Hôm nay,  

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?

19/02/202607:38:00(Xem: 444)
blank

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?
 

Tác giả: Akhilesh Pillalamarri

Dịch giả: Nguyên Giác

 

Lời Giới Thiệu: Tạp chí The Diplomat hôm 18/2/2026 có bài viết nhan đề “Why Did Buddhism Decline in Asia?” (Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?) của Akhilesh Pillalamarri, một nhà văn và là một luật sư chuyên về văn minh, địa chính trị, an ninh và quản trị ở châu Á. Bài viết đưa ra cái nhìn riêng và bao quát của tác giả, không nhất thiết đúng cho một số hoàn cảnh lịch sử cụ thể tại một số quốc gia. Tuy nhiên, các số thống kê được khảo sát và cập nhật chắc chắn sẽ làm cho nhiều Phật tử suy nghĩ kỹ hơn để sẽ tìm cách hoằng pháp thích nghi. Có thể giải pháp nên là Phật giáo Dấn thân (Engaged Buddhism), một khuynh hướng được khởi xướng bởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh, là đưa thiền tập và chánh niệm vào cuộc sống thường nhật để giải quyết nỗi khổ niềm đau trong xã hội, thay vì chỉ khép kín tu hành trong thiền viện. Hay là có thể sẽ có nhiều giải pháp nào khác? Tác giả Akhilesh Pillalamarri là một học giả Mỹ gốc Ấn Độ hiện đang viết cho nhiều báo Hoa Kỳ. Tác giả dường như có cái nhìn không chính xác về Phật giáo tại Việt Nam (người dịch xin độc giả tự nhận xét). Bản dịch bài viết như sau.

.... o ....
 

Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?

Việc thiếu sự hỗ trợ đồng cảm từ các thể chế trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp độ tinh hoa, có thể giải thích tại sao Phật giáo bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Theo dữ liệu gần đây từ Trung tâm Nghiên cứu Pew, Phật giáo là tôn giáo lớn duy nhất trên thế giới suy giảm về số lượng tuyệt đối trong thập niên từ năm 2010 đến năm 2020, từ 343 triệu xuống còn 324 triệu tín đồ. Tỷ lệ tín đồ Phật giáo trong dân số thế giới cũng giảm, từ khoảng 5% xuống còn khoảng 4%. Ngược lại, tính đến năm 2020, Kitô giáo chiếm khoảng 29% dân số thế giới, Hồi giáo 21% và Ấn Độ giáo 15%.

Một thế kỷ trước, nhiều báo cáo cho rằng Phật giáo có nhiều tín đồ hơn bất kỳ tôn giáo nào khác — 500 triệu người, trong tổng dân số toàn cầu là 1,5 tỷ người. Vì Phật giáo từ lâu đã tập trung ở châu Á — nơi 98% Phật tử sinh sống — điều này sẽ ngụ ý một sự thay đổi lớn, ở quy mô gần như chưa từng có, trong đời sống tôn giáo của lục địa này. Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo của khu vực phía đông châu Á trong gần hai thiên niên kỷ.

Một lý do cho những số liệu thống kê khác nhau này liên quan đến cách định nghĩa tín ngưỡng tôn giáo ở châu Á, đặc biệt là Đông Á. Các báo cáo cũ hơn chỉ đơn giản phân loại tất cả mọi người ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản là Phật tử. Ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản, sự pha trộn tôn giáo và ranh giới tôn giáo chồng chéo khiến việc đo lường số lượng Phật tử thực sự trở nên khó khăn, nếu việc đo lường như vậy là thực sự khả thi. Ví dụ, ước tính số lượng Phật tử ở Trung Quốc dao động từ 4% đến 33% dân số — từ 42 triệu đến 362 triệu người — dựa trên các câu hỏi khảo sát. Ví dụ, trong khi chỉ có 4% người Trung Quốc được khảo sát trả lời Phật giáo cho câu hỏi về tín ngưỡng tôn giáo của họ, thì 26% tuyên bố rằng họ thắp hương (nhang) thờ cúng Đức Phật và 33% nói rằng họ tin vào Đức Phật. Tương tự, tỷ lệ người Nhật theo Phật giáo dao động từ 46% đến 70%.

