Hôm nay,  

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?

19/02/202607:38:00(Xem: 731)
blank

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?
 

Tác giả: Akhilesh Pillalamarri

Dịch giả: Nguyên Giác

 

Lời Giới Thiệu: Tạp chí The Diplomat hôm 18/2/2026 có bài viết nhan đề “Why Did Buddhism Decline in Asia?” (Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?) của Akhilesh Pillalamarri, một nhà văn và là một luật sư chuyên về văn minh, địa chính trị, an ninh và quản trị ở châu Á. Bài viết đưa ra cái nhìn riêng và bao quát của tác giả, không nhất thiết đúng cho một số hoàn cảnh lịch sử cụ thể tại một số quốc gia. Tuy nhiên, các số thống kê được khảo sát và cập nhật chắc chắn sẽ làm cho nhiều Phật tử suy nghĩ kỹ hơn để sẽ tìm cách hoằng pháp thích nghi. Có thể giải pháp nên là Phật giáo Dấn thân (Engaged Buddhism), một khuynh hướng được khởi xướng bởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh, là đưa thiền tập và chánh niệm vào cuộc sống thường nhật để giải quyết nỗi khổ niềm đau trong xã hội, thay vì chỉ khép kín tu hành trong thiền viện. Hay là có thể sẽ có nhiều giải pháp nào khác? Tác giả Akhilesh Pillalamarri là một học giả Mỹ gốc Ấn Độ hiện đang viết cho nhiều báo Hoa Kỳ. Tác giả dường như có cái nhìn không chính xác về Phật giáo tại Việt Nam (người dịch xin độc giả tự nhận xét). Bản dịch bài viết như sau.

.... o ....
 

Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?

Việc thiếu sự hỗ trợ đồng cảm từ các thể chế trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp độ tinh hoa, có thể giải thích tại sao Phật giáo bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Theo dữ liệu gần đây từ Trung tâm Nghiên cứu Pew, Phật giáo là tôn giáo lớn duy nhất trên thế giới suy giảm về số lượng tuyệt đối trong thập niên từ năm 2010 đến năm 2020, từ 343 triệu xuống còn 324 triệu tín đồ. Tỷ lệ tín đồ Phật giáo trong dân số thế giới cũng giảm, từ khoảng 5% xuống còn khoảng 4%. Ngược lại, tính đến năm 2020, Kitô giáo chiếm khoảng 29% dân số thế giới, Hồi giáo 21% và Ấn Độ giáo 15%.

Một thế kỷ trước, nhiều báo cáo cho rằng Phật giáo có nhiều tín đồ hơn bất kỳ tôn giáo nào khác — 500 triệu người, trong tổng dân số toàn cầu là 1,5 tỷ người. Vì Phật giáo từ lâu đã tập trung ở châu Á — nơi 98% Phật tử sinh sống — điều này sẽ ngụ ý một sự thay đổi lớn, ở quy mô gần như chưa từng có, trong đời sống tôn giáo của lục địa này. Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo của khu vực phía đông châu Á trong gần hai thiên niên kỷ.

Một lý do cho những số liệu thống kê khác nhau này liên quan đến cách định nghĩa tín ngưỡng tôn giáo ở châu Á, đặc biệt là Đông Á. Các báo cáo cũ hơn chỉ đơn giản phân loại tất cả mọi người ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản là Phật tử. Ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản, sự pha trộn tôn giáo và ranh giới tôn giáo chồng chéo khiến việc đo lường số lượng Phật tử thực sự trở nên khó khăn, nếu việc đo lường như vậy là thực sự khả thi. Ví dụ, ước tính số lượng Phật tử ở Trung Quốc dao động từ 4% đến 33% dân số — từ 42 triệu đến 362 triệu người — dựa trên các câu hỏi khảo sát. Ví dụ, trong khi chỉ có 4% người Trung Quốc được khảo sát trả lời Phật giáo cho câu hỏi về tín ngưỡng tôn giáo của họ, thì 26% tuyên bố rằng họ thắp hương (nhang) thờ cúng Đức Phật và 33% nói rằng họ tin vào Đức Phật. Tương tự, tỷ lệ người Nhật theo Phật giáo dao động từ 46% đến 70%.

