Hôm nay,  

Nâng ly trà, ngộ Phật Tánh

18/03/202611:48:00(Xem: 2174)
blank 

Nâng ly trà, ngộ Phật Tánh
  

Nguyên Giác

Trong các truyện nhà Thiền, chúng ta vẫn nghe ngài Triệu Châu ưa trả lời những câu hỏi về Phật Tánh bằng cách không trả lời, hay có khi chỉ vào gốc cây ngoài sân cho chúng ta ngó nếu người hỏi đang đứng ngoài sân, hay có khi nói rằng hãy uống trà đi nếu người hỏi đang ngồi bên bàn với các ly trà. Làm cách nào chúng ta có thể nâng ly trà lên mà nhận ra Phật Tánh?

Dĩ nhiên, không hề có chuyện Tánh Phật ẩn giấu trong lá trà, nước trà, hương trà, vị trà.... Câu chuyện như dường đầy bí ẩn. Thực ra thì không bí ẩn, nếu chúng ta lúc đó trực ngộ rằng Phật Tánh không hề lìa xa thân tâm mình, không hề cụ thể ở ngoải hay ở trong thân tâm mình, nhưng là một toàn thể một thế giới (và đừng gọi là trong/ngoài, đừng gọi là có/không) vẫn không ngừng hiển lộ với chúng ta.

Phật Tánh hiển lộ khi bạn đối diện với ngài Triệu Châu và nghe được rằng ngài đang trả lời bằng sự tịch lặng. Phật Tánh hiển lộ khi bạn nhìn thấy gốc cây mà ngón tay ngài Triệu Châu chỉ vào. Phật Tánh hiển lộ khi bạn nâng ly trà lên theo lời ngài. Phật Tánh là cái hiển lộ khi bạn nghe được sự tịch lặng, thấy được gốc cây, và cử động nâng ly trà lên uống. Nó hiển lộ nơi cái khoảnh khắc của ở đây và bây giờ. Nó là cái hiển lộ ở thấy, nghe và toàn thể thân tâm bạn.

Trong Thiền sử Việt Nam, có Thiền sư Thích Phước Hậu (1866 - 1949). Thầy để lại một bài thơ bốn dòng, có thể xem như cẩm nang nhà Thiền:
 

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Đến nay tính lại đà quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.
 

Chỗ này rất đơn giản, rằng bất kỳ ai sống được với tâm như thị, thì ngay khi đó là thọ nhận thế giới này rằng nó như thế là như thế. Khi thấy hoa nở hay hoa tàn mà vẫn thấy các pháp như thế là như thế, Thiền sư không bao giờ bực bội rằng vì sao hoa nở trễ, hay vì sao hoa tàn sớm. Khi nghe chim kêu buổi sớm, Thiền sư sẽ thấy các pháp như thế là như thế, không bao giờ say mê để hôm sau phải thức sớm chờ nghe, hay bực dọc vì sao chim kêu làm sư phân tâm trong giờ tụng kinh. Và tương tự với tất cả những gì nhà sư ngửi, nếm, cảm thọ, tư lường. Nghĩa là, mắt tai mũi lưỡi thân ý khi sống với Như thị, tham sân si sẽ đoạn tận, cảnh giới Niết bàn hiển lộ.

Như thế, Thiền Tông lý luận rằng không cần gì mài giũa tâm Như thị, vì nó như thị thì cứ để như thị. Nhiều luận sư gọi tâm đó là Bản tâm, hay là Phật Tánh. Ngôn ngữ dễ làm chúng ta lạc lối, bởi vì chúng ta vẫn có thể gọi cảnh giới xa lìa tham sân si đó của tâm là ABC hay XYZ. Xin nhớ rằng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng chỉ là ngón tay chỉ trăng, cũng chỉ là bè pháp phương tiện, vì không có ngôn ngữ thì không nói ra được, không viết ra được. Nhưng khi bạn sống với Tâm như thị, bạn sẽ thấy ngôn ngữ biến mất, chiếc bè pháp văn tự bấy giờ phải tịch lặng.

 

Kinh AN 1.31-40 trong bản dịch của Thầy Minh Châu viết về tâm này là, trích: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào. (1)

Đoạn Kinh vừa dẫn được Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận định rằng Kinh chỉ vào Phật Tánh. Nhà sư Sujato của Theravada Úc châu, người đã dịch hầu hết các bộ Kinh Nikaya, nhận định rằng Đức Phật không có ý nói là Phật Tánh, mà đoạn kinh vừa dẫn là chỉ cho tâm của người đã tu tập, có hành thiền, và rũ được bụi.