Tại Hồng Kông, Hàn Quốc và Việt Nam, những người tự nhận mình là Phật giáo chiếm lần lượt 14%, 14% và 38% dân số. Bỏ qua phương pháp luận, những số liệu thống kê này cho thấy rằng trong điều kiện hiện đại, tương đối ít người châu Á trong các xã hội có sự hiện diện mạnh mẽ của Phật giáo trong các thể chế chọn theo Phật giáo. Điều này dường như đặc biệt đúng ở những nơi mà Phật giáo Mahayana (Đại thừa) là trường phái Phật giáo chiếm ưu thế, trái ngược với Phật giáo Theravada Bảo thủ chiếm ưu thế ở Đông Nam Á và Sri Lanka.

Mặc dù các phương pháp đo lường Phật giáo ở châu Á khác nhau kể những câu chuyện khác nhau, nhưng điều chắc chắn là nhìn chung, Phật giáo đã suy giảm ở một số quốc gia theo Phật giáo Theravada – như Myanmar, Campuchia và Thái Lan – nơi Phật giáo thực sự phát triển và đã thay thế Phật giáo Mahayana và Ấn Độ giáo trong vài thế kỷ qua.

Sự suy giảm của Phật giáo trên khắp châu Á bắt đầu từ hơn một nghìn năm trước, mặc dù nó khá phổ biến trong thiên niên kỷ đầu tiên của lịch sử, lan rộng khắp châu Á và hoàn toàn làm thay đổi đời sống tôn giáo của nhiều xã hội. Mặc dù sự suy giảm của Phật giáo ở các khu vực khác nhau đều có những lý do riêng, nhưng chúng đều có một yếu tố thống nhất. Giới tinh hoa và các trường phái triết học đối lập ở những nơi xa xôi như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều thúc đẩy việc gạt bỏ Phật giáo để ủng hộ các lựa chọn thay thế bản địa. Điều này có thể xảy ra bởi vì Phật giáo, về bản chất, thường không trở thành tôn giáo duy nhất của cả quần chúng và giới tinh hoa trong nhiều xã hội, nơi nhiều trường phái tư tưởng cùng tồn tại song song. Vì Phật giáo không trở thành một tôn giáo duy nhất, nó thường phải cạnh tranh với các trường phái triết học và tôn giáo đối lập do giới tinh hoa địa phương thúc đẩy, và thường phải chịu những thất bại. Ban đầu, những ảnh hưởng này đến từ một số hệ tư tưởng bản địa, như Ấn Độ giáo, Nho giáo và Thần đạo. Sau đó, những thách thức đến từ Hồi giáo — lan rộng thông qua hoạt động thương mại ở quần đảo Mã Lai — và từ phương Tây dưới hình thức Kitô giáo, chủ nghĩa Mác (Marxism) và các hệ tư tưởng khác.

Phật giáo vẫn mạnh mẽ nhất trong các nhóm dân số — thường là các nhóm không có truyền thống văn học hay triết học trước đó — những người đã tiếp nhận nó một cách toàn tâm toàn ý hơn ở cả cấp độ dân chúng và cầm quyền, ngay cả khi các tín ngưỡng dân gian và sự pha trộn tôn giáo vẫn tồn tại. Trong những xã hội như vậy, Phật giáo trở thành một tôn giáo quốc gia định hình tính cách của một dân tộc, và thường gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ viết và văn hóa hàng ngày của xã hội. Ví dụ bao gồm các quốc gia Phật giáo Theravada ở Đông Nam Á và Sri Lanka, và Phật giáo Kim Cương thừa (Vajrayana), hay Mật tông (Tantric), phổ biến ở cao nguyên Tây Tạng. Vào thời trung cổ, Phật giáo cũng trở nên phổ biến trong một số nhóm người ở Nội Á (Inner Asian groups), những người bị thu hút bởi những gì nó mang lại. Theo nhà sử học Frederick W. Mote, điều này bao gồm tính “dễ tiếp cận” của nó — cho phép mọi người “tin tưởng ở bất kỳ mức độ hiểu biết nào mà họ có khả năng” — nguồn gốc không phải của Trung Quốc, hệ tư tưởng rằng những người cai trị có thể trở thành Charkavartin (Chuyển pháp luân vương), và khả năng cung cấp một “thế giới giao lưu liên quốc gia và liên văn hóa vượt qua những đặc thù dân tộc”. Ngay cả ngày nay, Phật giáo vẫn đang thu hút thêm tín đồ trong một số dân tộc Turk và Mông Cổ ở Nội Á (Inner Asia: nằm giữa Đông Á, Bắc Á và Trung Á, không giáp biển), chẳng hạn như ở Cộng hòa Altai thuộc Siberia của Nga.

