Hôm nay,  

Truyền Thống Cúng Tổ Tiên

17/02/202608:22:00(Xem: 972)
blank

Truyền Thống Cúng Tổ Tiên
 
Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Nhiều thập niên trước, nơi sân trước các ngôi nhà tại Sài Gòn thường có bàn thiên, một trụ đứng giữa sân để làm bàn thờ cúng chư thiên. Sau này, dân cư đông thêm, đất hẹp hơn, các sân nhà trở thành những ngôi nhà mới, các bàn thiên dần dần biến mất. Có lẽ, bàn thiên bây giờ chỉ còn ở các tỉnh Miền Tây, nơi các sân trước nhà còn rộng và người dân còn truyền thống cúng chư thiên. Bên cạnh truyền thống cúng chư thiên, hầu hết người dân Việt Nam còn giữ phong tục cúng tổ tiên, cúng ông bà... Thời gian gần đây, một số Phật tử nói rằng truyền thống cúng chư thiên và cúng tổ tiên là không đúng Chánh pháp. Có đúng như vậy hay không? Đức Phật đã dạy thế nào về các lễ cúng này?
Trước tiên, nên thấy thờ cúng tổ tiên là phong tục lâu đời của dân tộc Việt. Khi vào Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia, tìm mục từ “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” chúng ta sẽ thấy rằng nên xem đây là một truyền thống biết ơn, không mang ý nghĩa tôn giáo nhưng mang một sợi dây nối kết của dân tộc, trích giải thích như sau:
 
“Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (hay còn được gọi là đạo ông bà) là tục lệ thờ cúng tổ tiên và người có ích với cộng đồng đã qua đời của nhiều dân tộc châu Á, đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa, văn hóa Triều Tiên, văn hóa Nhật Bản và văn hóa Đông Nam Á. Đối với người Việt, phong tục thờ cúng tổ tiên trở thành một thứ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nhiều người Việt Nam, ngoài tôn giáo của mình thường thờ cúng cả tổ tiên. Đại đa số các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà. Ít nhất là có treo di ảnh một cách trang trọng, nhưng không phải là một tôn giáo mà là do lòng thành kính của người Việt đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ. Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục Việt Nam.”
 
Trong khi đó, sách Bách Khoa Toàn Thư VN của nhà nước ghi nhận, trích: “Toan Ánh trong Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam cho rằng qua việc thờ cúng tổ tiên, tại Việt Nam, người khuất và người còn sống luôn luôn như có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ thần linh. Người Việt quan niệm vong hồn gia tiên luôn ở gần mình, thông qua các hoạt động cầu cúng, lễ bái người sống và người chết có thể liên lạc với nhau...”
 
Tới đây là phải suy nghĩ. Trong khi nhiều người trong chúng ta xem việc thờ cúng tổ tiên như một hành động bày tỏ lòng biết ơn, nhiều người lại tin rằng “vong hồn gia tiên luôn ở gần mình, thông qua các hoạt động cầu cúng, lễ bái người sống và người chết có thể liên lạc với nhau...” Như thế, lại mang một hình thức tâm linh, không còn ý nghĩa tượng trưng. Do vậy, chúng ta phải mở Kinh ra xem Đức Phật đã dạy như thế nào.
 
Kinh Phật dạy rằng Phật tử hãy cúng chư Thiên, hãy cúng vong linh quá khứ, vì như thế sẽ được phước lành. Kinh AN 4.61 dạy rằng hãy hiến cúng cho bà con (hiểu là, bố thí, cúng dường), cúng cho khách, cúng cho vong linh quá khứ (tức là, cúng cho người đã khuất, cúng tổ tiên), cúng cho vua (tức là, nộp thuế), và cúng chư Thiên. Bản dịch Kinh AN 4.61 của Thầy Minh Châu viết, cũng dạy hãy cúng dường Tăng, Ni, và Bà La Môn (người giới hạnh), trích như sau:
 
“Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy, vị ấy tổ chức năm loại lễ hiến cúng; hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ ba vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Lại nữa, này Gia chủ, Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp, đối với những vị Sa-môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, an trú trên nhẫn nhục, nhu hòa, an tịnh tự mình, nhiếp phục tự mình, làm lắng dịu tự mình; đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy, vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, thuộc về cõi Trời, đem đến quả lạc dị thục, đưa đến Thiên giới. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ tư vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.” (1)
 