Tại Hồng Kông, Hàn Quốc và Việt Nam, những người tự nhận mình là Phật giáo chiếm lần lượt 14%, 14% và 38% dân số. Bỏ qua phương pháp luận, những số liệu thống kê này cho thấy rằng trong điều kiện hiện đại, tương đối ít người châu Á trong các xã hội có sự hiện diện mạnh mẽ của Phật giáo trong các thể chế chọn theo Phật giáo. Điều này dường như đặc biệt đúng ở những nơi mà Phật giáo Mahayana (Đại thừa) là trường phái Phật giáo chiếm ưu thế, trái ngược với Phật giáo Theravada Bảo thủ chiếm ưu thế ở Đông Nam Á và Sri Lanka.

Mặc dù các phương pháp đo lường Phật giáo ở châu Á khác nhau kể những câu chuyện khác nhau, nhưng điều chắc chắn là nhìn chung, Phật giáo đã suy giảm ở một số quốc gia theo Phật giáo Theravada – như Myanmar, Campuchia và Thái Lan – nơi Phật giáo thực sự phát triển và đã thay thế Phật giáo Mahayana và Ấn Độ giáo trong vài thế kỷ qua.

Sự suy giảm của Phật giáo trên khắp châu Á bắt đầu từ hơn một nghìn năm trước, mặc dù nó khá phổ biến trong thiên niên kỷ đầu tiên của lịch sử, lan rộng khắp châu Á và hoàn toàn làm thay đổi đời sống tôn giáo của nhiều xã hội. Mặc dù sự suy giảm của Phật giáo ở các khu vực khác nhau đều có những lý do riêng, nhưng chúng đều có một yếu tố thống nhất. Giới tinh hoa và các trường phái triết học đối lập ở những nơi xa xôi như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều thúc đẩy việc gạt bỏ Phật giáo để ủng hộ các lựa chọn thay thế bản địa. Điều này có thể xảy ra bởi vì Phật giáo, về bản chất, thường không trở thành tôn giáo duy nhất của cả quần chúng và giới tinh hoa trong nhiều xã hội, nơi nhiều trường phái tư tưởng cùng tồn tại song song. Vì Phật giáo không trở thành một tôn giáo duy nhất, nó thường phải cạnh tranh với các trường phái triết học và tôn giáo đối lập do giới tinh hoa địa phương thúc đẩy, và thường phải chịu những thất bại. Ban đầu, những ảnh hưởng này đến từ một số hệ tư tưởng bản địa, như Ấn Độ giáo, Nho giáo và Thần đạo. Sau đó, những thách thức đến từ Hồi giáo — lan rộng thông qua hoạt động thương mại ở quần đảo Mã Lai — và từ phương Tây dưới hình thức Kitô giáo, chủ nghĩa Mác (Marxism) và các hệ tư tưởng khác.

Phật giáo vẫn mạnh mẽ nhất trong các nhóm dân số — thường là các nhóm không có truyền thống văn học hay triết học trước đó — những người đã tiếp nhận nó một cách toàn tâm toàn ý hơn ở cả cấp độ dân chúng và cầm quyền, ngay cả khi các tín ngưỡng dân gian và sự pha trộn tôn giáo vẫn tồn tại. Trong những xã hội như vậy, Phật giáo trở thành một tôn giáo quốc gia định hình tính cách của một dân tộc, và thường gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ viết và văn hóa hàng ngày của xã hội. Ví dụ bao gồm các quốc gia Phật giáo Theravada ở Đông Nam Á và Sri Lanka, và Phật giáo Kim Cương thừa (Vajrayana), hay Mật tông (Tantric), phổ biến ở cao nguyên Tây Tạng. Vào thời trung cổ, Phật giáo cũng trở nên phổ biến trong một số nhóm người ở Nội Á (Inner Asian groups), những người bị thu hút bởi những gì nó mang lại. Theo nhà sử học Frederick W. Mote, điều này bao gồm tính “dễ tiếp cận” của nó — cho phép mọi người “tin tưởng ở bất kỳ mức độ hiểu biết nào mà họ có khả năng” — nguồn gốc không phải của Trung Quốc, hệ tư tưởng rằng những người cai trị có thể trở thành Charkavartin (Chuyển pháp luân vương), và khả năng cung cấp một “thế giới giao lưu liên quốc gia và liên văn hóa vượt qua những đặc thù dân tộc”. Ngay cả ngày nay, Phật giáo vẫn đang thu hút thêm tín đồ trong một số dân tộc Turk và Mông Cổ ở Nội Á (Inner Asia: nằm giữa Đông Á, Bắc Á và Trung Á, không giáp biển), chẳng hạn như ở Cộng hòa Altai thuộc Siberia của Nga.

