Hôm nay,  

Chà Là

21/08/202210:41:00(Xem: 4358)

Truyện ngắn

chala

Sau chuyến road trip ngắn ngày đến Phố Núi Banff, điểm du lịch nổi tiếng của tiểu bang Alberta của tôi, tôi bỗng bị một cơn sốt cao và nhức đầu, khắp chân tay nổi những vết đỏ, hành hạ mấy ngày trời, cuối cùng tôi phải đến phòng Emergency Room của bệnh viện.

 

Nằm vật vã trong căn phòng bé tí, cũng may là khi test nhanh thì không phải Covid (tôi đã chích đầy đủ hai mũi Pfizer), lòng vẫn ngổn ngang những nghĩ suy và lo lắng, thì có hai cô y tá trẻ bước vào, một cô da trắng, có vẻ là người hướng dẫn cho cô còn lại, nhưng do lúc ấy tôi quá mệt nên không nhớ tên khi cô da trắng giới thiệu họ tên của cả hai. Tôi đoán cô còn lại là người Châu Á hoặc Nam Mỹ, nhưng chắc chắn không phải người Việt vì cái họ lạ hoắc nghe qua là quên ngay. Cô nàng chắc mới ra trường, bây giờ đang được theo cô da trắng thực tập trên bệnh nhân là tôi. Nước da nó ngăm ngăm, mầu nâu bóng như trái chà là, và đôi mắt to đen hiền hoà khiến tôi yên tâm, mỉm cười chào. Đại khái cô Da Trắng nói với tôi, là cô Chà Là sẽ lấy mấy ống máu của tôi mang đi thử, tôi cũng gật gù, đưa cánh tay ra hợp tác. Nó bắt đầu chuẩn bị lấy dây thun, kim chích và mấy ống đựng máu, để sẵn sàng trên cái khay ngay đầu giường. Tôi quay mặt nhìn lên tường chờ đợi, thì hỡi ôi, một cái nhói đau tận xương da vì cô Chà Là đâm cây kim vào cánh tay tôi nghe cái rụp, thiếu điều muốn gẫy cây kim, tôi rú lên theo phản xạ tự nhiên, nó luống cuống lắp bắp mấy từ “sorry, sorry” trong khi cô Da Trắng biểu cô Chà Là làm lại. Tôi cố kìm cơn đau, kiên nhẫn chờ đợi thì một lần nữa, cô Chà Là đâm kim vào tay tôi như muốn xé da xé thịt, dù cô Da Trắng reo lên là đã ok, tôi lại la lên vì quá đau, và trong phút giây đó nếu được đạp chân đá cô Chà Là ra cửa tôi cũng làm ngay cho hết cơn đau và bực tức.

 

Tôi giận hờn không thèm nói một lời dù trước khi bước ra khỏi phòng, Chà Là đã cẩn thận kéo tấm mền cho tôi nằm nghỉ và nhẹ nhàng nói “bye” với nụ cười hối lỗi. Rồi thì mấy viên thuốc Advil đã bắt đầu có hiệu quả. Tôi thấy bớt nhức đầu và lim dim mắt tìm giấc ngủ. Đang mơ màng ngon giấc thì linh tính như có ai đứng bên giường, tôi mở mắt thấy Chà Là ngay bên cạnh. Tôi tỏ vẻ khó chịu, nhủ thầm “đồ vô duyên”, rồi đưa mắt dò hỏi thì nó lại ríu rít xin lỗi vì đã làm tôi dở dang “giấc điệp” và thông báo sẽ gắn dây truyền nước vào cánh tay cho tôi. Tôi nhìn khắp phòng, có ý tìm Da Trắng nhưng chẳng thấy đâu, Chà Là hiểu ý tôi và giải thích chỉ có mình nó làm nhiệm vụ này, vì Da Trắng đang bận với một bệnh nhân khác. Tôi lạnh lùng gật đầu, và cũng quay mặt vào tường như lần trước, với tinh thần có thể sẽ có đau đớn đang chờ đợi, còn Chà Là chắc cũng như tôi, từ kinh nghiệm hồi nãy, nó có vẻ cẩn thận hơn, chậm rãi và tỉ mỉ hơn với từng động tác, cuối cùng thì cũng xong, dù chẳng êm ả gì! Tôi tự hỏi, nó là một đứa yếu tay nghề, vì mới ra trường, hay vì hồi đầu đã sơ xuất làm tôi giận dữ đã làm cho nó hồi hộp rụt rè, nên không làm nổi một việc mà người y tá nào cũng thành thạo? Tôi vẫn chẳng nói với nó nửa lời, tiếp tục… giận hờn, cố tìm lại giấc ngủ, trong khi nó dọn dẹp đồ nghề, khi rời khỏi phòng còn chúc tôi ngủ ngon.

 

Lần này thì tôi ngủ ngon thật, cũng phải một vài tiếng sau mới tỉnh dậy khi trời sập tối, một cô y tá khác tươi cười bước vào đo nhiệt độ và mang cho tôi khay thức ăn. Tôi ăn chút bánh mì với peanut butter, một ly nước cam và thấy tỉnh táo hơn, trả lời mấy câu hỏi của cô y tá thật thoải mái. Tôi chợt nhớ đến Chà Là và thấy mình đã hơi bất công với nó. Chắc tại nó xuất hiện không đúng nơi, đúng lúc, khi mà tôi mới nhập viện trong cơn đau hành hạ, tinh thần còn nhiều bất ổn, lo sợ, mà nó thì lại vụng về gây mất thiện cảm nơi tôi chăng? Giờ thì cơn đau đã bớt nhiều, mọi việc cũng đã ổn định khi bác sĩ cho biết tôi bị insect bites gây nhiễm độc trên da, tôi mới có dịp nhớ lại thái độ của mình với Chà Là và áy náy, tự giận mình vô cùng.

