Hôm nay,  

Nâng ly trà, ngộ Phật Tánh

18/03/202611:48:00(Xem: 331)
blank 

Nâng ly trà, ngộ Phật Tánh
  

Nguyên Giác

Trong các truyện nhà Thiền, chúng ta vẫn nghe ngài Triệu Châu ưa trả lời những câu hỏi về Phật Tánh bằng cách không trả lời, hay có khi chỉ vào gốc cây ngoài sân cho chúng ta ngó nếu người hỏi đang đứng ngoài sân, hay có khi nói rằng hãy uống trà đi nếu người hỏi đang ngồi bên bàn với các ly trà. Làm cách nào chúng ta có thể nâng ly trà lên mà nhận ra Phật Tánh?

Dĩ nhiên, không hề có chuyện Tánh Phật ẩn giấu trong lá trà, nước trà, hương trà, vị trà.... Câu chuyện như dường đầy bí ẩn. Thực ra thì không bí ẩn, nếu chúng ta lúc đó trực ngộ rằng Phật Tánh không hề lìa xa thân tâm mình, không hề cụ thể ở ngoải hay ở trong thân tâm mình, nhưng là một toàn thể một thế giới (và đừng gọi là trong/ngoài, đừng gọi là có/không) vẫn không ngừng hiển lộ với chúng ta.

Phật Tánh hiển lộ khi bạn đối diện với ngài Triệu Châu và nghe được rằng ngài đang trả lời bằng sự tịch lặng. Phật Tánh hiển lộ khi bạn nhìn thấy gốc cây mà ngón tay ngài Triệu Châu chỉ vào. Phật Tánh hiển lộ khi bạn nâng ly trà lên theo lời ngài. Phật Tánh là cái hiển lộ khi bạn nghe được sự tịch lặng, thấy được gốc cây, và cử động nâng ly trà lên uống. Nó hiển lộ nơi cái khoảnh khắc của ở đây và bây giờ. Nó là cái hiển lộ ở thấy, nghe và toàn thể thân tâm bạn.

Trong Thiền sử Việt Nam, có Thiền sư Thích Phước Hậu (1866 - 1949). Thầy để lại một bài thơ bốn dòng, có thể xem như cẩm nang nhà Thiền:
 

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Đến nay tính lại đà quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.
 

Chỗ này rất đơn giản, rằng bất kỳ ai sống được với tâm như thị, thì ngay khi đó là thọ nhận thế giới này rằng nó như thế là như thế. Khi thấy hoa nở hay hoa tàn mà vẫn thấy các pháp như thế là như thế, Thiền sư không bao giờ bực bội rằng vì sao hoa nở trễ, hay vì sao hoa tàn sớm. Khi nghe chim kêu buổi sớm, Thiền sư sẽ thấy các pháp như thế là như thế, không bao giờ say mê để hôm sau phải thức sớm chờ nghe, hay bực dọc vì sao chim kêu làm sư phân tâm trong giờ tụng kinh. Và tương tự với tất cả những gì nhà sư ngửi, nếm, cảm thọ, tư lường. Nghĩa là, mắt tai mũi lưỡi thân ý khi sống với Như thị, tham sân si sẽ đoạn tận, cảnh giới Niết bàn hiển lộ.

Như thế, Thiền Tông lý luận rằng không cần gì mài giũa tâm Như thị, vì nó như thị thì cứ để như thị. Nhiều luận sư gọi tâm đó là Bản tâm, hay là Phật Tánh. Ngôn ngữ dễ làm chúng ta lạc lối, bởi vì chúng ta vẫn có thể gọi cảnh giới xa lìa tham sân si đó của tâm là ABC hay XYZ. Xin nhớ rằng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng chỉ là ngón tay chỉ trăng, cũng chỉ là bè pháp phương tiện, vì không có ngôn ngữ thì không nói ra được, không viết ra được. Nhưng khi bạn sống với Tâm như thị, bạn sẽ thấy ngôn ngữ biến mất, chiếc bè pháp văn tự bấy giờ phải tịch lặng.

 

Kinh AN 1.31-40 trong bản dịch của Thầy Minh Châu viết về tâm này là, trích: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào. (1)

Đoạn Kinh vừa dẫn được Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận định rằng Kinh chỉ vào Phật Tánh. Nhà sư Sujato của Theravada Úc châu, người đã dịch hầu hết các bộ Kinh Nikaya, nhận định rằng Đức Phật không có ý nói là Phật Tánh, mà đoạn kinh vừa dẫn là chỉ cho tâm của người đã tu tập, có hành thiền, và rũ được bụi.

