Hôm nay,  

"Bond" Là Gì

01/08/202019:04:00(Xem: 6211)

Vừa bước vào xe để cô con Út đưa đi bác sĩ, ông Kiên vừa đùa:

-Dữ hôn! “May” mà Ba có hẹn với bác sĩ Ba mới được gặp con!

Út phải đáp nửa Tây nửa Ta, vì Út đến Hoa Kỳ từ khi còn bé:

-Ba cứ như vậy cho nên mấy anh chị không ai muốn gặp Ba.

-Trời đất! Ba làm gì mà mấy anh chị không muốn gặp Ba?

Vừa sang số xe, Út vừa đáp:

-Mỗi lần gặp Ba, Ba cứ “nag” như vậy ai mà muốn gặp!

-Con à! Ba vẫn có thể lái xe đi bác sĩ được. Nhưng vì dạo này Covid-19 “tung hoành” quá, con làm việc online chứ không phải vô sở – và cũng vì Ba muốn gặp “cô gái Út của Ba” – cho nên Ba mới nhờ con. Con đừng “cự nự” Ba!

-Con không “cự nự” Ba. Con chỉ nói rằng Ba không nên “nag” tụi con.

Im lặng. Không hiểu vì muốn “làm hòa” với con hay là vì lâu ngày không được nói tiếng Việt, ông Kiên lại gợi chuyện:

-Anh chị của con và mấy cháu khỏe không?

-Dạ khỏe.

-Lâu quá Ba không gặp được đứa nào cả.

Im lặng. Bất chợt, không hiểu tại sao ông Kiên lại liên tưởng đến cái chết cô đơn của bà Margaret Thatcher– một phụ nữ đầy uy quyền của nước Anh – ở khách sạn Ritz, tại Piccadilly, Anh quốc, năm 2013. Bà Thatcher chết tại khách sạn không phải vì bà du lịch, ở lại khách sạn rồi chết đột ngột mà chỉ vì bà không thể bước lên cầu thang trong dinh thự của bà, đành phải đến ở khách sạn của một người ái mộ bà để bà được chăm sóc hằng ngày. Ông Kiên hỏi:

-Út! Ba nhớ dường như lúc bà Thatcher chết, báo chí bàn tán về thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của hai người con của bà ấy đối với bà ấy. Đúng không, con?

-Con đâu có thì giờ để lưu tâm mấy chuyện đó. Ba hỏi để làm gì?

-Vì Ba nhớ dường như báo chí bảo hai người con của bà Thatcher bảo rằng giữa bà Thatcher và hai người con không có cái “bond”. Hai người con không có được những vòng tay ôm – “hug” – của Mẹ.

-Đúng rồi! Nếu bà Thatcher không có cái “bond” với con của bà ấy thì con của bà ấy lạnh nhạt với bà ấy là đúng!

Ông Kiên nghẹn lời! Cuộc đời của ông – một sĩ quan tác chiến – gắn liền với chiến trận nhiều hơn là thời gian về phép thăm vợ con. Sau 1975, ông lại bị cộng sản Việt Nam (csVN) cầm tù suốt thời gian dài thì làm thế nào ông có thể tạo được cái “bond” giữa các con và ông? Ông Kiên hỏi:

-“Bond” là cái gì mà khi không có “bond” thì tình Cha con, Mẹ con bị rạn nứt, Út?

-Không có “bond” không có nghĩa là tình Cha con, Mẹ con bị rạn nứt. Tiếng Việt của con “nghèo”. Nhưng con nghĩ chữ “bond” có thể tạm dịch là “khắn khít”.

Chợt nhớ đến Mẹ của Út –  vợ cũ của ông Kiên – ông Kiên hỏi:

-Nếu con nói như vậy thì trường hợp của Mẹ – người đã cực khổ, tảo tần nuôi các con ở kinh tế mới rồi đưa các con vượt biển sang đây – có được cái “bond” hay không? Nếu không có “bond” thì tại sao? Nếu có “bond” thì lý do nào Mẹ của con phải sống thui thủi một mình trong senior living sau khi thằng Niên bỏ đi? 

-Tại sao mỗi khi đề cập đến Mẹ thì Ba lại “lôi” chú Niên ra và Ba có vẻ cay đắng? Chú Niên là người tốt. Chú Niên bỏ đi – ngay sau khi Ba sang Mỹ theo diện HO – không phải chú hết thương Mẹ mà chỉ vì chú Niên muốn để Ba Mẹ sum họp. Nhưng Ba chỉ vì sĩ diện, không chấp nhận Mẹ. Ba biết Mẹ phải cơ cực như thế nào ở kinh tế mới khi Ba ở tù cộng sản và trên xứ Mỹ này để cho tụi con được như ngày hôm nay hay không? Ba tưởng, trên xứ Mỹ, một người đàn bà với năm đứa con dại, trong tay không có tiền, dễ sống lắm hay sao?

