Hôm nay,  

GH Công Giáo VN gặp nghịch lý về ơn gọi: địa phương dư thừa các nhà quản lý tôn giáo, lại thiếu các nhà truyền giáo. Chỉ thị: 2026 là năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ truyền giáo”

04/02/202614:05:00(Xem: 516)
blank

GH Công Giáo VN gặp nghịch lý về ơn gọi: địa phương dư thừa các nhà quản lý tôn giáo, lại thiếu các nhà truyền giáo. Chỉ thị: 2026 là năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ truyền giáo”
 

Bài phân tích sau đây của Petrus Do, từ thông tấn ucanews.com, đăng trên báo Herald Malaysia Online ngày 03 tháng 02 năm 2026.
Trong khi Giáo hội Công giáo toàn cầu đang vật lộn với sự suy giảm nhiều về ơn gọi, Giáo hội tại Việt Nam lại đối mặt với một thách thức khác biệt: làm thế nào để biến số lượng thặng dư đông đảo linh mục thành những nhà truyền giáo thực thụ chứ không chỉ là những linh mục quản xứ đơn thuần.
Tháng 1/2026, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chào đón 76 phó tế chuyển tiếp (transitional deacons) mới, những người dự kiến ​​sẽ được thụ phong linh mục trong vòng một năm. Họ đến từ chỉ năm giáo phận và một dòng tu trong số 27 giáo phận và 83 dòng tu nam giới trên cả nước. Việt Nam thường được mô tả là “vườn ươm ơn gọi” của Giáo hội châu Á, với 11 chủng viện lớn và các dòng tu đào tạo hàng trăm linh mục mỗi năm. Nhìn chung, khoảng 6.000 linh mục và 31.000 tu sĩ nam nữ phục vụ khoảng bảy triệu tín hữu Công giáo của đất nước nghe có vẻ không chỉ ấn tượng mà còn là niềm tự hào. Nhưng đằng sau những con số đáng kinh ngạc này là một nghịch lý đáng lo ngại: thừa thãi những người “cung cấp dịch vụ” bí tích nhưng lại thiếu trầm trọng tinh thần truyền giáo cần thiết để đến với những “vùng ngoại biên”.

Thừa thãi các nhà quản lý tôn giáo
Tại các trung tâm đô thị của Việt Nam, việc tìm thấy hai hoặc ba linh mục phục vụ một giáo xứ là điều phổ biến. Trong những “vùng an toàn” này, cuộc sống linh mục thường tập trung vào quản lý hành chính, các dịch vụ mục vụ, tổ chức các lễ hội huy hoàng và giám sát việc xây dựng các cơ sở nhà thờ. Ngược lại, ở vùng Tây Nguyên và vùng Tây Bắc, nơi các cộng đồng dân tộc thiểu số phải chờ đợi hàng tháng trời mới có một Thánh lễ. Các linh mục địa phương phải đi hàng trăm km qua những địa hình hiểm trở để đến những nhà nguyện lợp mái tranh đơn sơ. Sự phân bố không đồng đều này phản ánh một cuộc khủng hoảng bản sắc sâu sắc hơn. Một linh mục cao niên nhận xét rằng nhiều linh mục trẻ xuất thân từ những gia đình nhỏ, hiện đại, nơi họ được nuôi dưỡng trong sự thoải mái và được che chở khỏi khó khăn, lại gặp khó khăn khi phải sống trong môi trường khắc nghiệt. Đối với họ, việc được bổ nhiệm đến một trạm truyền giáo xa xôi thường không được coi là một ân sủng, mà là một hình thức “lưu đày” hoặc trừng phạt. Sự tôn kính truyền thống của người Việt Nam đối với linh mục như một “thầy cả” càng làm phức tạp thêm vấn đề. Nền văn hóa này khuyến khích sự tập trung vào quyền lực và uy tín hơn là sự phục vụ khiêm nhường. Kết quả là một tâm lý “ở nhà” — sự ưu tiên cho sự an toàn của khuôn viên giáo xứ hơn là sự bất định của cánh đồng truyền giáo.