Tuy nhiên, sự phản kháng đối với Phật giáo đã gia tăng mạnh mẽ ở một số nền văn minh vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Ở Ấn Độ, khi Phật giáo được hòa nhập vào Ấn Độ giáo ở cấp độ dân chúng, các Bà La Môn đã bảo vệ truyền thống Vệ Đà và dharma (chính pháp, hiểu theo Ấn Độ Giáo). Những người ủng hộ dharma đã phát triển sáu trường phái astika (chính thống) của Ấn Độ giáo, những trường phái này đã thành công trong việc phản bác Phật giáo về một số vấn đề, chẳng hạn như khẳng định rằng con người có một bản ngã vĩnh hằng tiềm ẩn và, trong nhiều trường hợp, ủng hộ ý tưởng rằng thế giới là có thực khách quan và có thể được hiểu một cách thực nghiệm. Bị phản bác về mặt triết học, và không có sự bảo trợ của các thể chế hoặc một cơ sở dân cư lớn để hỗ trợ tăng đoàn (cộng đồng tăng ni), Phật giáo đã suy giảm ở Ấn Độ. Xu hướng này càng trầm trọng hơn do cuộc chinh phạt Bắc Ấn Độ của người Hồi giáo Turk vào đầu thế kỷ 13 và sự phá hủy một số trung tâm Phật giáo. Các vùng miền và cộng đồng ở tiểu lục địa nghiêng về Phật giáo có xu hướng bị cải đạo sang Hồi giáo với số lượng lớn hơn so với người theo đạo Hindu, có lẽ vì cả Phật giáo và Hồi giáo đều phổ biến nhất trong một số ngành nghề nhất định, chẳng hạn như thương mại, và có lẽ vì Phật giáo dễ bị suy yếu nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước.

Phật giáo cũng suy giảm ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mặc dù nó không biến mất hoàn toàn. Sự thiếu thiện cảm từ các thể chế trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp cao, có thể giải thích tại sao nó bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Nhà nước Trung Quốc và tầng lớp học giả Nho giáo chưa bao giờ hoàn toàn chấp nhận Phật giáo. Năm 845 sau Công nguyên, Hoàng đế Võ Tông nhà Đường đã phát động cuộc đàn áp Phật giáo quy mô lớn — nhắm vào cả các tôn giáo “ngoại lai” khác — một phần vì nhà nước Trung Quốc cảm thấy rằng quá nhiều của cải đang được tích lũy trong các tu viện và quá nhiều người rời bỏ xã hội để sống đời tu hành. Đây là một luận điểm chỉ trích dai dẳng đối với Phật giáo ở Trung Quốc, một luận điểm được phát triển hơn nữa thông qua triết lý Tân Nho giáo (Neo-Confucianist philosophy) của triều đại nhà Tống (960-1279 sau Công nguyên). Các nhà tư tưởng Nho giáo “nhấn mạnh lòng hiếu thảo, điều mà họ chỉ ra rằng các nhà sư Phật giáo đã vi phạm bằng việc tu hạnh độc thân.”

Giống như Ấn Độ giáo ở Ấn Độ, Tân Nho giáo ở Trung Quốc tìm cách khôi phục xã hội về các tập tục nghi lễ cổ xưa và duy trì đạo đức truyền thống. Theo hướng Trung Quốc hơn, nó tìm cách nhấn mạnh các ý tưởng xã hội và chính trị thực tiễn hơn là siêu hình học. Các nhà tư tưởng Nho giáo lý luận:

… nhấn mạnh sự kính trọng đối với các nhà lãnh đạo gia đình và cộng đồng, do đó bỏ qua các nhân vật có thẩm quyền trong Phật giáo. Các nhà tư tưởng Nho giáo cũng bắt đầu đặt trọng tâm lớn vào ý tưởng về lòng trung thành với triều đình quân chủ… vào thời Tống, đã có những nỗ lực biến lòng trung thành đó thành một đức tính Nho giáo tối thượng. Vào thời Bắc Tống, có những dấu hiệu cho thấy tinh thần thế tục của Tân Nho giáo đã giành được một số thắng lợi quan trọng. Sự quan tâm của giới học giả đối với kinh điển và giáo lý Phật giáo chắc chắn đã suy giảm khi sức sống học thuật của thời đại gần như chuyển hoàn toàn sang nghiên cứu, biên tập và bình luận các tác phẩm Nho giáo… năng lượng trí tuệ có ý thức của thời đại hầu như được dành riêng cho các khía cạnh thế tục của truyền thống văn hóa Trung Quốc, và đặc biệt là các yếu tố Nho giáo đặc thù của nó. Đồng thời, chất lượng của tăng đoàn Phật giáo cũng suy giảm….”

Nho giáo vẫn là triết lý thống trị ở Trung Quốc cho đến cuối thời kỳ đế chế vào thế kỷ 20. Giới tinh hoa chính trị Trung Quốc nhìn chung dung túng Phật giáo, đồng thời cũng coi thường nó, một số người cho rằng đó là "triết lý ích kỷ" trái ngược với trách nhiệm đạo đức của Nho giáo. Không nơi nào thể hiện rõ nét điều này như ở Hàn Quốc trong thời Joseon (1392-1910), nơi Phật giáo bị gạt sang một bên bởi sự nâng cao vị thế của Tân Nho giáo. Ở Hàn Quốc, nhà nước yêu cầu tất cả các nhà sư phải đăng ký và đặt ra "giới hạn nghiêm ngặt về số lượng tăng lữ đăng ký và phí đăng ký thu được". Họ tìm cách tách biệt người dân khỏi Phật giáo bằng cách "giới hạn các nghi lễ của nó trong các tu viện trên núi".

Ở Nhật Bản, mặc dù ở mức độ ít hơn, giới tinh hoa cũng chống lại Phật giáo để ủng hộ tín ngưỡng địa phương. Trong trường hợp của Nhật Bản, đó là tín ngưỡng Thần đạo bản địa. Trong thời kỳ Edo (1603-1868), phong trào Kokugaku (học thuật quốc gia) nhấn mạnh văn hóa Nhật Bản bản địa hơn các ý tưởng nước ngoài. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, chính phủ hiện đại hóa của Nhật Bản đã nâng Thần đạo lên thành quốc giáo và tách biệt rõ ràng Phật giáo và Thần đạo — một quá trình được gọi là shinbutsu bunri. Trước đây, Phật giáo và Thần đạo được dung hợp và cùng một công trình thường được sử dụng làm cả chùa Phật giáo và đền thờ Thần đạo. Sau đó, công dân Nhật Bản được yêu cầu đăng ký tại các đền thờ Thần đạo. Thần đạo quốc giáo không phổ biến rộng rãi và đã chấm dứt sau Thế chiến II. Phật giáo ngày nay tương đối nổi bật và có ảnh hưởng hơn ở Nhật Bản so với các nước láng giềng Hàn Quốc hay Trung Quốc.

Do thái độ mơ hồ trong lịch sử của Đông Á đối với Phật giáo, Phật giáo không được coi là yếu tố nội tại của bản sắc dân tộc như Ấn Độ giáo và Hồi giáo ở các khu vực khác trên thế giới. Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản bước vào thế kỷ 20 với các thể chế Phật giáo suy yếu và nhiều trường phái tư tưởng chính trị và tôn giáo hoạt động mạnh mẽ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ người theo Phật giáo ở nhiều quốc gia Đông Á tương đối thấp và đang giảm dần khi các hệ tư tưởng khác — bao gồm cả chủ nghĩa vô thần do nhà nước tài trợ — và chủ nghĩa vô thần trở nên nổi bật hơn. Với sự trỗi dậy của các đảng Cộng sản — thường có lập trường mơ hồ, thậm chí thù địch với tôn giáo — ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam, càng ít có động lực để chính thức theo Phật giáo, bởi Phật giáo hoặc là một tôn giáo truyền thống đã ăn sâu vào văn hóa của hầu hết mọi người, hoặc là tôn giáo dành riêng cho những tín đồ chân chính.