-Ba không cay đắng với thằng Niên mà Ba chỉ tiếc cho Mẹ của con. Thời điểm đó Mẹ con còn trẻ, đẹp, có học. Thà Mẹ lấy Mỹ, hay một người nào khá hơn một tý, Ba không trách. Đằng này…

-Chuyện tình cảm Ba không thể đo lường, cân, đong. Ba nói đúng! Mẹ có nhiều ưu điểm. Nhưng những ưu điểm của Mẹ kèm với năm đứa con thơ và sự nghèo khó thì không người đàn ông nào có trình độ tương xứng với Mẹ muốn “nhào” vô! 

-Chính phủ Mỹ có chương trình trợ giúp gia đình nghèo nuôi con mà.

-Lúc đó làm thế nào Mẹ biết được có chương trình food stamps and housing assistance? Vã lại, như Ba nói lúc nãy, Mẹ có học, tại sao Mẹ không tự đứng trên đôi chân của Mẹ mà Mẹ phải nhờ chính phủ Mỹ? Mẹ phải thể hiện tinh thần tự lập của Mẹ chứ!

-Có tinh thần tự lập thì tại sao phải lấy thằng Niên? Con biết gốc gác thằng Niên mà.

-Ba! Tụi con biết chú Niên là thuộc ấp của Ba. Nhưng người thuộc cấp đó, ngày trước từng lo cho Ba rất chu đáo, từng vui đùa với tụi con. Sau này gặp lại Mẹ và tụi con bơ vơ nơi xứ lạ, cũng chính người thuộc cấp đó giúp Mẹ lo cho tụi con. Nếu không có người thuộc cấp cũ của Ba thì chẳng có đứa con nào của Ba có thể theo học đại học được! Còn Mẹ, dù là một người nặng tinh thần tự lập, Mẹ cũng không thể kiêm luôn công việc của một  handyman! Mẹ không thể cả tuần phải làm hai việc rồi về nhà nấu cơm, đi chợ, cắt cỏ, sửa ống nước, thay bóng đèn, thông nhà cầu, thay dầu xe, rửa xe, v.v…

-Còn mấy thằng anh của con để làm gì?  

-Lúc đó tụi con còn nhỏ, Mẹ lại cứ ép tụi con phải học. Thấy chú Niên phụ giúp Mẹ tụi con mừng cho Mẹ. Sau khi xong trung học, mấy anh chị phải học nghề để phụ với Mẹ gửi tiền về Việt Nam giúp ông bà Nội – và nhờ các cô chú đi tăm nuôi Ba – giúp ông bà Ngoại; còn mấy đứa nhỏ như con thì phải đi học xa.

-Nếu con biết Mẹ của con cực khổ như vậy, tại sao các con không dành cho Mẹ nhiều tình thương?

-Ba! Tụi con để Mẹ – cũng như Ba – vô senior living cho được an toàn chứ không phải tụi con không thương Ba Mẹ.

-Lúc nãy con nói Mẹ có tinh thần tự lập tại sao không đứng trên đôi chân của Mẹ. Bây giờ Ba hỏi con: Mẹ tảo tần nuôi các con khôn lớn, tại sao bây giờ các con chối từ bổn phận của các con để đưa Mẹ vô senior living do chính phủ trợ giúp?

-Ba! Senior living là một nơi đầy đủ tiện nghi để cho người lớn tuổi sống một cách thoải mái, tự do chứ senior living không phải là nhà tù! Lý do chính phủ trả giúp phần nào là vì tiền hưu của Ba Mẹ không đủ trả. Đó là luật. Số tiền chính phủ trả giúp phần nào cho Ba Mẹ ở senior living có thể đến từ tiền thuế của tụi con. 

-Lúc nãy con vừa tỏ ý tán đồng về việc hồi trước Mẹ không xin trợ cấp của chính phủ; bây giờ con lại bảo chính phủ trợ cấp một phần tài chính cho Ba Mẹ sống trong senior living là luật. Như thế con có tự mâu thuẫn hay không?

-Con không tự mâu thuẫn. Ngày Mẹ và tụi con mới đến Mỹ, chưa ai trong gia đình đóng thuế income tax cho cơ quan IRS – Internal Revenue Service. Bây giờ Ba biết mỗi năm vợ chồng con phải đóng bao nhiêu tiền thuế cho IRS hay không?

-Nếu con lý luận senior living là một nơi cung cấp nhiều tiện nghi cần thiết chứ không phải là nhà tù thì con hãy nhớ lại, ngày Ba đi tù, csVN tịch thu nhà, đuổi Mẹ và các con đi kinh tế mới. Lúc đó Mẹ khổ như thế nào mà Mẹ cũng không nỡ đem các con giao cho viện mồ côi – nơi cung cấp cho trẻ em cuộc sống khá hơn nhiều so với cuộc sống ở kinh tế mới – Con nghĩ đi?