 

Nó nào có lỗi gì đâu chứ, ngoài cái thiếu kinh nghiệm của một cô gái trẻ mới ra trường? Tôi nhớ đến con gái của mình, cũng đang làm y tá ở thành phố bên cạnh. Nó đã kể cho tôi nghe những câu chuyện vui, hoặc chuyện xúc động của các bệnh nhân, nói chung là những kỷ niệm đẹp, vậy mà giờ đây tôi vừa cho Chà Là một “kỷ niệm xấu”, chắc hẳn nó đang buồn lắm.

 

Cả đêm hôm ấy, tôi ngủ chập chờn, chỉ mong mau tới sáng để gặp Chà Là, chắc chắn tôi sẽ mỉm cười trước, (để bù lại cái khuôn mặt chắc là xấu xí, khó ưa của tôi khi nổi giận), rồi sẽ hỏi thăm thân mật và mong nó hiểu cho tâm trạng của tôi.

 

Trời sáng dần, bên ngoài các y tá, bác sĩ bắt đầu rộn ràng qua lại, mới 5 giờ sáng mà họ chộn rộn với những hồ sơ thăm bệnh, đi hỏi han từng giường. Một cô y tá bước vào để đo nhiệt độ và lấy máu một lần nữa theo lệnh của bác sĩ. Cô này có vẻ đứng tuổi, dễ gần gũi, nên tôi tính hỏi về Chà Là nhưng chẳng biết hỏi làm sao khi tôi không hề nhớ tên thật của nó. Còn nếu nói chung chung là người “da màu” làm ở đây chiều qua, thì liệu cô này có biết không?

 

Cứ như thế, suốt một buổi sáng đến tối, khi thì có người mang thuốc và thức ăn trưa vào phòng, khi thì người khác vào chuyển tôi qua phòng chờ CT scan, khi thì cô y tá ban sáng trở lại, tôi luôn hỏi thăm về Chà Là, ai cũng mơ hồ suy đoán, và cho câu trả lời giống nhau, rằng có thể hôm nay nó làm ca chiều, nhưng nó có được phân công vào phòng của tôi hay không thì không chắc, bởi mỗi ngày các y tá được điều đi bất cứ phòng nào mà bác sĩ cần. Tôi lại “ăn không ngon, ngủ không yên”, lòng nặng trĩu, mong chờ Chà Là xuất hiện nơi cửa phòng với đôi mắt sáng, nụ cười mắc cỡ, và làn da nâu mặn mà.

 

Trưa hôm sau, nhóm bác sĩ quyết định cho tôi về, và cho tôi một cái hẹn với một bác sĩ chuyên môn về da để tiếp tuc theo dõi. Chồng tôi đến mang theo một ít quần áo, vật dụng cá nhân cho tôi. Tôi hớn hở dọn dẹp phòng của mình, rồi chần chừ nơi hành lang để tìm Chà Là, chồng tôi đã nghe tôi kể lại câu chuyện, liền kết tội tôi:

 

– Vậy là em racist rồi đấy, thấy nó da màu rồi… ăn hiếp.

 

– Không! Không! Vạn lần không, em xin thề! Vì nó làm em đau, thì dù là da trắng da đen hay da đỏ da vàng, em cũng sẽ vẫn… nổi sùng!!!

 

Hai vợ chồng đi bộ ra ngoài sân bệnh viện, tôi hít một hơi đầy lồng ngực không khí tươi mát sau ba ngày quanh quẩn với mùi cồn, mùi thuốc, mùi… bệnh nhân, thì nghe tiếng bước chân chạy phía sau chúng tôi, dồn dập cùng với tiếng gọi:

 

– Mrs. Nguyen… Mrs. Nguyen!

Chúng tôi cùng quay đầu lại, bất ngờ, vì đó chính là Chà Là. Nó chạy đến, trao cho tôi cái dây charge iphone, hổn hển nói:

 

– Tôi đến phòng chuẩn bị vào ca mới, thì thấy cô để quên cái này, liền chạy theo đưa lại cho cô, vì nó cũng khá mắc tiền, mà về nhà không có nó cũng mệt lắm đấy!

 

Tôi hiểu ra sự tình, khi nãy lúc ra về, tôi đã không nhìn thấy dây charge vì đêm qua tôi cắm nó ở góc tường, khuất phía sau bàn ăn. Cái dây charge chỉ vài chục đồng, nhưng quả thật là phiền phức nếu không có nó để xài.

 

Chồng tôi nhanh nhẩu cám ơn Chà Là, trong khi tôi say sưa ngắm nó: mắt long lanh, nụ cười hiền, và bây giờ dưới ánh sáng bên ngoài, tôi còn thấy hàm răng nó rất trắng và đều đặn, nổi bật giữa làn da nâu làm cho khuôn mặt nó thêm dễ thương dễ mến. Nó nhìn chúng tôi xua tay, ý nói là không có chi, rồi vội bước đi, không quên chúc tôi giữ gìn sức khoẻ và bằng an. Tôi ngỡ ngàng chưa kịp nói gì, chỉ biết nhìn theo dáng nhỏ bé khuất sau cánh cửa kiếng của bệnh viện, trước khi vào trong, nó quay nhìn lại chúng tôi, vẫy tay ríu rít.  Nắng chiều rực rỡ, phản chiếu trên mái tóc nó những vệt sáng và bộ đồng phục y tá nhìn xa như chiếc áo thiên thần, tôi cũng đưa hai tay lên chào lại nó.

 

Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa xin lỗi và hỏi tên thật của Chà Là!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.