Tuy nhiên, sự phản kháng đối với Phật giáo đã gia tăng mạnh mẽ ở một số nền văn minh vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Ở Ấn Độ, khi Phật giáo được hòa nhập vào Ấn Độ giáo ở cấp độ dân chúng, các Bà La Môn đã bảo vệ truyền thống Vệ Đà và dharma (chính pháp, hiểu theo Ấn Độ Giáo). Những người ủng hộ dharma đã phát triển sáu trường phái astika (chính thống) của Ấn Độ giáo, những trường phái này đã thành công trong việc phản bác Phật giáo về một số vấn đề, chẳng hạn như khẳng định rằng con người có một bản ngã vĩnh hằng tiềm ẩn và, trong nhiều trường hợp, ủng hộ ý tưởng rằng thế giới là có thực khách quan và có thể được hiểu một cách thực nghiệm. Bị phản bác về mặt triết học, và không có sự bảo trợ của các thể chế hoặc một cơ sở dân cư lớn để hỗ trợ tăng đoàn (cộng đồng tăng ni), Phật giáo đã suy giảm ở Ấn Độ. Xu hướng này càng trầm trọng hơn do cuộc chinh phạt Bắc Ấn Độ của người Hồi giáo Turk vào đầu thế kỷ 13 và sự phá hủy một số trung tâm Phật giáo. Các vùng miền và cộng đồng ở tiểu lục địa nghiêng về Phật giáo có xu hướng bị cải đạo sang Hồi giáo với số lượng lớn hơn so với người theo đạo Hindu, có lẽ vì cả Phật giáo và Hồi giáo đều phổ biến nhất trong một số ngành nghề nhất định, chẳng hạn như thương mại, và có lẽ vì Phật giáo dễ bị suy yếu nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước.

Phật giáo cũng suy giảm ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mặc dù nó không biến mất hoàn toàn. Sự thiếu thiện cảm từ các thể chế trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp cao, có thể giải thích tại sao nó bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Nhà nước Trung Quốc và tầng lớp học giả Nho giáo chưa bao giờ hoàn toàn chấp nhận Phật giáo. Năm 845 sau Công nguyên, Hoàng đế Võ Tông nhà Đường đã phát động cuộc đàn áp Phật giáo quy mô lớn — nhắm vào cả các tôn giáo “ngoại lai” khác — một phần vì nhà nước Trung Quốc cảm thấy rằng quá nhiều của cải đang được tích lũy trong các tu viện và quá nhiều người rời bỏ xã hội để sống đời tu hành. Đây là một luận điểm chỉ trích dai dẳng đối với Phật giáo ở Trung Quốc, một luận điểm được phát triển hơn nữa thông qua triết lý Tân Nho giáo (Neo-Confucianist philosophy) của triều đại nhà Tống (960-1279 sau Công nguyên). Các nhà tư tưởng Nho giáo “nhấn mạnh lòng hiếu thảo, điều mà họ chỉ ra rằng các nhà sư Phật giáo đã vi phạm bằng việc tu hạnh độc thân.”