Đối với những người muốn theo một tôn giáo nào đó — đặc biệt là ở Trung Quốc và Hàn Quốc — Kitô giáo đã trở nên nổi bật trong thế kỷ qua. Đối với nhiều người, Kitô giáo đại diện cho sự mới mẻ và năng động. Những nhân vật nổi bật như Tôn Trung Sơn, người sáng lập ra nước Trung Hoa hiện đại, và Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo quốc gia lâu năm của Trung Hoa Dân Quốc, đều là tín đồ Kitô giáo. Kể từ khi Trung Quốc mở cửa với thế giới sau cái chết của Mao Trạch Đông, các nhà phân tích đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể niềm tin Kitô giáo ở đó, một số người cho rằng Trung Quốc có thể sớm có số lượng tín đồ Kitô giáo lớn nhất thế giới, mặc dù không rõ điều này có thực sự xảy ra hay không. Dữ liệu chính xác rất khó tìm, nhưng theo Pew, 7% người trưởng thành ở Trung Quốc tin vào Chúa Giê-su Kitô. Ước tính số lượng tín đồ Kitô giáo ở Trung Quốc dao động từ 44 triệu đến 130 triệu, phản ánh số lượng lớn những người theo đạo nhưng không đăng ký. Lý do cho sự phát triển của Kitô giáo ở Trung Quốc bao gồm sức hấp dẫn của nó đối với cộng đồng, tình huynh đệ, hệ thống đạo đức, cấu trúc tổ chức và tính chất quốc tế; thêm vào đó, Cách mạng Văn hóa (1966-1976) đã làm suy yếu quyền lực của Phật giáo và Đạo giáo (Daoism: còn gọi là Lão giáo).

Ở Hàn Quốc, Kitô giáo cũng phát triển nhanh chóng kể từ sau Thế chiến II. Nhiều người Hàn Quốc coi Kitô giáo là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc, đối lập với Phật giáo và Thần đạo của chế độ thuộc địa Nhật Bản. Chính phủ Hàn Quốc thời hậu chiến đã nỗ lực hết sức để xóa bỏ tín ngưỡng pháp sư bản địa (shamanistic beliefs) của người Hàn Quốc, thường xuyên phá hủy các đền thờ. Với việc Phật giáo đã bị gạt sang một bên bởi triều đại Joseon, Kitô giáo đã lấp đầy khoảng trống đó. Các tín đồ Kitô giáo — đặc biệt là Tin Lành — “được nhìn nhận rộng rãi ở miền nam [Hàn Quốc] như những đại diện cho một đức tin vừa mạnh mẽ vừa hiện đại, nếu không muốn nói là đồng nghĩa với Mỹ là quốc gia dẫn đầu sự tiến bộ của nhân loại…”. Kitô giáo đã có sự tăng trưởng nhanh chóng ở Hàn Quốc: ngày nay, nó là tôn giáo lớn nhất ở đó, chiếm 31% dân số.