Trong khi đó, nhà sư Thanissaro, cũng là một vị dịch hầu hết Kinh Nikaya, xuất thân từ Theravada Thái Lan, nói lưng chừng, không nói là Phật Tánh, nhưng nói là có một phẩm chất có sẵn của tâm, và rồi ngài có lúc gọi đó là "thức không đặc tướng" (consciousness without feature) khi sư dịch Kinh DN 11, mà “Thức này vô tướng, vô biên, chiếu sáng khắp nơi. Nơi đây, nước, đất, lửa, gió không có chân đứng. Nơi đây, cũng không hề có dài & ngắn, tế & thô, đẹp & xấu; Nơi đây danh và sắc diệt tận hoàn toàn. Với hành của thức tịch diệt, tất cả nơi đây đều đoạn tận.” (2)
 

Trong một Kinh khác, có một pháp vô sanh trong từng người chúng ta, nó vẫn hiển lộ mọi thời, hiển lộ ngay nơi khi chúng ta đi đứng nằm ngồi mà nếu tâm chúng ta không bị vướng vào các cảnh của quá khứ, hiện tại, vị lai, thì đó là lúc chúng ta thọ dụng Niết Bàn, và đó là cảnh giới được Đức Phật mô tả trong Kinh Ud 3.8:

Chư tăng, có một cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi. Chư tăng, nếu không có cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi đó, quý vị sẽ không có thể thoát ra khỏi cái được sanh, cái được hình thành, cái được tạo tác và là cái hữu vi. Nhưng vì có cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi, nên quý vị biết có một lối thoát ra khỏi cái được sanh, cái được hình thành, cái được tạo tác và là cái hữu vi.(3)
 

Trong bài Công Án Của Phật Thích Ca Và Tổ Đạt Ma, do ngài Thích Duy Lực dịch từ Hán sang Việt, có đoạn đối thoại giữa vua Dị Kiến (cháu của Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma) và nhà sư Ba La Đề (học trò của Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma), nói về Tánh Phật, xin trích như sau.
 

(Trích)

Vua Dị Kiến hỏi: Thế nào là Phật?

Đề đáp: Kiến tánh là Phật.

Vua hỏi: Sư kiến tánh chăng?

Đề đáp: Ta kiến Phật tánh.

Vua hỏi: Tánh ở chỗ nào?

Đề đáp: Tánh ở nơi tác dụng.

Vua hỏi: Là tác dụng gì, nay ta chẳng thấy?

Đề đáp: Hiện đang tác dụng, vua tự chẳng thấy.

Vua hỏi: Nơi ta có chăng?

Đề đáp: Vua nếu tác dụng thì thể cũng khó thấy.

Vua hỏi: Nếu khi đang dụng có mấy chỗ xuất hiện?

Đề đáp: Nếu xuất hiện sẽ có tám chỗ.

Vua nói: Tám chỗ xuất hiện nào nói cho ta nghe.

Ba La Đề liền thuyết kệ rằng:

Nơi thai là thân

Ra đời là người

Nơi mắt là thấy

Nơi ta là nghe

Nơi mũi là ngửi

Ở miệng đàm luận

Ở tay cầm lấy

Ở chân đi đứng

Hiện khắp bao gồm hằng sa thế giới

Thu nhiếp lại ở trong hạt bụi nhỏ

Kẻ nhận được, biết là Phật tánh

Kẻ chẳng biết gọi là linh hồn.

Vua nghe kệ xong tâm liền khai ngộ, sám hối tạ lỗi nhìn nhận trước kia làm sai. Rồi vua hỏi: Sư nối pháp ai?

Đề đáp: Bồ Đề Đạt Ma, tức là chú của Đại Vương.”

(Hết trích) (4)

Tới đây, câu hỏi nêu lên rằng, làm cách nào ngộ ra Tánh Phật. Cách đơn giản nhất là sống tỉnh thức, xa lìa ngôn ngữ, ngay khi đó, bạn sẽ không tới với thế giới qua chiếc cầu ngôn ngữ nữa.  Đức Phật dạy từ xa xưa rồi, không gì bí ẩn. Chính khi bạn giữ tịch lặng (Chỉ) và tỉnh thức (Quán) thì bạn trực tiếp tắm gội với thế giới chung quanh mà không bị rối tâm. Thiền sự Huyền Giác gọi đó là thái độ của: "tỉnh tỉnh lặng lặng" -- dĩ nhiên, bạn có thể gọi là một tiếp cận tỉnh thức vô ngôn, hay bất kỳ chữ nào khác.