Trong khi đó, nhà sư Thanissaro, cũng là một vị dịch hầu hết Kinh Nikaya, xuất thân từ Theravada Thái Lan, nói lưng chừng, không nói là Phật Tánh, nhưng nói là có một phẩm chất có sẵn của tâm, và rồi ngài có lúc gọi đó là "thức không đặc tướng" (consciousness without feature) khi sư dịch Kinh DN 11, mà “Thức này vô tướng, vô biên, chiếu sáng khắp nơi. Nơi đây, nước, đất, lửa, gió không có chân đứng. Nơi đây, cũng không hề có dài & ngắn, tế & thô, đẹp & xấu; Nơi đây danh và sắc diệt tận hoàn toàn. Với hành của thức tịch diệt, tất cả nơi đây đều đoạn tận.” (2)
 

Trong một Kinh khác, có một pháp vô sanh trong từng người chúng ta, nó vẫn hiển lộ mọi thời, hiển lộ ngay nơi khi chúng ta đi đứng nằm ngồi mà nếu tâm chúng ta không bị vướng vào các cảnh của quá khứ, hiện tại, vị lai, thì đó là lúc chúng ta thọ dụng Niết Bàn, và đó là cảnh giới được Đức Phật mô tả trong Kinh Ud 3.8:

Chư tăng, có một cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi. Chư tăng, nếu không có cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi đó, quý vị sẽ không có thể thoát ra khỏi cái được sanh, cái được hình thành, cái được tạo tác và là cái hữu vi. Nhưng vì có cái không sanh, không hình thành, không tạo tác ra, không phải hữu vi, nên quý vị biết có một lối thoát ra khỏi cái được sanh, cái được hình thành, cái được tạo tác và là cái hữu vi.(3)
 

Trong bài Công Án Của Phật Thích Ca Và Tổ Đạt Ma, do ngài Thích Duy Lực dịch từ Hán sang Việt, có đoạn đối thoại giữa vua Dị Kiến (cháu của Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma) và nhà sư Ba La Đề (học trò của Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma), nói về Tánh Phật, xin trích như sau.
 

(Trích)

Vua Dị Kiến hỏi: Thế nào là Phật?

Đề đáp: Kiến tánh là Phật.

Vua hỏi: Sư kiến tánh chăng?

Đề đáp: Ta kiến Phật tánh.

Vua hỏi: Tánh ở chỗ nào?

Đề đáp: Tánh ở nơi tác dụng.

Vua hỏi: Là tác dụng gì, nay ta chẳng thấy?

Đề đáp: Hiện đang tác dụng, vua tự chẳng thấy.

Vua hỏi: Nơi ta có chăng?

Đề đáp: Vua nếu tác dụng thì thể cũng khó thấy.

Vua hỏi: Nếu khi đang dụng có mấy chỗ xuất hiện?

Đề đáp: Nếu xuất hiện sẽ có tám chỗ.

Vua nói: Tám chỗ xuất hiện nào nói cho ta nghe.

Ba La Đề liền thuyết kệ rằng:

Nơi thai là thân

Ra đời là người

Nơi mắt là thấy

Nơi ta là nghe

Nơi mũi là ngửi

Ở miệng đàm luận

Ở tay cầm lấy

Ở chân đi đứng

Hiện khắp bao gồm hằng sa thế giới

Thu nhiếp lại ở trong hạt bụi nhỏ

Kẻ nhận được, biết là Phật tánh

Kẻ chẳng biết gọi là linh hồn.

Vua nghe kệ xong tâm liền khai ngộ, sám hối tạ lỗi nhìn nhận trước kia làm sai. Rồi vua hỏi: Sư nối pháp ai?

Đề đáp: Bồ Đề Đạt Ma, tức là chú của Đại Vương.”

(Hết trích) (4)

Tới đây, câu hỏi nêu lên rằng, làm cách nào ngộ ra Tánh Phật. Cách đơn giản nhất là sống tỉnh thức, xa lìa ngôn ngữ, ngay khi đó, bạn sẽ không tới với thế giới qua chiếc cầu ngôn ngữ nữa.  Đức Phật dạy từ xa xưa rồi, không gì bí ẩn. Chính khi bạn giữ tịch lặng (Chỉ) và tỉnh thức (Quán) thì bạn trực tiếp tắm gội với thế giới chung quanh mà không bị rối tâm. Thiền sự Huyền Giác gọi đó là thái độ của: "tỉnh tỉnh lặng lặng" -- dĩ nhiên, bạn có thể gọi là một tiếp cận tỉnh thức vô ngôn, hay bất kỳ chữ nào khác.

Thầy Thích Nhất Hạnh có bài viết "Cắt đứt con đường ngôn ngữ" ghi về chuyện tham vấn của người xưa. Chúng ta trích như sau:
 

(Trích)

“Vị thiền sinh chắp tay hỏi: - Con chó có Phật tánh không?

Vị Thiền sư nói: - Uống trà đi.

