Hôm nay,  

Chà Là

21/08/202210:41:00(Xem: 4482)

Truyện ngắn

chala

Sau chuyến road trip ngắn ngày đến Phố Núi Banff, điểm du lịch nổi tiếng của tiểu bang Alberta của tôi, tôi bỗng bị một cơn sốt cao và nhức đầu, khắp chân tay nổi những vết đỏ, hành hạ mấy ngày trời, cuối cùng tôi phải đến phòng Emergency Room của bệnh viện.

 

Nằm vật vã trong căn phòng bé tí, cũng may là khi test nhanh thì không phải Covid (tôi đã chích đầy đủ hai mũi Pfizer), lòng vẫn ngổn ngang những nghĩ suy và lo lắng, thì có hai cô y tá trẻ bước vào, một cô da trắng, có vẻ là người hướng dẫn cho cô còn lại, nhưng do lúc ấy tôi quá mệt nên không nhớ tên khi cô da trắng giới thiệu họ tên của cả hai. Tôi đoán cô còn lại là người Châu Á hoặc Nam Mỹ, nhưng chắc chắn không phải người Việt vì cái họ lạ hoắc nghe qua là quên ngay. Cô nàng chắc mới ra trường, bây giờ đang được theo cô da trắng thực tập trên bệnh nhân là tôi. Nước da nó ngăm ngăm, mầu nâu bóng như trái chà là, và đôi mắt to đen hiền hoà khiến tôi yên tâm, mỉm cười chào. Đại khái cô Da Trắng nói với tôi, là cô Chà Là sẽ lấy mấy ống máu của tôi mang đi thử, tôi cũng gật gù, đưa cánh tay ra hợp tác. Nó bắt đầu chuẩn bị lấy dây thun, kim chích và mấy ống đựng máu, để sẵn sàng trên cái khay ngay đầu giường. Tôi quay mặt nhìn lên tường chờ đợi, thì hỡi ôi, một cái nhói đau tận xương da vì cô Chà Là đâm cây kim vào cánh tay tôi nghe cái rụp, thiếu điều muốn gẫy cây kim, tôi rú lên theo phản xạ tự nhiên, nó luống cuống lắp bắp mấy từ “sorry, sorry” trong khi cô Da Trắng biểu cô Chà Là làm lại. Tôi cố kìm cơn đau, kiên nhẫn chờ đợi thì một lần nữa, cô Chà Là đâm kim vào tay tôi như muốn xé da xé thịt, dù cô Da Trắng reo lên là đã ok, tôi lại la lên vì quá đau, và trong phút giây đó nếu được đạp chân đá cô Chà Là ra cửa tôi cũng làm ngay cho hết cơn đau và bực tức.

 

Tôi giận hờn không thèm nói một lời dù trước khi bước ra khỏi phòng, Chà Là đã cẩn thận kéo tấm mền cho tôi nằm nghỉ và nhẹ nhàng nói “bye” với nụ cười hối lỗi. Rồi thì mấy viên thuốc Advil đã bắt đầu có hiệu quả. Tôi thấy bớt nhức đầu và lim dim mắt tìm giấc ngủ. Đang mơ màng ngon giấc thì linh tính như có ai đứng bên giường, tôi mở mắt thấy Chà Là ngay bên cạnh. Tôi tỏ vẻ khó chịu, nhủ thầm “đồ vô duyên”, rồi đưa mắt dò hỏi thì nó lại ríu rít xin lỗi vì đã làm tôi dở dang “giấc điệp” và thông báo sẽ gắn dây truyền nước vào cánh tay cho tôi. Tôi nhìn khắp phòng, có ý tìm Da Trắng nhưng chẳng thấy đâu, Chà Là hiểu ý tôi và giải thích chỉ có mình nó làm nhiệm vụ này, vì Da Trắng đang bận với một bệnh nhân khác. Tôi lạnh lùng gật đầu, và cũng quay mặt vào tường như lần trước, với tinh thần có thể sẽ có đau đớn đang chờ đợi, còn Chà Là chắc cũng như tôi, từ kinh nghiệm hồi nãy, nó có vẻ cẩn thận hơn, chậm rãi và tỉ mỉ hơn với từng động tác, cuối cùng thì cũng xong, dù chẳng êm ả gì! Tôi tự hỏi, nó là một đứa yếu tay nghề, vì mới ra trường, hay vì hồi đầu đã sơ xuất làm tôi giận dữ đã làm cho nó hồi hộp rụt rè, nên không làm nổi một việc mà người y tá nào cũng thành thạo? Tôi vẫn chẳng nói với nó nửa lời, tiếp tục… giận hờn, cố tìm lại giấc ngủ, trong khi nó dọn dẹp đồ nghề, khi rời khỏi phòng còn chúc tôi ngủ ngon.