Giống như Ấn Độ giáo ở Ấn Độ, Tân Nho giáo ở Trung Quốc tìm cách khôi phục xã hội về các tập tục nghi lễ cổ xưa và duy trì đạo đức truyền thống. Theo hướng Trung Quốc hơn, nó tìm cách nhấn mạnh các ý tưởng xã hội và chính trị thực tiễn hơn là siêu hình học. Các nhà tư tưởng Nho giáo lý luận:

… nhấn mạnh sự kính trọng đối với các nhà lãnh đạo gia đình và cộng đồng, do đó bỏ qua các nhân vật có thẩm quyền trong Phật giáo. Các nhà tư tưởng Nho giáo cũng bắt đầu đặt trọng tâm lớn vào ý tưởng về lòng trung thành với triều đình quân chủ… vào thời Tống, đã có những nỗ lực biến lòng trung thành đó thành một đức tính Nho giáo tối thượng. Vào thời Bắc Tống, có những dấu hiệu cho thấy tinh thần thế tục của Tân Nho giáo đã giành được một số thắng lợi quan trọng. Sự quan tâm của giới học giả đối với kinh điển và giáo lý Phật giáo chắc chắn đã suy giảm khi sức sống học thuật của thời đại gần như chuyển hoàn toàn sang nghiên cứu, biên tập và bình luận các tác phẩm Nho giáo… năng lượng trí tuệ có ý thức của thời đại hầu như được dành riêng cho các khía cạnh thế tục của truyền thống văn hóa Trung Quốc, và đặc biệt là các yếu tố Nho giáo đặc thù của nó. Đồng thời, chất lượng của tăng đoàn Phật giáo cũng suy giảm….”

Nho giáo vẫn là triết lý thống trị ở Trung Quốc cho đến cuối thời kỳ đế chế vào thế kỷ 20. Giới tinh hoa chính trị Trung Quốc nhìn chung dung túng Phật giáo, đồng thời cũng coi thường nó, một số người cho rằng đó là "triết lý ích kỷ" trái ngược với trách nhiệm đạo đức của Nho giáo. Không nơi nào thể hiện rõ nét điều này như ở Hàn Quốc trong thời Joseon (1392-1910), nơi Phật giáo bị gạt sang một bên bởi sự nâng cao vị thế của Tân Nho giáo. Ở Hàn Quốc, nhà nước yêu cầu tất cả các nhà sư phải đăng ký và đặt ra "giới hạn nghiêm ngặt về số lượng tăng lữ đăng ký và phí đăng ký thu được". Họ tìm cách tách biệt người dân khỏi Phật giáo bằng cách "giới hạn các nghi lễ của nó trong các tu viện trên núi".

Ở Nhật Bản, mặc dù ở mức độ ít hơn, giới tinh hoa cũng chống lại Phật giáo để ủng hộ tín ngưỡng địa phương. Trong trường hợp của Nhật Bản, đó là tín ngưỡng Thần đạo bản địa. Trong thời kỳ Edo (1603-1868), phong trào Kokugaku (học thuật quốc gia) nhấn mạnh văn hóa Nhật Bản bản địa hơn các ý tưởng nước ngoài. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, chính phủ hiện đại hóa của Nhật Bản đã nâng Thần đạo lên thành quốc giáo và tách biệt rõ ràng Phật giáo và Thần đạo — một quá trình được gọi là shinbutsu bunri. Trước đây, Phật giáo và Thần đạo được dung hợp và cùng một công trình thường được sử dụng làm cả chùa Phật giáo và đền thờ Thần đạo. Sau đó, công dân Nhật Bản được yêu cầu đăng ký tại các đền thờ Thần đạo. Thần đạo quốc giáo không phổ biến rộng rãi và đã chấm dứt sau Thế chiến II. Phật giáo ngày nay tương đối nổi bật và có ảnh hưởng hơn ở Nhật Bản so với các nước láng giềng Hàn Quốc hay Trung Quốc.