Sau đó có một vị thiền sinh khác đến tham vấn.

Vị này chắp tay hỏi: - Bạch Thầy, như vậy là con chó không có Phật tánh, phải không?

Vị Thiền sư nói: - Uống trà đi.

Sau khi vị thiền sinh thứ hai này đi rồi, vị thị giả của thiền sư chắp tay hỏi: - Bạch Thầy, tại sao vậy? Tại sao hỏi con chó có Phật tánh hay không thì Thầy nói uống trà đi. Và khi hỏi con chó không có Phật tánh phải không thì Thầy cũng nói uống trà đi. Như vậy nghĩa là sao? Xin Thầy cắt nghĩa cho con.

Vị Thiền sư nhìn vị thị giả và nói: - Uống trà đi.” (Hết trích) (5)
 

Những người hỏi rằng con chó có Phật Tánh hay không có Phật Tánh đều nghĩ rằng qua ngôn ngữ lý giải, họ có thể được Thiền sư giải thích bằng lý luận rằng Phật Tánh sẽ là ABC hay XYZ gì đó. Vị thị giả cũng thắc mắc, tại sao trong mọi trường hợp, vị Thiền sư chỉ trả lời rằng hãy "uống trà đi"... Trong cả ba trường hợp, người hỏi đều vin vào lời, đều dựa vào chữ, hy vọng rằng sẽ nghe một bí ẩn gì của kinh điển.

Nhưng Thiền sư chỉ trả lời bằng cách kéo người hỏi về thực tại hiện tiền trước mắt, rằng hãy nâng ly trà lên, rằng hãy uống trà đi. Vị Thiền sư khác có thể trả lời cách khác, dĩ nhiên. Thí dụ, hỏi ngược lại rằng ai lôi cái thây chết này tới đây để hỏi, hay sẽ hét một tiếng để người hỏi sẽ ngộ ra rằng ngay khi nghe tiếng hét thì trong cái nghe không vướng bận chữ nghĩa đó đã xa lìa tham sân si.

Nghĩa là: khi sống như thị với cái hiện tiền, trước mắt và bên tai, thì tâm đó hiển lộ, tâm đó xa lìa tham sân si. Hễ mở miệng hỏi là con vin vào bè pháp của chữ, ngay khi quăng bỏ bè pháp ngôn ngữ để sống với tỉnh thức vô ngôn, để tâm tỉnh tỉnh lặng lặng thì cảnh Phật hiện ra trước mắt và bên tai.

Dò theo kinh điển, sẽ thấy đó là một pháp được Đức Phật dạy trong Kinh Bahiya Sutta. Sau khi nghe Đức Phật dạy, ngài Bahiya tức khắc chứng quả A La Hán:
 

(Trích) “Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.

“Khi với ông, này Bahiya, trong cái được thấy chỉ là cái được thấy… [nhẫn tới]… trong cái được thức tri chỉ là cái được thức tri, thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘với đó.’ Này Bahiya, khi ông không là ‘với đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘trong đó.’ Này Bahiya, khi ông không ‘trong đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không ở nơi này, cũng không ở nơi kia, cũng không ở chặng giữa. Thế này, chỉ thế này, là đoạn tận khổ đau. (6)
 

Như thế cũng chính là bài thơ đã dẫn của ngài Thích Phước Hậu: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư / Học hành không thiếu cũng không dư / Đến nay tính lại đà quên hết / Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.

Đó cũng là tông chỉ Thiền. Đó là khi nâng ly trà, bạn sẽ ngộ Phật Tánh. Nhưng hễ mở miệng lý giải là hỏng. Hãy lặng lặng và tỉnh tỉnh, hãy nâng ly trà và uống, rồi bạn sẽ thấy mình đang thấy nghe ngửi nếm trong Niết bàn tâm. Nếu bạn nâng ly trà mà tâm còn chạy theo chữ nghĩa siêu hình, bạn sẽ mất ngàn dặm trọn thân tâm, vì đời sống này chỉ là một khoảnh khắc của cái hiện tiền tỉnh thức, nó ngay ở đây và bây giờ.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 1.31-40: https://suttacentral.net/an1.31-40/vi/minh_chau

(2) Thanissaro. Kinh DN 11: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/dn/dn.11.0.than.html  (Consciousness without feature, without end, luminous all around: Here water, earth, fire, & wind have no footing. Here long & short, coarse & fine, fair & foul, name & form are all brought to an end. With the cessation of [the activity of] consciousness, each is here brought to an end.)

