Hôm nay,  

Nước tràn ly

16/11/202309:53:00(Xem: 2948)
Truyện

minh hoa truyen Nuoc Tran Ly

Tạ Đình Tới kết hôn với chị Nghiêm Thị Bình đã được hơn mười năm. Anh là một công chức. Chị làm nhân viên bưu điện thành phố. Anh chị có với nhau bốn đứa con ba gái, một trai, đủ nếp đủ tẻ. Anh chị đều hưởng lương nhà nước. Như vậy xem ra cũng là một gia đình căn bản, tài chính ổn định, học thức tương đương. Hai gia đình nội ngoại cân xứng. Chị phúc hậu, vẻ đẹp đầy đặn, mặn mà của phụ nữ đã chín chắn. Hằng ngày chị đi làm chăm chỉ. Về nhà lo chợ đò cơm nước, chăm sóc con cái. Các cháu xinh xắn, ngoan, chăm học. Anh chị có căn nhà rộng rãi xây kiểu ba gian trong khu vườn nhỏ đầy hoa trái. Giờ rảnh, chị trồng trọt, khu vườn lúc nào cũng xanh mướt với nhiều cây ăn quả và rau trái. Chị còn nuôi thêm đàn gà vịt để lấy trứng góp phần bổ sung vào nguồn thực phẩm cho gia đình.
    Anh là một người đàn ông (điều đó hẳn rồi) nhưng cái tính của anh giống đàn bà hơn! Mặc dù người anh không nữ tính mà đầy xương xẩu với khuôn mặt góc cạnh, má hóp. Do đã rụng bớt vài cái răng mà anh tiếc tiền không chịu trồng. Anh bảo: "Anh là người ít khi cười, chẳng ai thấy “hàng tiền đạo”. Có lỡ cười khi ai nói gì hay thì bụm miệng lại là được, cần gì trồng cho tụi nha nó có cơ hội chặt chém!" Thân hình anh cao ráo nhưng ốm và khô nên trông anh lúc nào cũng lọt thỏm trong bộ áo quần công chức. Anh năm nay đã bước vào độ tuổi ngũ tuần.
    Chị thì kém anh 5 tuổi. Chị được phân công phụ trách một quầy bưu điện ngay khu chợ của xóm tôi, cạnh con lộ xe cộ đi lại tấp nập. Mỗi lần anh đi đâu đó ngang qua trước văn phòng làm việc của chị, tối về nhà thể nào anh cũng cật vấn: “Hôm nay, tôi thấy bà mời một ông khách ăn hạt dưa, ra vẻ thân mật lắm nhỉ!” Khi thì anh bảo: “Sáng nay lại còn nhăn răng ra cười với khách nữa! Cười gì vậy? Vui lắm à! Hay là cười tình, ve vãn đàn ông!”
    Chị bảo:
    “Anh buồn cười thật! Khách đến bưu điện giao dịch thì mình phải niềm nở. Hồi em vào ngành người ta dạy: “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” mà! Khách tới làm việc mà cái mặt bí xị thì chẳng khác nào đuổi khách. Còn tết, cơ quan có sẵn hạt dưa, mứt, khách hàng tới, mình vui vẻ mời người ta ăn chút có sao đâu! Mà anh cũng nên cười lên cho vui vẻ. Ai cấm anh cười đâu nào!”
    Thế nhưng anh vẫn vẻ mặt hầm hầm. Đi ra đá cái cái ghế, đi vô chằn cái ly nước trên bàn thật mạnh, “quăng thúng đụng nia” chị giật hết cả mình.
    Vẫn thái độ “mặt nặng mày nhẹ” anh nói: “Có chồng rồi là ra đường phải nghiêm túc, không được cười cợt với thằng nào nha! Tôi không thích vậy!”
