập ngắn (Khuddaka Nikāya: Tiểu Bộ Kinh) và Giáo lý cao cấp (Abhidhamma: A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp).

Tất nhiên, các Kinh điển được đưa ra ở đây như đã được xác định vào thời điểm Đức Phật qua đời được mỗi trường phái lấy từ bản kinh điển riêng của họ như nó tồn tại khi tài liệu được viết; nhưng điều này không làm thay đổi sự thật rằng ít nhất hai bản kinh điển như vậy đã tồn tại ngay từ đầu, đó là bản kinh điển của giới quý tộc và bản kinh điển của giới bình dân. Bản thứ nhất là Trường phái Trưởng lão (Theravada) và bản thứ hai là Đại chúng bộ. Đúng là trường phái sau (Mahāsamghika) đã không chính thức tách ra cho đến hội đồng kết tập kinh điển lần thứ hai, vào cuối thế kỷ Phật giáo đầu tiên; nhưng từ lâu tôi đã nhận thấy rằng mầm mống của nó có thể được tìm thấy trong lời nói của Purâṇa.

Các tài liệu của Suzuki rất có giá trị, nếu không nói là gì khác, thì ít nhất cũng là danh sách nội dung của các Kinh điển giáo phái khác nhau. Chính những tài liệu cơ bản như thế này đang rất cần được dịch từ tiếng Phạn, tiếng Trung và tiếng Tây Tạng. Chúng ta cần so sánh những tuyên bố của trường phái bảo thủ, được truyền lại cho chúng ta thông qua tiếng Pāli, với những tuyên bố của các giáo phái khác có các bản kinh điển khác và đối lập.”

(Hết trích, dịch)
 

Tất cả các thông tin dẫn trên đều có liên kết trong phần Tham Khảo cuối bài này. Các thông tin trên có thể giúp cho những vị muốn nghiên cứu xa hơn về việc kết tập thánh điển. Riêng tác phẩm "The First Buddhist Council" của ngài Teitaro Suzuki hình như chưa được dịch sang tiếng Việt. Nếu sau này có bản tiếng Việt, đề nghị quý thầy dịch giả nên đưa lên mạng Internet để Phật tử tham khảo, vì bản tiếng Anh hiện nay là miễn tác quyền (public domain) nên không cần trả tiền mua bản quyền để dịch.
 

THAM KHẢO:

-- Thích Nữ Triệt Như. Hai dòng truyền thừa:

https://thuvienhoasen.org/a43460/bai-30-hai-dong-truyen-thua-thich-nu-triet-nhu-song-ngu-

-- Wikipedia. Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất:

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%99i_k%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADp_kinh_%C4%91i%E1%BB%83n_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_l%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_nh%E1%BA%A5t

-- Tỳ Kheo Thiện Minh. Lịch sử Kết tập Kinh điển và Truyền giáo:

https://www.budsas.org/uni/u-ngan/lichsuket.htm

-- Buddhist councils. First Buddhist council:

https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhist_councils#First_Buddhist_council

-- Thánh Nghiêm - Thích Tâm Trí dịch. Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ:

https://www.thuvienhoasen.org/a11332/chuong-iii-nguyen-thi-phat-giao-va-tam-tang-thanh-dien

-- Tự điển Phật học. Kiều Phạm Ba Đề:

https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/kieu-pham-ba-de-k4309.html

-- Teitaro Suzuki. The First Buddhist Council:

https://sacred-texts.com/journals/mon/1stbudcn.htm

.

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
Hôm Thứ Bảy, nhiều người ra biển chơi, bất kể lệnh cách ly. Carrie Braun, phát ngôn nhân Ty Cảnh Sát Quận Cam, nói chỉ đóng cửa các sân đậu xe bên bãi biển, nhưng không đóng cửa các bãi biển.
Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4 năm 2020, nhiều tin đồn xoay quanh việc nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đã chết hay gần chết sau cuộc giải phẫu tim, với nhiều bản tin trích thuật từ Nhật và Trung Quốc. Phó giám đốc Đài Truyền Hình Vệ Tinh Hồng Kông HKSTV, hệ thống tại Hồng Kông có trụ sở tại Bắc Kinh, cho rằng Kim đã chết, trích “nguồn tin rất chắc chắn,” và đăng tải thông tin trên ứng dụng nhắn tin Trung Quốc Weibo khiến các phương tiện truyền thông xã hội xôn xao, theo báo International Business Times tường trình cho biết.
Tính tới Thứ Bảy, 25 tháng 4, số tử vong trên toàn cầu từ đại dịch vi khuẩn corona đã vượt hơn 200,000 trong khi nhiều quốc gia và một số tiểu bang tại Mỹ đang nới lỏng các hạn chế phong tỏa. New York là trung tâm đại dịch tại Hoa Kỳ, đã báo báo số người vào bệnh viện và thiệt mạng tiếp tục giảm, trong khi nhiều bác sĩ và chuyên gia trên thế giới cân nhắc việc thử nghiệm, điều trị và thuốc chủng ngừa. Theo CNBC hôm Thứ Bảy, cho biết, trên toàn cầu hiện có hơn 2.8 triệu trường hợp bị lây vi khuẩn corona, với 201,502 người thiệt mạng.
Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4 cho biết rằng hiện “không có bằng chứng” những người đã bình phục từ COVID-19 và có kháng thể được bảo vệ khỏi bị truyền nhiễm lần thứ hai. Trong báo cáo khoa học, cơ quan Liên Hiệp Quốc này cảnh báo các chính phủ chống lại việc sử dụng “thông hành miễn nhiễm” hay “giấy chứng nhận không còn nguy hiểm” đối với những người đã bị lây nhiễm khi sự chính xác của họ có thể không được bảo đảm.
Tính đến ngày 25 tháng 4, 2020, nhiều cơ quan truyền thông đã đồng ý trực tiếp phổ biến chương trình lễ Tưởng Niệm 30 tháng 4 để đồng hương khắp nơi trên thế giới cùng một lúc vào ngày thứ năm, 30 tháng 4, lúc 4 giờ chiều tại California, 6 giờ chiều tại Texas , 7 giờ tối tại New York, 1 giờ sáng thứ sáu tại Âu Châu, 6 giờ sáng tại Việt Nam và Á Châu và 9 giờ sáng tại Melbourne Úc Châu.
Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg, tác giả của Nghị Quyết Vinh Danh SCR -7, thay mặt Thượng viện Quốc hội tiểu bang California để tuyên bố ngày 30 tháng 4 là "Ngày Tưởng Niệm Tháng Tư Đen". Nghị Quyết SCR-7 đã được thông qua phần tu chính vào ngày 9 tháng 4 năm 2020 và sẽ được chính thức ban hành khi Quốc hội mở lại phiên họp thường kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.