Do thái độ mơ hồ trong lịch sử của Đông Á đối với Phật giáo, Phật giáo không được coi là yếu tố nội tại của bản sắc dân tộc như Ấn Độ giáo và Hồi giáo ở các khu vực khác trên thế giới. Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản bước vào thế kỷ 20 với các thể chế Phật giáo suy yếu và nhiều trường phái tư tưởng chính trị và tôn giáo hoạt động mạnh mẽ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ người theo Phật giáo ở nhiều quốc gia Đông Á tương đối thấp và đang giảm dần khi các hệ tư tưởng khác — bao gồm cả chủ nghĩa vô thần do nhà nước tài trợ — và chủ nghĩa vô thần trở nên nổi bật hơn. Với sự trỗi dậy của các đảng Cộng sản — thường có lập trường mơ hồ, thậm chí thù địch với tôn giáo — ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam, càng ít có động lực để chính thức theo Phật giáo, bởi Phật giáo hoặc là một tôn giáo truyền thống đã ăn sâu vào văn hóa của hầu hết mọi người, hoặc là tôn giáo dành riêng cho những tín đồ chân chính.

Đối với những người muốn theo một tôn giáo nào đó — đặc biệt là ở Trung Quốc và Hàn Quốc — Kitô giáo đã trở nên nổi bật trong thế kỷ qua. Đối với nhiều người, Kitô giáo đại diện cho sự mới mẻ và năng động. Những nhân vật nổi bật như Tôn Trung Sơn, người sáng lập ra nước Trung Hoa hiện đại, và Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo quốc gia lâu năm của Trung Hoa Dân Quốc, đều là tín đồ Kitô giáo. Kể từ khi Trung Quốc mở cửa với thế giới sau cái chết của Mao Trạch Đông, các nhà phân tích đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể niềm tin Kitô giáo ở đó, một số người cho rằng Trung Quốc có thể sớm có số lượng tín đồ Kitô giáo lớn nhất thế giới, mặc dù không rõ điều này có thực sự xảy ra hay không. Dữ liệu chính xác rất khó tìm, nhưng theo Pew, 7% người trưởng thành ở Trung Quốc tin vào Chúa Giê-su Kitô. Ước tính số lượng tín đồ Kitô giáo ở Trung Quốc dao động từ 44 triệu đến 130 triệu, phản ánh số lượng lớn những người theo đạo nhưng không đăng ký. Lý do cho sự phát triển của Kitô giáo ở Trung Quốc bao gồm sức hấp dẫn của nó đối với cộng đồng, tình huynh đệ, hệ thống đạo đức, cấu trúc tổ chức và tính chất quốc tế; thêm vào đó, Cách mạng Văn hóa (1966-1976) đã làm suy yếu quyền lực của Phật giáo và Đạo giáo (Daoism: còn gọi là Lão giáo).

Ở Hàn Quốc, Kitô giáo cũng phát triển nhanh chóng kể từ sau Thế chiến II. Nhiều người Hàn Quốc coi Kitô giáo là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc, đối lập với Phật giáo và Thần đạo của chế độ thuộc địa Nhật Bản. Chính phủ Hàn Quốc thời hậu chiến đã nỗ lực hết sức để xóa bỏ tín ngưỡng pháp sư bản địa (shamanistic beliefs) của người Hàn Quốc, thường xuyên phá hủy các đền thờ. Với việc Phật giáo đã bị gạt sang một bên bởi triều đại Joseon, Kitô giáo đã lấp đầy khoảng trống đó. Các tín đồ Kitô giáo — đặc biệt là Tin Lành — “được nhìn nhận rộng rãi ở miền nam [Hàn Quốc] như những đại diện cho một đức tin vừa mạnh mẽ vừa hiện đại, nếu không muốn nói là đồng nghĩa với Mỹ là quốc gia dẫn đầu sự tiến bộ của nhân loại…”. Kitô giáo đã có sự tăng trưởng nhanh chóng ở Hàn Quốc: ngày nay, nó là tôn giáo lớn nhất ở đó, chiếm 31% dân số.