    Chị không nói gì nữa lẳng lặng làm việc mà nghe lòng mình cay đắng dâng lên khóe mắt rưng rức. Trong nhà, mỗi lần mua sắm gì anh cũng bảo chia hai mỗi người chịu một nửa. Tiền lương anh cất riêng. Ví như mua cái nồi cơm điện giá 400.000 đồng thì chia người 200.000 đồng. Có lần sắm một cái giường gỗ giá 5 triệu. Anh nói: “Cái này bà phải chịu 3 triệu, tui 2 triệu vì bà hay ở nhà, nằm nhiều hơn tôi!” Đó, lý lẽ của anh là vậy và luôn vậy. Tất cả chị đều nín nhịn mặc dù cũng có khuyên nhủ ít nhiều nhưng xem ra không thấm vào đâu. Chị cay đắng, nuốt buồn vào trong, chịu đựng ngày này qua tháng khác để lo cho các con. Một hôm anh về nhà tuyên bố một câu xanh rờn:
    “Giờ tôi muốn ly thân! Vì tôi đã tìm được tình yêu đích thực của đời mình. Cô ấy trẻ hơn bà, hấp dẫn hơn, cuồng nhiệt hơn bà!”
    Chị nghẹn lời để mặc nước mắt lả chả rơi! Tình mới của anh là một cô bé trẻ bằng tuổi con bé đầu của anh chị! Chị nhắm mắt đưa chân mặc anh muốn làm gì thì làm. Không còn lựa chọn nào hơn! Vì chị có đồng ý hay không thì anh cũng đã quyết rồi! Anh thỏa thuận chia chác tài sản với chị rồi khăn gói ra đi xây tổ uyên ương mới. Cũng là lúc cơ quan đuổi việc anh vì lý do vi phạm luật hôn nhân gia đình. Anh sống với cô vợ trẻ ở một căn phòng trọ ngoại ô thuộc huyện Cần Giờ. Cô vợ trẻ hơi bị tật ở chân, dáng đi chấm phẩy. Cô lớn lên từ trại tình thương. Không có gia đình bên ngoại nên anh mới dễ dàng tán tỉnh cô bé. Họ có với nhau một đứa con nhỏ đã hơn một tuổi. Từ đó ngày ngày anh lăn lộn kiếm sống để nuôi con.
    Bẵng đi mấy năm tôi không thấy chị ở quầy bưu điện nữa. Tình cờ gặp chị ở chợ hoa ngày tết. Chị kể là anh chị đã li dị. Anh có mái ấm riêng. Các con lớn nay đã lập gia đình. Chị giờ cũng thảnh thơi, có hội hưu trí hay đi cà phê với nhau. May mắn gặp được tri kỷ của đời mình. Anh Nguyễn Đình Yên sống độc thân. Vợ anh mất đã lâu, các con trưởng thành ra riêng. Nay anh chị sống vui vẻ bên nhau, thỉnh thoảng đi du lịch đây đó.
    Vậy là sau những va đập nhỏ to của cuộc sống hôn nhân chênh lệch cá tính. Và sau cùng là anh phụ rẫy chị như “giọt nước tràn ly”. À không! Chậu nước hắt lên đổ tràn ly. Ly nước vốn đã chất chứa nhiều chịu đựng cũng đến lúc phải tràn dù không mong muốn đổ vỡ.
    Thôi vậy cũng mừng cho chị được giải thoát. Chị cũng đã làm tròn vai trò làm mẹ, các con trưởng thành, có gia đình riêng. Chị cũng đã tìm được niềm vui chặng cuối đường, tuổi xế chiều mong chị có cuộc sống yên bình, thoải mái, dễ chịu hơn!
 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.
Đọc xong email của Cathy, Khôi mỉm cười khoan khoái, bước xuống phòng khách pha cho mình ly cà phê nóng của buổi sáng cuối tuần. Trời đã cuối Thu, những chiếc lá khô cuối cùng lao xao đuổi nhau theo những cơn gió nhẹ trên mặt đường, tạo nên một âm thanh vui tai. Hàng cây khô trụi lá khẳng khiu đang rung rinh trước gió, chuẩn bị cho những ngày đông dài sắp tới. Khung cảnh thật bình yên. Bình yên như tâm hồn Khôi sau những tháng ngày băn khoăn, ray rứt đã qua.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.