Tương tự, Kinh 5.41 cũng ghi rằng hãy cúng tương tự, như bản dịch của Thầy Minh Châu có mở ngoặc nơi vong linh quá khứ đã ghi thêm là (peta), tức là quỷ đói, chỗ này sẽ được giải thích trong các kinh khác. Kinh 5.41 viết, trích: “Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.” (2)
 
Tuy nhiên, Đức Phật dặn kỹ rằng trong các lễ cúng, phải cấm ngặt sát sanh. Kinh AN 4.40 ghi lời Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:
“Tại tế đàn nào, này Bà-la-môn, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gia cầm, heo bị giết, không có các sinh vật khác bị giết, này Bà-la-môn, Ta tán thán tế đàn không có sát sanh như vậy, tức là bố thí thường làm từ lâu, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình... [...]...
Tế đàn không sát sanh,
Làm đúng thời thích hợp,
Tế đàn vậy, các bậc,
Phạm hạnh khéo chế ngự,
Đã vén rộng bức màn,
Khi còn ở trên đời,
Các bậc vượt thời gian,
Đi đến tế đàn ấy.
Bậc Giác ngộ thiện xảo,
Tán thán tế đàn ấy,
Hoặc tại lễ tế đàn,
Hoặc tín thí vong linh,
Tế vật cúng xứng đáng,
Tế lễ tâm hoan hỷ,
Hướng đến ruộng phước lành,
Đối các vị Phạm hạnh,
Khéo cúng, khéo tế lễ,
Khéo dâng bậc đáng cúng,
Tế đàn vậy rộng lớn,
Chư Thiên đều tán thán,
Bậc Trí sau khi lễ,
Tín thành tâm giải thoát.” (3)
 
Như thế, Đức Phật cho phép làm các lễ cúng để cầu an cho gia đình.
Nhưng, nơi một Kinh khác, Đức Phật nói rằng cầu an tuyệt vời nhất là, bản thân từng người chúng ta phải trở thành chân nhân, tức là phải tu tới mức lìa tham sân si (hay gần lìa tham sân si). Tại sao phải tu? Bởi vì, nếu bản thân mình tu, thì gia đình, người thân và tổ tiên đều được lợi ích. Trong Kinh AN 8.38, Đức Phật dạy rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 
“Này các Tỷ-kheo, bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn.” (4)


 
Về lễ cúng cho người chết, Đức Phật nói rằng cần tương ưng xứ. Trong Kinh AN 10.177, Đức Phật nói, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:
“—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ? ...[...]...
... --- Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.”(5)
 
Trong khi đó, Kinh Milinda Vấn Đạo (tên khác: Kinh Na Tiên Tỳ Kheo), bản dịch của Bhikkhu Indacanda giải thích:
“Thưa ngài Nāgasena, các thí chủ này sau khi bố thí vật thí, hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Việc này hãy thành tựu cho những người ấy.’ Phải chăng những người ấy do nhân ấy nhận được quả thành tựu nào đó?”
“Tâu đại vương, một số nhận được, một số không nhận được.”
“Thưa ngài, những ai nhận được, những ai không nhận được?”
“Tâu đại vương, những người đã sanh vào địa ngục không nhận được, những người đã đi đến cõi trời không nhận được, những người đã đi đến bản thể loài thú không nhận được, trong số bốn hạng người đã quá vãng, ba hạng người đã quá vãng không nhận được—là hạng chỉ ăn đồ được mửa ra, hạng bị hành hạ bởi sự đói khát, hạng luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát. Hạng người đã quá vãng nhận được là hạng sống nhờ vào sự bố thí của người khác, thậm chí những người ấy ngay trong khi nhớ đến cũng nhận được.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì sự bố thí của các thí chủ đã được làm để hồi hướng đến những người nào, nếu những người ấy không nhận được, thì bị uổng phí, thì không có kết quả?”
“Tâu đại vương, việc bố thí ấy không hẳn là không có kết quả, là không có quả thành tựu. Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.” (6)
 
Bây giờ tới câu hỏi cho chúng ta: Trong cương vị của người làm lễ cúng, người bố thí, người cúng dường, chúng ta nên khởi tâm thế nào?
Các Kinh nói rằng người bố thí (cúng dường, cúng lễ), nên giữ tâm ở ba vòng không tịch: thấy không hề có ai bố thí, thấy không hề có người nhận bố thí, thấy không hề có vật đang được trao ra bố thí. Người nào giữ tâm như thế, sẽ chứng quả thánh trong kiếp này.
 