Lịch sử Phật giáo trong thiên niên kỷ qua và các xu hướng đương đại gần đây giải thích tại sao Phật giáo – tôn giáo duy nhất trong số các tôn giáo lớn trên thế giới – lại suy giảm, cả về số lượng tín đồ tuyệt đối và về tỷ lệ phần trăm dân số thế giới tương đối. Trong khi Phật giáo mạnh hơn ở các quốc gia Đông Nam Á và vùng Himalaya, nơi đa số theo Phật giáo Theravada, thì sự suy giảm của Phật giáo đặc biệt đáng chú ý ở Đông Á, nơi Phật giáo từ lâu đã cạnh tranh với các hệ thống tôn giáo khác và chịu sự thờ ơ, thậm chí là thù địch của nhà nước. Chủ nghĩa hiện đại càng làm giảm sức sống bền bỉ của Phật giáo. Theo nhiều truyền thống, chính Đức Phật đã tiên đoán rằng Phật pháp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái – vì vạn vật đều vô thường – với ngày càng ít chúng sinh đạt được Giác ngộ. Nhưng một vị Phật khác sẽ đến vào một ngày nào đó để phục hưng Phật pháp. Thời gian sẽ tiết lộ sự thật về những điều đó.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tổng thống Donald Trump luôn mạng mẽ khẳng định “tôi không bao giờ vẽ tranh, tôi không thích vẽ tranh” và “lá thư mừng sinh nhật đó là ‘hoax’”. Thậm chí, Trump đã đệ đơn kiện tờ The Wall Street Journal đòi bồi thường $10 tỷ đô la để có bài báo về bức thư bị cáo buộc này. Sáng nay Thứ Hai 8/9, các thành viên Đảng Dân Chủ trong Ủy ban Giám sát Hạ viện đã công bố bức thư đầy hình ảnh “gợi cảm" gửi Jeffrey Epstein, có chữ ký của Donald Trump trên đó.
Giữa năm 2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao SJC 10 tấn vàng nguyên liệu để gia công, sản xuất vàng miếng. Song với mục đích chiếm đoạt tài sản thuộc trách nhiệm quản lý, bà Hằng đã chỉ đạo các cấp dưới lập tờ trình khống để nâng định mức hao hụt trong gia công vàng miếng.
Trong nhiều thập niên, Doug Wilson là một mục sư tương đối vô danh ở Idaho, bị đẩy ra lề của chủ nghĩa Tin Lành Phúc Âm vì những giáo lý cực đoan của ông. Giờ đây, ông là một tiếng nói có ảnh hưởng trong cánh hữu Cơ đốc giáo. Sự thay đổi về tầm ảnh hưởng đó đã rõ ràng trong tuần qua khi ông đi một vòng ăn mừng chiến thắng qua thủ đô Washington, chia sẻ sân khấu với các quan chức chính quyền Trump
Chính phủ của Thủ tướng François Bayrou, mới nhậm chức chưa đầy chín tháng, đã sụp đổ hôm thứ Hai sau cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm với kết quả 364 chống và 194 thuận tại Hạ viện, tờ New York Times đưa tin. Đây là lần thứ tư trong vòng 20 tháng nước Pháp thay thủ tướng, cho thấy tình trạng bất ổn chính trị thường trực trong khi quốc gia phải đối diện gánh nặng tài chính chồng chất. Bayrou kêu gọi tiết kiệm 51 tỉ Mỹ kim mỗi năm để đối phó nợ công, cảnh báo “sự thống trị của chủ nợ cũng dẫn đến mất tự do,” nhưng đề nghị thắt lưng buộc bụng bị cả cực hữu lẫn cánh tả bác bỏ. Chính phủ của Thủ tướng François Bayrou, mới nhậm chức chưa đầy chín tháng, đã sụp đổ hôm thứ Hai sau cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm với kết quả 364 chống và 194 thuận tại Hạ viện, tờ New York Times đưa tin. Đây là lần thứ tư trong vòng 20 tháng nước Pháp thay thủ tướng, cho thấy tình trạng bất ổn chính trị thường trực trong khi quốc gia phải đối diện gánh nặng tài chính chồng chất.