Lịch sử Phật giáo trong thiên niên kỷ qua và các xu hướng đương đại gần đây giải thích tại sao Phật giáo – tôn giáo duy nhất trong số các tôn giáo lớn trên thế giới – lại suy giảm, cả về số lượng tín đồ tuyệt đối và về tỷ lệ phần trăm dân số thế giới tương đối. Trong khi Phật giáo mạnh hơn ở các quốc gia Đông Nam Á và vùng Himalaya, nơi đa số theo Phật giáo Theravada, thì sự suy giảm của Phật giáo đặc biệt đáng chú ý ở Đông Á, nơi Phật giáo từ lâu đã cạnh tranh với các hệ thống tôn giáo khác và chịu sự thờ ơ, thậm chí là thù địch của nhà nước. Chủ nghĩa hiện đại càng làm giảm sức sống bền bỉ của Phật giáo. Theo nhiều truyền thống, chính Đức Phật đã tiên đoán rằng Phật pháp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái – vì vạn vật đều vô thường – với ngày càng ít chúng sinh đạt được Giác ngộ. Nhưng một vị Phật khác sẽ đến vào một ngày nào đó để phục hưng Phật pháp. Thời gian sẽ tiết lộ sự thật về những điều đó.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhiều người hỏi tôi: - Sao bà gan quá, làm phóng viên chiến trường chết sống bất cứ lúc nào? Bà không sợ sao ? Tôi thường trả lời: - Đâu có sợ, có máu điên trong người cho nên đâu có sợ, và bây giờ có người hỏi sao bà tình nguyện làm Chief Forum. Một ngày đẹp trời tôi được Cảnh Sát trưởng thành phố Garden Grove mời làm một trong Chief Forum của thành phố, mỗi một sắc tộc được mời một người, cố vấn Đại Tá Cảnh sát trưởng trong vấn đề an ninh của thành phố, cố vấn có nghĩa là mình cho ý kiến về vấn đề an ninh, ông Cảnh Sát trưởng có lắng nghe hay không còn tùy vấn đề Chief Forum này 15 người, buổi họp đầu tiên bàn về nhiều vấn đề, nhất là vấn đề an ninh, ăn cướp, ăn trộm, đánh nhau, ẩu đã, nhiều vấn đề về con người nhưng không có vấn đề nào vui, toàn là chuyện không ai thích nghe, nhưng cũng có người tình nguyện làm việc với Cảnh Sát, là thương gia mà tham gia vấn đề này thì quý đồng hương cũng biết có màu bất thường rồi ?
Tuân thủ theo những điều lệ cập nhật của tiểu bang, được ban hành bởi Bộ y tế California và Thống đốc tiểu bang California Gavin Newsom, Quỹ cộng đồng Garden Grove (Garden Grove Community Foundation) quyết định huỷ bỏ những buổi nghe nhạc ngoài trời miễn phí năm nay, dự kiến diễn ra vào tháng Bảy và tháng Tám, 2020.
Phần lớn nhân loại đều chưa đến Rome, và chắc cũng chả mấy ai rành rẽ về phong tục tập quán của xứ sở này. Tuy thế, nếu có dịp bước chân tới đây thì chắc tất cả chúng ta đều sẽ nhớ đến lời dậy của cổ nhân (“nhập gia tùy tục/đáo giang tùy khúc”) để ứng xử thích nghi, và hoà nhã với dân bản xứ.
Mùa hè, bà con mình tại hải ngoại thường có thói quen hay tổ chức nướng thịt ngoài trời, ngoài sân để ăn nhậu vui vẻ với gia đình hoặc với bạn bè. Tây Mỹ gọi là tiệc Barbecue hay BBQ. Ngộ độc thực phẩm đôi khi cũng có thể xảy ra sau buổi tiệc. Nhẹ thì ói mửa, đau bụng, bị tào tháo rượt chạy có cờ, còn nặng thì tiêu chảy có máu, có thể kéo theo suy thận sau đó và nếu trị không kịp và không đúng cách thì sẽ đi luôn. Khoa học gọi đây là bệnh Hamburger.
Vào lúc 6 giờ chiều ngày 12/07/2020, Linh mục Giuse Phạm Văn Diệm, Dòng Thánh Vinh Sơn, đã chủ tế thánh lễ tạ ơn và làm phép tượng đài Thánh Vinh Sơn cho gia đình anh Nguyễn Duy Đoan -- là Ca Đoàn Trưởng Nghĩa Sinh Chicago trong hơn 25 năm qua (1993-2020). Ban Thánh ca Nghĩa Sinh đảm trách phụng vụ thánh nhạc trong các thánh lễ nhân Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving thường niên tại Hoa Kỳ.