Thầy Thích Nhất Hạnh có bài viết "Cắt đứt con đường ngôn ngữ" ghi về chuyện tham vấn của người xưa. Chúng ta trích như sau:
 

(Trích)

“Vị thiền sinh chắp tay hỏi: - Con chó có Phật tánh không?

Vị Thiền sư nói: - Uống trà đi.

Sau đó có một vị thiền sinh khác đến tham vấn.

Vị này chắp tay hỏi: - Bạch Thầy, như vậy là con chó không có Phật tánh, phải không?

Vị Thiền sư nói: - Uống trà đi.

Sau khi vị thiền sinh thứ hai này đi rồi, vị thị giả của thiền sư chắp tay hỏi: - Bạch Thầy, tại sao vậy? Tại sao hỏi con chó có Phật tánh hay không thì Thầy nói uống trà đi. Và khi hỏi con chó không có Phật tánh phải không thì Thầy cũng nói uống trà đi. Như vậy nghĩa là sao? Xin Thầy cắt nghĩa cho con.

Vị Thiền sư nhìn vị thị giả và nói: - Uống trà đi.” (Hết trích) (5)
 

Những người hỏi rằng con chó có Phật Tánh hay không có Phật Tánh đều nghĩ rằng qua ngôn ngữ lý giải, họ có thể được Thiền sư giải thích bằng lý luận rằng Phật Tánh sẽ là ABC hay XYZ gì đó. Vị thị giả cũng thắc mắc, tại sao trong mọi trường hợp, vị Thiền sư chỉ trả lời rằng hãy "uống trà đi"... Trong cả ba trường hợp, người hỏi đều vin vào lời, đều dựa vào chữ, hy vọng rằng sẽ nghe một bí ẩn gì của kinh điển.

Nhưng Thiền sư chỉ trả lời bằng cách kéo người hỏi về thực tại hiện tiền trước mắt, rằng hãy nâng ly trà lên, rằng hãy uống trà đi. Vị Thiền sư khác có thể trả lời cách khác, dĩ nhiên. Thí dụ, hỏi ngược lại rằng ai lôi cái thây chết này tới đây để hỏi, hay sẽ hét một tiếng để người hỏi sẽ ngộ ra rằng ngay khi nghe tiếng hét thì trong cái nghe không vướng bận chữ nghĩa đó đã xa lìa tham sân si.

Nghĩa là: khi sống như thị với cái hiện tiền, trước mắt và bên tai, thì tâm đó hiển lộ, tâm đó xa lìa tham sân si. Hễ mở miệng hỏi là con vin vào bè pháp của chữ, ngay khi quăng bỏ bè pháp ngôn ngữ để sống với tỉnh thức vô ngôn, để tâm tỉnh tỉnh lặng lặng thì cảnh Phật hiện ra trước mắt và bên tai.

Dò theo kinh điển, sẽ thấy đó là một pháp được Đức Phật dạy trong Kinh Bahiya Sutta. Sau khi nghe Đức Phật dạy, ngài Bahiya tức khắc chứng quả A La Hán:
 

(Trích) “Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.

“Khi với ông, này Bahiya, trong cái được thấy chỉ là cái được thấy… [nhẫn tới]… trong cái được thức tri chỉ là cái được thức tri, thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘với đó.’ Này Bahiya, khi ông không là ‘với đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘trong đó.’ Này Bahiya, khi ông không ‘trong đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không ở nơi này, cũng không ở nơi kia, cũng không ở chặng giữa. Thế này, chỉ thế này, là đoạn tận khổ đau. (6)
 

Như thế cũng chính là bài thơ đã dẫn của ngài Thích Phước Hậu: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư / Học hành không thiếu cũng không dư / Đến nay tính lại đà quên hết / Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.

Đó cũng là tông chỉ Thiền. Đó là khi nâng ly trà, bạn sẽ ngộ Phật Tánh. Nhưng hễ mở miệng lý giải là hỏng. Hãy lặng lặng và tỉnh tỉnh, hãy nâng ly trà và uống, rồi bạn sẽ thấy mình đang thấy nghe ngửi nếm trong Niết bàn tâm. Nếu bạn nâng ly trà mà tâm còn chạy theo chữ nghĩa siêu hình, bạn sẽ mất ngàn dặm trọn thân tâm, vì đời sống này chỉ là một khoảnh khắc của cái hiện tiền tỉnh thức, nó ngay ở đây và bây giờ.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 1.31-40: https://suttacentral.net/an1.31-40/vi/minh_chau

(2) Thanissaro. Kinh DN 11: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/dn/dn.11.0.than.html  (Consciousness without feature, without end, luminous all around: Here water, earth, fire, & wind have no footing. Here long & short, coarse & fine, fair & foul, name & form are all brought to an end. With the cessation of [the activity of] consciousness, each is here brought to an end.)