Kinh AN 7.52 ghi lời Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Này Sàriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này”, bố thí không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.” (7)
 
Bây giờ tới câu hỏi: chúng ta nên cung kính cúng dường những ai?
Kinh AN 7.95 ghi lời Đức Phật dạy rằng hãy cung kính cúng dường những vị sau đây, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Ở đời, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính … là phước điền vô thượng ở đời.” (8)
 
Nói tóm lại, Đức Phật cho phép và đã giải thích về lợi ích của các nghi lễ cúng chư thiên, lễ cúng tổ tiên và cúng hương linh người đã khuất. Đức Phật dạy rằng tất cả các lễ cúng không được phép sát sanh. Trong các lễ bố thí và cúng dường, tối thắng phước điền là hãy cung kính cúng dường cho những vị đã xa lìa lậu hoặc và đã chứng nhập tuệ giải thoát. Trong khi thực hiện các nghi lễ cúng, cũng như khi bố thí và cúng dường, chúng ta phải luôn luôn giữ tâm không tịch, thấy các pháp vô ngã trong mọi hành động bất vụ lợi. Và trong tận cùng, bản thân chúng ta phải tu để trở thành những vị chân nhân, thì mọi người chung quanh chúng ta đều được hưởng phước lành.

GHI CHÚ:
(1) Kinh AN 4.61: https://suttacentral.net/an4.61/vi/minh_chau
(2) Kinh AN 5.41: https://suttacentral.net/an5.41/vi/minh_chau
(3) Kinh AN 4.40: https://suttacentral.net/an4.40/vi/minh_chau
(4) Kinh AN 8.38: https://suttacentral.net/an8.38/vi/minh_chau
(5) Kinh AN 10.177: https://suttacentral.net/an10.177/vi/minh_chau
(6) Kinh Milinda Vấn Đạo: https://suttacentral.net/mil6.3.4/vi/indacanda
(7) Kinh AN 7.52: https://suttacentral.net/an7.52/vi/minh_chau
(8) Kinh AN 7.95: https://suttacentral.net/an7.95/vi/minh_chau