 

Lần này thì tôi ngủ ngon thật, cũng phải một vài tiếng sau mới tỉnh dậy khi trời sập tối, một cô y tá khác tươi cười bước vào đo nhiệt độ và mang cho tôi khay thức ăn. Tôi ăn chút bánh mì với peanut butter, một ly nước cam và thấy tỉnh táo hơn, trả lời mấy câu hỏi của cô y tá thật thoải mái. Tôi chợt nhớ đến Chà Là và thấy mình đã hơi bất công với nó. Chắc tại nó xuất hiện không đúng nơi, đúng lúc, khi mà tôi mới nhập viện trong cơn đau hành hạ, tinh thần còn nhiều bất ổn, lo sợ, mà nó thì lại vụng về gây mất thiện cảm nơi tôi chăng? Giờ thì cơn đau đã bớt nhiều, mọi việc cũng đã ổn định khi bác sĩ cho biết tôi bị insect bites gây nhiễm độc trên da, tôi mới có dịp nhớ lại thái độ của mình với Chà Là và áy náy, tự giận mình vô cùng.

 

Nó nào có lỗi gì đâu chứ, ngoài cái thiếu kinh nghiệm của một cô gái trẻ mới ra trường? Tôi nhớ đến con gái của mình, cũng đang làm y tá ở thành phố bên cạnh. Nó đã kể cho tôi nghe những câu chuyện vui, hoặc chuyện xúc động của các bệnh nhân, nói chung là những kỷ niệm đẹp, vậy mà giờ đây tôi vừa cho Chà Là một “kỷ niệm xấu”, chắc hẳn nó đang buồn lắm.

 

Cả đêm hôm ấy, tôi ngủ chập chờn, chỉ mong mau tới sáng để gặp Chà Là, chắc chắn tôi sẽ mỉm cười trước, (để bù lại cái khuôn mặt chắc là xấu xí, khó ưa của tôi khi nổi giận), rồi sẽ hỏi thăm thân mật và mong nó hiểu cho tâm trạng của tôi.

 

Trời sáng dần, bên ngoài các y tá, bác sĩ bắt đầu rộn ràng qua lại, mới 5 giờ sáng mà họ chộn rộn với những hồ sơ thăm bệnh, đi hỏi han từng giường. Một cô y tá bước vào để đo nhiệt độ và lấy máu một lần nữa theo lệnh của bác sĩ. Cô này có vẻ đứng tuổi, dễ gần gũi, nên tôi tính hỏi về Chà Là nhưng chẳng biết hỏi làm sao khi tôi không hề nhớ tên thật của nó. Còn nếu nói chung chung là người “da màu” làm ở đây chiều qua, thì liệu cô này có biết không?

 

Cứ như thế, suốt một buổi sáng đến tối, khi thì có người mang thuốc và thức ăn trưa vào phòng, khi thì người khác vào chuyển tôi qua phòng chờ CT scan, khi thì cô y tá ban sáng trở lại, tôi luôn hỏi thăm về Chà Là, ai cũng mơ hồ suy đoán, và cho câu trả lời giống nhau, rằng có thể hôm nay nó làm ca chiều, nhưng nó có được phân công vào phòng của tôi hay không thì không chắc, bởi mỗi ngày các y tá được điều đi bất cứ phòng nào mà bác sĩ cần. Tôi lại “ăn không ngon, ngủ không yên”, lòng nặng trĩu, mong chờ Chà Là xuất hiện nơi cửa phòng với đôi mắt sáng, nụ cười mắc cỡ, và làn da nâu mặn mà.