(3) Kinh Udana 3.8: https://suttacentral.net/ud8.3/en/anandajoti

(4) Thích Duy Lực - Công Án Của Phật Thích Ca Và Tổ Đạt Ma:

https://thuvienhoasen.org/a7662/cong-an-cua-phat-thich-ca-va-to-dat-ma

(5) Thích Nhất Hạnh. Cắt đứt con đường ngôn ngữ:

https://thuvienhoasen.org/p33a21596/3/cat-dut-con-duong-ngon-ngu

(6) Kinh Bahiya: https://thuvienhoasen.org/a14273/bai-phap-khan-cap-bahiya-sutta

 

Viện Việt-Học, qua Câu-Lạc-Bộ Văn-Nghệ VVH, trân-trọng giới thiệu chương-trình ca nhạc thính-phòng tháng Tám với chủ-đề Tình Yêu và Huyền Thoại do Nhóm Hát Quỳnh Hoa - Nối Vòng Yêu Thương thực hiện. ..
Triết gia Phật Giáo Thế Thân, (thế kỷ thứ 4 tới thứ 5 sau Tây Lịch) là ánh sáng vĩ đại trong thời cực thịnh của đế quốc Gupta huy hoàng của Ấn Độ.[1] Các tác phẩm của ngài cho thấy sự quán triệt của ngài đối với Phật Giáo cũng như các tư tưởng không Phật Giáo thời đó, và ngài viết tác phẩm, một cách thành công, dựa trên 3 truyền thống học thuật Phật Giáo mà theo truyền thống được xem như là khác biệt: Tỳ-bà-sa Bộ (Vaibhàsìka), Kinh Lượng Bộ (Sautràntika), và Du-già-hành Tông (Yogàcàra – Duy Thức Tông).
Thay mặt ban tổ chức và chư Tôn Giáo Thọ cùng phật tử Chùa Duy Pháp, chúng tôi kính mong quí đồng hương phật tử, phát tâm ghi danh tham dự khoá tu, trong 3 ngày. Ngày 27-28-29 Tháng 8 Năm 2022. Hội Trường địa chỉ: 14582 Beach Blvd. Midway City, CA 92655
Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi đang tới châu Á để tham quan khu vực này sau khi hạ cánh xuống Hawaii, nơi bà đã đến thăm Đài tưởng niệm Trân Châu Cảng và chiến hạm USS Arizona. Tuy nhiên, bà không đề cập đến Đài Loan, nơi có tin trước đây rằng bà có thể ghé thăm. Bà Pelosi vào đầu ngày Chủ nhật cho biết bà đang dẫn một phái đoàn quốc hội đến Singapore, Malaysia, Nam Hàn và Nhật Bản.
Tháng bảy khép lại theo tuần hoàn của thời gian và không gian, chỉ nắng nóng mùa hè là chưa thay đồi, vẫn hơn trăm độ F từng ngày làm đời sống vốn khó thêm khổ cho người lao động. Tan hãng, mở máy lạnh trong xe hết mức vẫn không thấy giảm được cái nóng trong xe như thiêu đốt. Nhưng nhìn những người Mễ đang làm công việc sửa đường dưới cái nắng gay gắt thấy chạnh lòng. Hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, chỉ cầu mong ơn trên thương xót họ, và tạ ơn trên về phần mình. Tuy việc làm có nhiều điều không ưng vì công việc không đúng sở thích nhưng dù sao cũng làm việc nhẹ nhàng trong điều kiện có máy điều hoà không khí, lương bổng và quyền lợi không cao nhưng đủ sống, đủ trả tiền nhà, điện, nước để có một chỗ về sau ngày làm việc…
Thái độ quyết liệt và sự lựa chọn can trường của Lê Anh Hùng, cũng như của những tù nhân lương tâm đồng hành, khiến cho vợ con cùng thân nhân của họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi và phiền toái. Nhưng nếu không có sự hy sinh cao cả như thế thì dân Việt biết trông vào đâu để vẫn còn có thể giữ được chút niềm tin về tương lai của dân tộc, và đất nước này!
Đã có người trúng lô độc đắc Mega Millions trị giá hơn 1.3 tỷ đô đêm Thứ Sáu 29/7/2022. Ban đầu ước tính độc đắc là $1.28 tỷ đô, nhưng lượng vé số bán ra tăng vọt, nên độc đắc tới hơn 1.3 tỷ đô. Như thế, kỳ quay xổ số Mega Millions kế tiếp sẽ diễn ra vào thứ Ba và giải độc đắc sẽ là 20 triệu đô la.