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi về già, tôi học Phật cách khác. Mỗi kinh sách, bài giảng dài dòng, thêm bớt… tôi chỉ học một câu, một chữ, một bài kệ và tự nghiền ngẫm, đặt câu hỏi, giải đáp và thực hành trong đời sống hàng ngày. Con đường học Phật phải là con đường an lạc, con đường “diệt khổ”, chớ nếu học Phạt mà “khổ thêm” thì chắc học sai!
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper, người từng phục vụ trong chính quyền Trump, cho biết hôm thứ Hai rằng công chúng nên coi cựu Tổng thống Trump là "nghiêm túc" khi Trump đề xuất sử dụng quân đội chống lại công dân Hoa Kỳ. "Tất nhiên là tôi lo ngại", Esper trả lời Kaitlan Collins của CNN t
Nếu ứng cử viên Donald Trump thắng cử, Project 2025 sẽ được thi hành. Project 2025 là một chương trình nghị sự mang tính ý thức hệ, được thiết kế để thúc đẩy Hoa Kỳ hướng tới chế độ chuyên quyền.
Europa Clipper được phóng từ Kennedy Space Center bằng hỏa tiễn Falcon Heavy của SpaceX. Đây là phi thuyền thăm dò tự động sử dụng năng lượng Mặt trời, dự kiến sẽ đến quỹ đạo Mộc tinh vào năm 2030 sau hành trình dài khoảng 1.8 tỷ dặm (2.9 tỷ km) trong 5 năm rưỡi. Trước đó, vụ phóng đã bị hoãn lại một tuần do ảnh hưởng của bão Milton. Europa Clipper là phi thuyền lớn nhất mà NASA từng chế tạo cho sứ mệnh khám phá các hành tinh. Khi các ăng-ten và tấm pin năng lượng mặt trời được mở ra hết cỡ, tàu có chiều dài khoảng 100 feet (30.5 mét) và rộng 58 feet (17.6 mét), lớn hơn cả một sân bóng rổ, và nặng khoảng 13,000 pound (khoảng 6 tấn).
VFF đang cùng cộng đồng hướng đến một sự kiện trọng đại: kỷ niệm 50 năm tị nạn kể từ biến cố 30-04-1975. Không phải tình cờ khi nhiều phim đoạt giải năm nay có chủ đề liên quan đến sự hòa giải giữa các thế hệ sau nửa thế kỷ ly hương.
Thứ Ba (15/10), chính phủ Úc đã khuyến cáo người dân không nên đến Israel, và ai đang ở Israel thì hãy nhanh chóng rời khỏi đất nước này khi các hãng hàng không vẫn còn hoạt động, vì xung đột giữa Israel và lực lượng vũ trang Hezbollah tại Lebanon ngày càng căng thẳng, theo Reuters.
Hôm Thứ Sáu ngày 11 tháng 10/2024 là một ngày hội ngộ, hàn huyên của Viện Việt Học, nơi các học giả, nhà văn hẹn tới cùng chia sẻ một số niềm vui: sức khỏe Giáo sư Nguyễn Văn Sâm hồi phục sau phẫut huật và cơn bệnh kéo dài hơn cả năm, đã tự lái xe từ Victorville tới Little Saigon
An lạc không phải là hạnh phúc, là sảng khoái nhất thời hay hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc, một cảm nhận an lành, thanh thản tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác. An lạc đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần…
Giải Nobel Kinh tế năm 2024 sẽ được trao cho Daron Acemoglu và Simon Johnson từ Viện Công nghệ Massachusetts và James Robinson từ Đại học Chicago "cho các nghiên cứu về cách các thể chế được hình thành và ảnh hưởng đến sự thịnh vượng".
Vào tháng 9 năm 2021, Texas ban hành lệnh cấm phá thai từ tuần thứ sáu của thai kỳ, tức là thời điểm sớm nhất có thể nhận thấy một tín hiệu từ phôi thai mà có thể được coi là nhịp tim. Thực ra không phải là tim đang đập, vì phôi thai chưa phát triển tim ở giai đoạn này, nhưng đó là một tín hiệu sinh lý, sau này sẽ trở thành nhịp tim trong quá trình phát triển của thai nhi. Những phụ nữ không chủ động theo dõi việc mang thai thường chỉ phát hiện mình có thai vào khoảng tuần thứ bảy.
Các nhà sư ở Kosambi đã chia thành hai nhóm. Một nhóm theo vị thầy về Luật và nhóm kia theo vị thầy về Pháp và họ thường tranh cãi nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi. Do vậy, Đức Phật đã rời bỏ họ và dành mùa an cư trong mùa mưa, vào một mình trong Rừng Rakkhita gần rừng Palileyyaka. Ở đó, con voi Palileyya đã theo hầu Đức Phật.
Căng thẳng gia tăng giữa Philippines và Trung Quốc đã đặt ra câu hỏi liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng bảo vệ đồng minh của mình trước sự xâm lược của Trung Quốc hay không, đặc biệt là ở các vùng lãnh thổ tranh chấp ở Thái Bình Dương.
Thế kỷ 19 có một sự cộng tác đặc biệt của một số người Minh Hương ở Chợ Lớn và các nhà khắc ván ở vùng Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) để thực hiện khắc ván, in và phát hành sâu rộng những tác phẩm Việt Nam viết bằng chữ Nôm.
Họa sĩ tự tìm đường đi vào nghề vẽ hơn 50 năm, với kết quả sản xuất ra 1.500 tác phẩm, trải qua hơn 20 lần triển lãm cá nhân và 40 lần tham gia triển lãm cùng các đồng nghiệp. Tác phẩm của ông đắt khách và thường được định giá cao, nhưng phần lớn tài chánh được dùng để trao tặng từ thiện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.