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Donald Trump bãi nhiệm một ủy viên của Ủy hội Thương mại Liên bang (FTC), bất chấp luật liên bang hạn chế quyền kiểm soát cơ quan này của Bạch Ốc. Lệnh do Chánh án John Roberts ban hành đã tạm ngưng phán quyết của một thẩm phán liên bang vốn phục hồi chức vụ cho Rebecca Kelly Slaughter, trong khi vụ kiện tiếp tục được xét xử, theo NBC News.
Tòa Tối Cao Hoa Kỳ với đa số bảo thủ 6–3 đã cho phép Cơ quan Di trú và Hải quan (ICE) tiếp tục truy quét tại Los Angeles dựa trên yếu tố ngoại hình, ngôn ngữ hay nơi làm việc, hủy bỏ tạm thời lệnh cấm của tòa cấp dưới. Phán quyết cho phép hoạt động này nối lại trong khi vụ kiện vẫn được xét xử, nhưng ngay lập tức làm dấy lên phản đối dữ dội.
- Tòa Giữ Nguyên Bản Án 83,3 Triệu Phạt Trump Trong Vụ E. Jean Carroll. - Trump Nói Sẽ Trừng Phạt Nga Sau Khi Putin Mở Cuộc Không Kích Lớn Nhất. - Cố Vấn Kinh Tế Bạch Ốc Nói Fed Phải Hoàn Toàn Độc Lập Với Chính Trị. - Trump Giảm Nhẹ Tuyên Bố Về Chicago, Nói Chỉ Muốn ‘Dọn Sạch’ Thành Phố. - Nga Đẩy Mạnh Chiến Dịch Tin Giả Ở Moldova. - Chủ Tịch Hạ Viện Johnson Rút Lại Lời Nói Trump Là “Người Cung Cấp Tin Cho FBI” Trong Hồ Sơ Epstein. - Hàng Ngàn Người Xuống Đường Ở Jerusalem Đòi Netanyahu Ký Thỏa Thuận Trao Trả Con Tin. - Báo Động Trong Chiến Dịch Chống Điện Gió Của Trump. - Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Rand Paul Công Kích Phó Tổng Thống JD Vance Vụ Không Kích Venezuela. - Tỉ Lệ Ủng Hộ Trump Đảo Chiều Trong Khối Cử Tri Da Trắng. - Thuốc Trung Quốc Đe Dọa Ngôi Vị Sinh Học Mỹ. - Ngân Hàng Thế Giới Hạ Dự Báo Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam Xuống 6,6% Vì Thuế Quan Mỹ. - Ngay Cả Người Cao Niên Cũng Khó Được Tiêm Chủng Giữa Lúc COVID Tăng Mạnh
(SYDNEY, ngày 8 tháng 9, Reuters) – Hôm thứ Hai, Erin Patterson, một phụ nữ ở Úc Đại Lợi bị kết tội giết hại ba thân nhân cao niên bên nhà chồng cũ bằng nấm độc và đã bị tòa tuyên án 33 năm tù giam. Thẩm phán cho biết Patterson không hề tỏ ra thương xót gia đình chồng khi dọn ra món Beef Wellington có trộn nấm tử thần (death cap) cho họ ăn.
(WASHINGTON, ngày 7 tháng 9, Reuters) – Giới chức Hoa Kỳ hôm Chủ Nhật cho biết đang điều tra một vụ tấn công mạng bằng email giả mạo, mạo danh Dân biểu Cộng Hòa John Moolenaar. Email này chứa mã độc, bị nghi liên quan đến nhóm tin tặc Trung Quốc APT41, nhằm thu thập thông tin về các cuộc đàm phán thương mại giữa chính quyền Trump và Bắc Kinh.