yêu cầu nhà cầm quyền CSVN chấm dứt đàn áp giới bất đồng chính kiến, trả tự do cho tù nhân lương tâm, và thực hiện cam kết quốc tế về nhân quyền
Cố vấn về vi khuẩn corona của Bạch Ốc là Bác Sĩ Anthony Fauci cho biết rằng Hoa Kỳ đang chứng kiến sự gia tăng trong việc truyền nhiễm Covid-19 bởi vì cả nước chưa bao giờ đóng cửa hoàn toàn. Vào đầu đại dịch, các trưởng hợp bị lây vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ lên cao điểm khoảng 30,000 trường hợp mới một ngày trước khi giảm xuống và ổn định vào khoảng 20,000 trường hợp mới một ngày, theo tài liệu được biên soạn bởi Đại Học Johns Hopkins cho biết. Trong khi một số tiểu bang đã bắt đầu tái mở cửa vào cuối tháng 4 cho đến tháng 6, các trường hợp mới đã bắt đầu gia tăng, theo Fauci nói với Trưởng Khoa Y Khoa tại Đại Học Stanford là Bác Sĩ Lloyd Minor trong cuộc phỏng vấn. “Chúng ta đã không đóng cửa hoàn toàn,” Fauci, giám đốc Viện Chuyên Về Các Bệnh Dị Ứng và Truyền Nhiễm Quốc Gia, cho biết. “Chúng ta cần trở lại một vài yards và nói rằng, “Được rồi, chúng ta không thể đóng cửa vĩnh viễn.’ … Bạn phải đóng cửa nhưng rồi bạn đã từ từ mở cửa.”
2 học khu lớn nhất của California hôm Thứ Hai, 13 tháng 7 năm 2020, đã tuyên bố rằng họ sẽ không mở cửa các cơ sở học đưởng cho học sinh trong mùa thu nhưng sẽ mở các lớp học trên mạng. Trong một lá thư gửi tới các bậc phụ huynh, Giám Đốc Học Khu Los Angeles Austin Beutner nói rằng học khu lớn thứ hai trên toàn quốc đã quyết định sẽ mở các lớp học trên mạng vì sự gia tăng các trường hợp lây nhiễm vi khuẩn corona.
Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo hôm Thứ Hai, 13 tháng 7 năm 2020 đã tuyên bố bác bỏ chính thức “hầu hết” các tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc tại Biển Đông, là hành động leo thang mới nhất giữa Washington và Bắc Kinh, theo bản tin của CNN cho biết. Mô tả hành động như là “việc làm mạnh chính sách của Hoa Kỳ,” người lãnh đạo ngành ngoại giao Hoa Kỳ khẳng quyết rằng “Tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với các nguồn tài nguyên ngoài biển hầu khắp Biển Đông là hoàn toàn bất hợp pháp, vì là chiến dịch bắt nạt để kiểm soát của họ.” “Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh đối xử với Biển Đông như đế quốc biển của họ. Mỹ đứng cùng lập trường với các đồng minh và đối tác Đông Nam Á trong việc bảo vệ quyền chủ quyền của họ đối với các nguồn tài nguyên biển, phù hợp với các quyền và trách nhiệm của họ theo luật quốc tế,” theo ông Pompeo cho biết trong một tuyên bố dài.
Bộ Trưởng Tư Pháp tại 17 tiểu bang và Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn đã lập hồ sơ kiện chính phủ Trump vì hướng dẫn của chính phủ này sẽ không cho phép các sinh viên ngoại quốc lấy lớp học trên mạng trong mùa thu này, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Hai, 13 tháng 7 năm 2020. Nỗ lực của nhiều tiểu bang, đã nạp hồ sơ tại Tòa Địa Hạt Hoa Kỳ tại Massachusetts hôm Thứ Hai chống lại Bộ Nội An và Cơ Quan Di Trú và Quan Thuế, cũng tìm cách ngăn chận chính sách sẽ có hiệu lực trong khi vụ kiện đang được quyết định. Hồ sơ kiện hôm Thứ Hai, phần lớn là nỗ lực của Đảng Dân Chủ, được dẫn đầu bởi Bộ Trưởng Tư Pháp Massachusetts Maura Healey.