-Con nghĩ, lúc ở kinh tế mới, giữa Mẹ và tụi con đã có cái bond ràng buộc.

-Thế thì lý do nào cái bond đó rã ra? 

- Cái bond giữa Mẹ và tụi con rã ra vì: Thời gian ở kinh tế mới, dù không quen cuộc sống cơ hàn, đói khát nhưng Mẹ vẫn phải mót lúa, mót khoai, buôn đầu nọ bán đầu kia, bỏ tụi con ở nhà suốt ngày. Sang Mỹ – trước khi gặp lại chú Niên – Mẹ làm hai việc. Năm giờ sáng Mẹ phải thức dậy nấu cơm, làm đồ ăn sẵn cho tụi con rồi Mẹ đi làm đến một giờ đêm Mẹ mới về! Tụi con không gặp được Mẹ, không nhận được cái “hug” nào của Mẹ.

-Người Á Đông mình, khi con còn bé thì Cha Mẹ hôn và bồng, bế; nhưng khi con lớn, Cha Mẹ không “hug” con như người Âu Mỹ.

-Con hiểu. Nhưng, cái mà tụi con không hiểu được là tại sao mỗi khi tụi con phạm lỗi gì thì Mẹ đánh tụi con không nương tay, mắng nhiết tụi con không tiếc lời? Những lúc đó, tụi con có cảm tưởng như là Mẹ muốn trút tất cả phẫn hận, tất cả đau khổ và bất hạnh của đời Mẹ lên người của tụi con!

-Con nên biết rằng trên đời không ai thương con bằng Mẹ! Người Việt mình có câu “Thương cho roi cho vọt; ghét cho ngọt cho ngào”. Nhưng, thời đi học, Ba thoáng đọc đâu đó câu này: "Trong vũ trụ có lắm kỳ quan nhưng kỳ quan đẹp nhất vẫn là trái tim của người mẹ". Và Ba nghĩ rằng Mẹ nặng lời hoặc dùng roi vọt với các con là chỉ với mục đích dạy bảo các con nên người chứ không bao giờ Mẹ có ý định ghét bỏ các con.

Những lời của ông Kiên làm cho Út cảm thấy nặng nơi lồng ngực như các tĩnh mạch đang bị thắt lại. Nếu đúng như lời giải thích của Ba thì Mẹ đáng thương biết dường nào! Mẹ chỉ là nạn nhân của sự giáo dục nệ cổ!

Nhận ra sự xúc động trên nét mặt của Út, ông Kiên hỏi:

-Khi “bond” đã rạn vỡ, mình có thể hàn gắn lại được không, con?

-Dạ được.

-Nếu muốn hàn gắn cái “bond” đã rạn nứt với các con thì những người già như Ba Mẹ phải hành động như thế nào?

-Muốn tạo dựng lại điều gì, bất cứ về tình cảm hay là vật thể, người ta thường tận dụng những điều như tay chơi tennis trứ danh của Mỹ – Arthur Robert Ashe, Jr – đã nói: “Start where you are. Use what you have. Do what you can.”

-Nếu nói như Arthur Robert Ashe Jr. thì những người “rơi” vào trường hợp như Ba Mẹ, mỗi khi cần hoặc nhớ con, gọi điện thoại thăm con thì phải để lại lời nhắn chứ ít khi được nói chuyện với các con. Ngoài ra không còn một phương tiện nào khác để Ba Mẹ được thường xuyên gặp và nói chuyện với các con. Như vậy thì làm thế nào những người già như Ba Mẹ có thể tạo dựng lại cái bond đã tan rã?

-Ba Mẹ cứ muốn tụi con có sự nghiệp vững vàng thì chính cái sự nghiệp đó nó chiếm toàn thời gian của tụi con. Còn câu hỏi của Ba, không ai có thể giải đáp được!

-Đa số người già trên xứ Mỹ đều bị hành xử như các con đã đối xử với Ba Mẹ mà tại sao không ai có thể giải đáp được câu hỏi rất đơn giản của Ba?

-Dad! That’s just the way it is.

Im lặng! Ngày xưa, được tin vợ con của ông vượt biển, ông Kiên lo buồn, nhưng lòng vẫn hy vọng sẽ có ngày được gặp lại. Bây giờ, sau khi nghe những lời bộc trực của đứa con cưng, ông Kiên mới thật sự nhận ra được khoảng cách giữa ông và các con mà – từ khi đến Mỹ – ông cứ cố tình chối bỏ!

ĐIỆP MỸ LINH
https://www.diepmylinh.com/ 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.