SAN JOSE (VB) -- Theo tin cảnh sát, một tiệm vàng trong khu thương mại đã bị khoảng 10 tên xông vào đập tủ kính và cướp, sau khi dùng xe hơi tông vỡ cửa kính giữa ban ngày. Một chủ tiệm vàng 88 tuổi đã bị tấn công trong một vụ cướp táo tợn ở San Jose, cảnh sát cho biết. Vụ này xảy ra vào thứ Sáu tại tiệm trang sức Kim Hưng trên đường Aborn, khu 1900.
"Trong các lớp học ở Texas, chúng tôi muốn Lời Chúa được mở ra, Mười Điều Răn được trưng bày và những lời cầu nguyện được dâng lên," Paxton nói trong một tuyên bố hôm thứ Ba, khuyến khích học sinh đọc "Kinh Lạy Cha, như Chúa Giê-su Christ đã dạy".
Hội Cựu Sinh Viên Trường Võ Bị West Point loan báo sẽ không tổ chức lễ vinh danh diễn viên Tom Hanks, người được chọn là khôi nguyên giải thưởng danh giá Sylvanus Thayer năm nay, theo NPR News. Buổi lễ, vốn dự trù ngày 25 tháng 9 với diễn hành và tiệc chính thức, bị hủy bỏ, nhưng Hanks vẫn được trao giải. Lý do không được công bố.
J111. Gadrabha-Panha -- Bài Kiểm Tra Trí Tuệ Tóm tắt: Trong quá khứ, Mahosadha đã chứng minh trí tuệ của mình bằng cách giải quyết nhiều vấn đề, khiến nhà vua phải triệu ông đến làm cố vấn. Cố vấn trưởng của nhà vua, Senaka, lại đưa ra một vấn đề nữa cho Mahosadha giải quyết, lần này liên quan đến một con lừa.
- Trump Muốn Tiếp Quản Đài Tưởng Niệm 9/11 Ở NewYork. - Chủ Tịch Hạ Viện Mike Johnson: ‘Trump Là Nguồn Tin FBI Trong Vụ Epstein’. - Cựu Thuỷ Quân Lục Chiến Gốc Việt Chết Bên Vệ Đường. - F-16 Venezuela Tiếp Tục Khiêu Khích Khu Trục Hạm Mỹ. - Kennedy: Dùng Tylennol Giữa Thai Kỳ Gây Chứng Tự Kỷ. - Trump Bất Ngờ Nghịch Với Kennedy Về Vaccine. - Tòa Chặn Chính Quyền Trump Hủy Tình Trạng Hợp Pháp Hơn 1 Triệu Di Dân Venezuela, Haiti. - Chính Quyền Trump Nói Abrego Garcia Phải Bị Trục Xuất Về Eswatini Ở Châu Phi. -Zelenskyy Từ Chối Lời Mời Đến Moscow Putin. - Mitch McConnell: ‘Trump Là Tổng Thống Trong Thời Kỳ Nguy Hiểm Nhất Sau WWII’. - Tảng Băng Trôi Lớn Nhất Thế Giới Sẽ Biến Mất.
Theo báo cáo của Sở Thống Kê Lao Động Hoa Kỳ (US Bureau of Labor Statistics), phổ biến vào ngày hôm nay, nền kinh tế chỉ tạo thêm được 22,000 việc làm trong tháng 8, 2025. Thị trường việc làm ở Mỹ đã có những dấu hiệu suy thoái trong nhiều tháng vừa qua. Các kinh tế gia được Wall Street Journal thăm dò đã dự báo rằng khoảng 100,000 việc làm được bổ sung vào tháng 7, nhưng thực sự chỉ có được 79,000 việc làm. Không những vậy, Sở Thống Kê Lao Động Hoa Kỳ đã phải điều chỉnh số thông kê của hai tháng 5 và 6 xuống còn 19,000 và -13,000 việc làm khiến Tổng Thống Trump tức giận và sa thải giám đốc của cơ quan này là bà Erika McEntarfer vì cho rằng cơ quan thống kê đã gian lận các con số. Nhưng số liệu mới công bố cho thấy tổng số việc làm ít ỏi đó không phải là điều bất thường. Lần đầu tiên sau hơn bốn năm, số việc làm ít hơn số người tìm việc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.