Thống Đốc California Gavin Newsom đã đưa ra lệnh ‘Hãy Ở Trong Nhà’ mới hôm Thứ Hai, 13 tháng 7 năm 2020 và cũng kêu gọi lập tức đóng cửa thêm các hoạt động bên trong tại những cơ sở kinh doanh cho các quận nằm trong danh sách theo dõi của California gồm các trung tâm thể dục thể hình (fitness centers), những nơi thờ phượng tôn giáo, các tiệm hair salons và tiệm hớt tóc. Lệnh này ảnh hưởng 80% dân số của California, theo bản tin của Đài FoxLA cho biết hôm Thứ Hai. Theo lệnh mới của ông Newsom, 30 trong số 58 quận của California nằm trong danh sách giám sát của tiểu bang phải đóng cửa hầu hết các hoạt động bên trong tại những cơ sở kinh doanh sau đây: • Fitness centers (trung tâm thể dục thể hình) • Worship centers (những nơi thờ phượng tôn giáo) • Officers for non-critical sectors (các văn phòng thuộc lãnh vực không quan trọng) • Personal care services (các dịch vụ chăm sóc cá nhân) • Hair salons and barbershops (hair salons và tiệm hớt tóc) • Malls (các khu thương
Đây là một chứng rối loạn nhân cách rất phức tạp để chỉ những người có vấn đề về hình ảnh của chính họ Ngày nay, những nười mang chứng ái kỷ lệch lạc có mặt mọi khắp mọi nơi. Họ ghét cay ghét đắng cái hình ảnh tồi tàn mà họ đang có. Để tồn tại họ tìm cách chuyển nó qua người khác. Họ có thể là một người bạn, một đồng nghiệp trong sở, một người trong đoàn thể, hội ái hữu, một người trong gia đình, là chồng hay vợ của chính bạn. Đặc tính chung: Để che lấp cái tồi tàn của chính bản thân, họ có khuynh hướng hạ thấp người khác xuống, áp đặt, sai khiến, bóp nắn người ta theo như ý họ.
Tổng thống Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier đã cảnh báo China (Trung Cộng) rằng luật an ninh đối với Hồng Kông sẽ gây căng thẳng lâu dài cho mối quan hệ với châu Âu. Chính phủ ở Bắc Kinh phải được nói rõ rằng nếu luật an ninh gây tranh cãi vẫn được duy trì, "tình trạng phẫn nộ hiện tại" sẽ không còn, Steinmeier nói hôm Chủ nhật trong "Phỏng vấn mùa hè" của đài ZDF. Thay vào đó, sẽ có "một sự thay đổi tiêu cực bền vững" trong quan hệ của China với châu Âu và các nước phương Tây khác.
Tiểu bang Florida đạt kỷ lục quốc gia mới về sự gia tăng lây lan vi khuẩn corona hàng ngày lớn nhất tại Hao Kỳ hôm Chủ Nhật, 12 tháng 7 năm 2020, trong khi các trường hợp truyền nhiễm tiếp tục lên cao điểm trên khắp thế giới, theo bản tin của Fox News cho biết. Tiểu bang Florida có thêm ít nhất 15,299 trường hợp Covid-19, với tổng số trường hợp bị lây bệnh trong tiểu bang lên tới 169,811, và thêm 45 người thiệt mạng, theo các thống kê của Bộ Y Tế tiểu bang cho biết. California đã đạt kỷ lục trước đó về số trường hợp dương tính mỗi ngày – 11,694, hôm Thứ Tư. New Yor có 11,571 hôm 15 tháng 4. Florida đã có tuần lễ phá kỷ lục đưa tới số trường hợp tăng cao nhất từ trước tới nay. Tiểu bang này báo cáo 514 tử vong vào tuần trước, trung bình 73 người chết mỗi ngày. 3 tuần trước, trung bình 30 tử vong mỗi ngày.
Bộ Trưởng Giáo Dục Hoa Kỳ Betsy DeVos hôm Chủ Nhật, 12 tháng 7 năm 2020 nói rằng bà quyết tâm mở cửa trường học Mỹ cho các lớp học có học sinh tham dự trực tiếp vào mùa thu này, và nhấn mạnh rằng điều này có thể thực hiện một cách an toàn dủ nhiều quan ngại về đại dịch vi khuẩn corona, theo bản tin Fox News cho biết. “Các bậc phụ huynh mong rằng vào mùa thu này con em của họ sẽ có toàn thời gian để học tập, và chúng ta cần thực hiện lời cam kết đó,” theo DeVos nói với “Fox News Sunday,” nhấn mạnh rằng “trẻ em không thể chịu được việc tiếp tục không học tập.” DeVos nói đó “không phải là vấn đề nên hay không” điều này xảy ra, mà “vấn đề là làm sao.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.