 

Trưa hôm sau, nhóm bác sĩ quyết định cho tôi về, và cho tôi một cái hẹn với một bác sĩ chuyên môn về da để tiếp tuc theo dõi. Chồng tôi đến mang theo một ít quần áo, vật dụng cá nhân cho tôi. Tôi hớn hở dọn dẹp phòng của mình, rồi chần chừ nơi hành lang để tìm Chà Là, chồng tôi đã nghe tôi kể lại câu chuyện, liền kết tội tôi:

 

– Vậy là em racist rồi đấy, thấy nó da màu rồi… ăn hiếp.

 

– Không! Không! Vạn lần không, em xin thề! Vì nó làm em đau, thì dù là da trắng da đen hay da đỏ da vàng, em cũng sẽ vẫn… nổi sùng!!!

 

Hai vợ chồng đi bộ ra ngoài sân bệnh viện, tôi hít một hơi đầy lồng ngực không khí tươi mát sau ba ngày quanh quẩn với mùi cồn, mùi thuốc, mùi… bệnh nhân, thì nghe tiếng bước chân chạy phía sau chúng tôi, dồn dập cùng với tiếng gọi:

 

– Mrs. Nguyen… Mrs. Nguyen!

Chúng tôi cùng quay đầu lại, bất ngờ, vì đó chính là Chà Là. Nó chạy đến, trao cho tôi cái dây charge iphone, hổn hển nói:

 

– Tôi đến phòng chuẩn bị vào ca mới, thì thấy cô để quên cái này, liền chạy theo đưa lại cho cô, vì nó cũng khá mắc tiền, mà về nhà không có nó cũng mệt lắm đấy!

 

Tôi hiểu ra sự tình, khi nãy lúc ra về, tôi đã không nhìn thấy dây charge vì đêm qua tôi cắm nó ở góc tường, khuất phía sau bàn ăn. Cái dây charge chỉ vài chục đồng, nhưng quả thật là phiền phức nếu không có nó để xài.

 

Chồng tôi nhanh nhẩu cám ơn Chà Là, trong khi tôi say sưa ngắm nó: mắt long lanh, nụ cười hiền, và bây giờ dưới ánh sáng bên ngoài, tôi còn thấy hàm răng nó rất trắng và đều đặn, nổi bật giữa làn da nâu làm cho khuôn mặt nó thêm dễ thương dễ mến. Nó nhìn chúng tôi xua tay, ý nói là không có chi, rồi vội bước đi, không quên chúc tôi giữ gìn sức khoẻ và bằng an. Tôi ngỡ ngàng chưa kịp nói gì, chỉ biết nhìn theo dáng nhỏ bé khuất sau cánh cửa kiếng của bệnh viện, trước khi vào trong, nó quay nhìn lại chúng tôi, vẫy tay ríu rít.  Nắng chiều rực rỡ, phản chiếu trên mái tóc nó những vệt sáng và bộ đồng phục y tá nhìn xa như chiếc áo thiên thần, tôi cũng đưa hai tay lên chào lại nó.

 

Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa xin lỗi và hỏi tên thật của Chà Là!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lẽ ra nàng cũng muốn yên thân sau khi đất nước thống nhất một mối. Nhưng số cô truân chuyên, năm 76 đậu vào ĐHSP ban Anh Văn, học chỉ được nửa năm thì nhận được tờ quyết định cho nghỉ học vì lý lịch bằng giấy pelure xanh mỏng tanh mà thay đổi một phận người. Cô không bỏ cuộc, về lại địa phương miệt mài đi lao động rồi sang năm thi lại CĐSP AV, xong hai năm học nàng cũng không được bổ nhiệm vì lý lịch. Biết không còn đất dung thân trên chính quê hương mình nên cô và các em đã mơ đến một phương trời xa.
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.