một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, 2 tấm ảnh ghi lại hai cuộc gặp gỡ của họa sĩ Đinh Cường với bằng hữu vào năm 2012 vq2 2015, và 1 bức ảnh họa sĩ Trương Vũ đang vẽ tranh bên dòng Potomac (2016)
EUROPE Vào ngày thứ Sáu 29 tháng 7 năm 2022, Tây Ban Nha đã báo cáo cái chết đầu tiên được xác nhận do bệnh đậu mùa khỉ. Đây cũng là trường hợp tử vong đầu tiên ở châu Âu vì căn bệnh này, và là trường hợp thứ hai ngoài Châu Phi, trước đó cũng vào ngày thứ Sáu, Brazil cũng đã báo cáo một trường hợp tử vong, theo báo DN ngày 29 tháng 7 năm 2022, Thụy điển.
✱ US.ACMH: Hai nhà lãnh đạo tôn giáo Trí Quang và Tâm Châu đều lên tiếng chống tham nhũng, hoạt động kém hiệu quả của chính phủ,và sự tồn tại của chế độ lệ thuộc vào ảnh hưởng của Mỹ. ✱ Các tướng lĩnh TQLC Hoa Kỳ trong Quân đoàn I ca ngợi sự hợp tác của Thi và khen ngợi sự tận tâm của ông ta đối với công cuộc bình định. ✱ Các tướng lĩnh Nam Việt Nam đã thông báo ngắn gọn cho Lodge và Westmoreland trước cuộc hành quân và được họ chấp thuận. Westmoreland cung cấp máy bay không quân Hoa Kỳ chuyên chở quân đội chính phủ ✱ Westmoreland không muốn quân Mỹ can thiệp, Ông ra lệnh tạm thời di tản người Mỹ khỏi Huế và Đà Nẵng, cấm tất cả quân nhân Mỹ rời doanh trại, [và] ngừng tất cả các hoạt động cho đến khi tình hình lắng xuống. ✱ Với sự chấp thuận của Tướng Westmoreland, Walt với một đoàn xe của Lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã ngăn chặn lực lượng của Yêu tiến vào căn cứ không quân Mỹ và cử Đại tá Chaisson đứng ra đàm phán…
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình... Một cái nhìn viễn kiến về mối hiểm họa xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, của nhà Chính trị học lừng danh Samuel P. Huntington, do Bác sĩ Hồ Văn Hiền chuyển ngữ và chú thích. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong vấn đề về dầu mỏ Vs. môi trường cũng cho thấy tính dài hạn và ngắn hạn của các chính đảng Hoa Kỳ. Những vị dân cử chọn dầu mỏ xem nhẹ môi trường là khuynh hướng tầm nhìn ngắn hạn. Ngược lại những chính khách chọn bảo vệ môi trường và hạn chế dầu mỏ cho thấy tầm nhìn dài hạn trong chính sách.
Hồ Xuân Hương có một tập thơ tên gọi Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Năm 1863 đại thần triều đình Huế Trương Đăng Quế, trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của Mai Am nữ sĩ, tức Lại Đức công chúa, đã sánh Mai Am với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh tác giả tập thơ Chiến cổ đường. Hai người thơ hay nhất nước Nam. Theo tôi tập thơ này không phải là tập hợp những bài thơ truyền khẩu do Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại đến làng Nghi Tàm sao chép trước năm 1892, từ những sưu tập của hai người con Tử Minh tức Cả Tân,
Câu chuyện y hệt như cổ tích trong Thiền sử, nhưng là sự thật đã xảy ra tại California. Ba chị em gái cùng đi tìm thầy học Thiền, đi xa ngàn dặm, cùng xuất gia, cùng học một vị Thầy nổi tiếng, người đã từng rời Hoa Kỳ để sang Nhật Bản nhiều năm học Thiền. Rồi ba chị em về mở chùa ở San Diego, mười năm sau dọn về Quận Cam mở chùa, hoằng pháp Thiền Tông. Đó là ba vị Ni sư Chân Như, Chân Thiền và Châu Diệu. Thiền Viện Sùng Nghiêm hôm Chủ Nhật 17/7/2022 đã tổ chức Lễ Tri Ân tại Crystal Restaurant, 12100 Beach Blvd, Stanton, với nội dung: Ni sư Chân Thiền về hưu, và phát hành sách Kỷ Yếu Nén Tâm Hương của Thiền Viện Sùng Nghiêm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.