(3) Kinh Udana 3.8: https://suttacentral.net/ud8.3/en/anandajoti

(4) Thích Duy Lực - Công Án Của Phật Thích Ca Và Tổ Đạt Ma:

https://thuvienhoasen.org/a7662/cong-an-cua-phat-thich-ca-va-to-dat-ma

(5) Thích Nhất Hạnh. Cắt đứt con đường ngôn ngữ:

https://thuvienhoasen.org/p33a21596/3/cat-dut-con-duong-ngon-ngu

(6) Kinh Bahiya: https://thuvienhoasen.org/a14273/bai-phap-khan-cap-bahiya-sutta

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Nhân quyền là căn bản và là một thành tố quan trọng trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ,” Đại sứ Daniel Kritenbrink phát biểu trong buổi gặp gỡ người Việt vùng San Jose chiều thứ Ba 18/2 vừa qua.
Chúng tôi, một số Quân Nhân Tiểu Khu Pleiku và các Anh Chị Em Học Sinh Liên Trường Pleiku, hàng năm đứng ra tổ chức: LỄ TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CHẾT THẢM TRÊN TỈNH LỘ 7 NỐI LIỀN PLEIKU VÀ TUY HÒA
Thành phố Garden Grove, phối hợp cùng Học khu Garden Grove (GGUSD) mang đến cộng đồng sự kiện nghệ thuật ‘Art in the Park’ tổ chức năm thứ 2 vào Thứ Bảy, ngày 7 tháng Ba, 2020, từ 11:00 giờ đến 2:00 giờ trưa, trong khuôn viên Village Green park, tại địa chỉ 12732 Main Street.
Người Nhật Bản nói: “Một lời tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông – One kind word can warm three winter months.” Nghe xong, tôi (trộm) nghĩ thêm rằng: “Một hành động tử tế còn có thể làm ấm lòng người suốt cả cuộc đời!”
Vào sáng ngày Thứ Tư 19/02/2020, tại Coastline Community College (thành phố Garden Grove), Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam- ông Daniel J. Kritenbrink- đã có buổi gặp gỡ với cộng đồng Người Việt tại vùng Nam Cali. Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal (Địa Hạt CA-47)- đồng chủ tịch Ủy Ban Quốc Hội Về Việt Nam- là người đứng ra tổ chức sự kiện đặc biệt này, cùng với các Dân Biểu Liên Bang Lou Correa (CA-46), Harley Rouda (CA-48), và Katie Porter (CA-45).
Từ xa xưa người ta đã đề cao vai trò của người lãnh đạo cũng như làm việc chung với nhau. Cũng thế qua bao đời người Việt đúc rút kinh nghiệm ấy qua các câu ca dao tục ngữ: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; “Hợp quần gây sức mạnh”; “Một người lo bằng kho người làm”. Với tinh thần ấy quý thầy tiền chủng sinh giáo phận được thụ huấn khóa học “Lãnh đạo Phục vụ bằng Kỹ năng Làm việc Nhóm”, gọi tắt là khóa Kỹ năng Làm việc Nhóm.
Sau 41 năm thắng Trung Cộng xâm lược, Việt Nam đã học được gì với hậu qủa của 10 năm đẫm máu và tàn bạo (1979-1989) của cuộc chiến này? Không nhiều. Việt Nam Cộng sản vẫn chịu nhục để tồn tại bên cạnh những người phương Bắc mà họ gọi là “vừa là đồng chí vừa là anh em”.
Để miêu tả sự phụ thuộc của Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc, các nhà quan sát về tình trạng kinh tế của 2 quốc gia này, họ thường ví von: “Bắc Kinh đổ mưa-Hà Nội giăng ô”.
Đây là một đề tài vô cùng nhạy cảm, tế nhị thuộc vào loại cấm kỵ hàng đầu trong các vấn đề cấm kỵ tabou. Đó là vấn đề vợ bạo hành chồng hay “gà mái đá gà cồ”.
Trong lúc người dân còn nghèo khổ và dịch bệnh gây hoang mang cộng thêm với sự thất bại ê chề của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới và tượng Lenine đã bị đập bỏ, chính quyền tỉnh Nghệ An tại miền bắc VN lại bắt đầu dựng tượng Lenine, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 20 tháng 2.
Hôm Thứ Tư, ngày 19 tháng 2, Trung Quốc vẫn còn nằm trong khủng hoảng dịch bệnh corona, với số người chết trên toàn quốc đã đạt tới mốc ngoặc mới hơn 2,000 người.
Ít nhất 6 người bị thương nặng trong các vụ nổ súng tại 2 nơi ở thành phố Hanau của Đức vào chiều tối Thứ Tư, theo cảnh sát cho biết.
Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Tư, 19 tháng 2 lại viết Twitter cho rằng ông là “nạn nhân” của một âm mưu của Bộ Tư Pháp, nhiều giờ sau khi các báo cáo nói rằng người đứng đầu bộ tư pháp đã đe dọa bỏ việc nếu tổng thống cứ tiếp tục chỉ trích như thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.