Một cuộc khủng hoảng về bản sắc truyền giáo


Bản sắc cốt lõi của một linh mục không chỉ đơn thuần là người ban phát các bí tích, mà còn là một “nhà truyền giáo”. Chúa Kitô không truyền lệnh cho các môn đệ ở lại trong đền thờ và quản lý tài chính; Ngài bảo họ “hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16:15). Tại Việt Nam ngày nay, sự thiếu vắng hiện diện rõ rệt giữa những người không theo đạo là một thực tế đáng buồn. Trong khi giới giáo sĩ tổ chức nhiều hoạt động cho những người “đã được cải đạo”, thì lại có rất ít sự tiếp xúc thực sự với xã hội rộng lớn hơn. “Chủ nghĩa Công giáo hướng nội” (“inward-looking Catholicism”) này không đủ khả năng để đối phó với những thách thức mới của xã hội Việt Nam: văn hóa giới trẻ bị cuốn vào chủ nghĩa cuồng nhiệt làm việc, sự suy giảm đức tin và các tệ nạn xã hội như ly hôn và nghiện ngập. Cuộc khủng hoảng cũng mang tính cấu trúc. Nhiều linh mục cảm thấy thôi thúc muốn đến với những người ở vùng ngoại biên nhưng lại bị ràng buộc bởi những hạn chế của giáo phận, thiếu cơ chế “sai đi” rõ ràng và thiếu hỗ trợ tài chính. Hệ thống hiện tại không đủ linh hoạt để cho phép Giáo hội thực sự “ra khơi”.

Việc đào tạo cần được cải cách khẩn cấp
Để ngăn chặn những con số ấn tượng này trở thành “những con số vô hồn”, Giáo hội địa phương cần một cuộc cải cách sâu sắc hệ thống đào tạo linh mục kéo dài mười năm hiện nay, vốn quá chú trọng vào triết học và thần học hàn lâm nhưng thường không tích hợp được “tinh thần truyền giáo”. Một chủng sinh có thể xuất sắc trong học tập, nhưng nếu chưa từng sống giữa những người nghèo hoặc học cách lắng nghe những khó khăn của những người ở vùng ngoại vi, họ sẽ thiếu “mùi của chiên” (smell of the sheep) mà Đức Giáo hoàng Francis đã kêu gọi. Có quá ít sự nhấn mạnh vào linh đạo truyền giáo, hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn. Các kỳ thực tập mục vụ thường chỉ giới hạn ở các giáo xứ ổn định, quen thuộc, nơi các chủng sinh gặp gỡ một cộng đồng thoải mái, thay vì được gửi đến các khu ổ chuột hoặc vùng sâu vùng xa, nơi đức tin được thử thách bởi nghèo đói và chủ nghĩa vô thần. Trong thời đại kỹ thuật số, “vùng ngoại vi” cũng bao gồm cả không gian ảo. Các chủng sinh cần được dạy cách sử dụng mạng xã hội như một công cụ truyền bá Tin Mừng. Họ phải học cách sống như “những nhà truyền giáo hy vọng”, học ngôn ngữ của các bộ lạc và tham gia vào các hoạt động xã hội để hiểu được nỗi đau của những người mà họ phục vụ.

Lời kêu gọi chuyển đổi mục vụ
Các giám mục Việt Nam đã chọn năm 2026 là năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ truyền giáo”. Đây là cơ hội vàng để hàng giáo sĩ đón nhận “sự chuyển đổi truyền giáo”.
Trọng tâm phải chuyển sang việc biến tinh thần truyền giáo trở thành trục trung tâm của đời sống linh mục: “Một linh mục là người được sai đi, chứ không phải là người được giữ lại”.
Mỗi giáo phận nên có kế hoạch “tặng”, chứ không chỉ “cho mượn”, các linh mục cho các khu vực khác cần thiết trong nước hoặc nước ngoài, bao gồm Mông Cổ, Lào và Campuchia.
Các linh mục thành thị phải có tinh thần truyền giáo, tiếp cận những người chưa biết Chúa và hiện diện trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa và truyền thông.
Nếu Giáo hội chỉ dựa vào các linh mục, Giáo hội sẽ luôn thiếu các nhà truyền giáo. Các linh mục phải trở thành “người huấn luyện” để trao quyền cho giáo dân làm chứng trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Một Giáo hội sống động không được đo bằng chiều cao của tháp chuông hay số lượng các cuộc phong chức, mà bằng khoảng cách mà các thừa tác viên sẵn sàng đi để đến với những người đang sống trong bóng tối.
Những người gặt hái thực sự không phải là những người ở lại an toàn trong kho thóc, mà là những người dũng cảm vượt qua bão tố để làm việc trên đồng ruộng. Khi "nguồn nhân lực" của Giáo hội châu Á có thể sản sinh ra những nhà truyền giáo thực thụ, chứ không chỉ là những người quản lý tôn giáo, thì Giáo hội đó mới có thể trở thành một Giáo hội truyền giáo thực sự.--ucanews.com




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tối nay 22 Tháng Tư, chính quyền Trump đã ban hành một Sắc lệnh mở rộng những hạn chế về nhập cư trong một nỗ lực rộng lớn để tiếp tục chương trình bài ngoại nhằm đánh lạc hướng người Mỹ về thất bại của chính họ qua các giải pháp thích ứng với đại dịch coronavirus. Sắc lệnh này được xây dựng trên một số chính sách chống người nhập cư do chính quyền đưa ra trong vài năm qua đóng cửa gần như tất cả các con đường hợp pháp để nhập cư.
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.